Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội khóa 14 đã ban hành Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐND ngày 8/7/2015 về “Một số chính sách thực hiện Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-
NGUYỄN MINH TUÂN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH - NGHIÊN CỨU TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI – 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-
NGUYỄN MINH TUÂN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG CẤP TỈNH - NGHIÊN CỨU TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Khoa học quản lý
Mã số: 9310110_QL
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Người hướng dẫn khoa học:
HÀ NỘI – 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2021
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Minh Tuân
Trang 4Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo khoa Khoa học Quản lý, Ban lãnh đạo, các cán bộ của Viện Đào tạo sau đại học – Trường Kinh tế Quốc dân đã có những góp
ý về mặt khoa học, có những trợ giúp về mặt quy trình, thủ tục để tôi hoàn thành luận án
Tôi xin cảm ơn gia đình đã chia sẻ, động viên và tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận án
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã luôn tin tưởng ủng hộ tôi hoàn thành luận án
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH ix
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 6
1.1 Các nghiên cứu về phát triển nông nghiệp công nghệ cao 6
1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài về phát triển nông nghiệp công nghệ cao 6
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước về phát triển nông nghiệp công nghệ cao 9
1.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý nhà nước đối với phát triển nông nghiệp công nghệ cao 16
1.2.1 Các nghiên cứu nước ngoài về quản lý nhà nước đối với phát triển nông nghiệp công nghệ cao 16
1.2.2 Các nghiên cứu trong nước về quản lý nhà nước đối với phát triển nông nghiệp công nghệ cao 17
1.3 Khoảng trống nghiên cứu 21
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO 23
2.1 Các vấn đề chung về quản lý nhà nước của chính quyền cấp tỉnh về phát triển nông nghiệp công nghệ cao 23
2.1.1 Nông nghiệp công nghệ cao và nội hàm của phát triển nông nghiệp công nghệ cao 23
2.1.2 Mục tiêu, quan niệm và yêu cầu của quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp công nghệ cao của chính quyền địa phương cấp tỉnh 30
2.2 Nội dung quản lý nhà nước của chính quyền cấp tỉnh về phát triển nông nghiệp công nghệ cao 37
Trang 62.2.1 Ban hành và phổ biến quy hoạch, chương trình cơ chế chính sách 37
2.2.2 Tổ chức thực hiện quy hoạch, chương trình và chính sách 39
2.2.3 Kiểm tra giám sát nhằm kịp thời điều tiết các thất bại của thị trường trong quá trình thực hiện qui hoạch, chương trình và các chính sách 41
2.2.4 Tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp CNC 42
2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp công nghệ cao của chính quyền địa phương cấp tỉnh 44
2.3.1 Đặc điểm kinh tế xã hội của địa phương và xu hướng phát triển của KHCN và ngành nông nghiệp 44
2.3.2 Nhóm các nhân tố liên quan đến thể chế và cơ chế chính sách 45
2.3.3 Năng lực và thái độ làm việc của cán bộ trong các cơ quan quản lý nhà nước 47
2.3.4 Sự phối hợp của các chủ thể tham gia phát triển nông nghiệp CNC (Nhà nước, người dân, doanh nghiệp và cơ quan nghiên cứu) 47
2.3.5 Nhóm các yếu tố đầu vào phát triển nông nghiệp CNC 48
2.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở trong nước và trên thế giới 50
2.4.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp CNC của Trung Quốc 50
2.4.2 Kinh nghiệm của Israel 53
2.4.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp CNC của một số nước Châu Á khác 55
2.4.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp công nghệ cao của thành phố Hồ Chí Minh 60
2.4.5 Bài học đối với Hà Nội trong quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp công nghệ cao 63
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO 65
3.1 Bối cảnh nghiên cứu 65
3.1.1 Đặc điểm kinh tế xã hội của thành phố Hà Nội 65
3.1.2 Về đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội 67
3.1.3 Về đặc điểm dân số và lao động của thành phố Hà Nội 69
3.2 Cách tiếp cận, phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu 70
Trang 73.2.1 Cách tiếp cận nghiên cứu 703.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 723.2.3 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 77
CHƯƠNG 4 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA CHÍNH QUYỀN HÀ NỘI VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO 78 4.1 Động thái phát triển nông nghiệp CNC của thành phố Hà Nội trong thời gian qua 78 4.2 Thực trạng quản lý nhà nước của chính quyền Hà Nội đối với phát triển nông nghiệp công nghệ cao 85
4.2.1 Thực trạng việc ban hành quy hoạch, chương trình và mục tiêu phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại thành phố Hà Nội 854.2.2 Thực trạng tổ chức thực hiện các chính sách phát triển nông nghiệp công nghệ cao của Thành phố Hà Nội 924.2.3 Thực trạng giám sát và khắc phục các thất bại của thị trường 112
4.3 Đánh giá chung về quản lý nhà nước đối với phát triển nông nghiệp CNC của chính quyền Hà Nội 120
4.3.1 Thành công chủ yếu 1204.3.2 Hạn chế của quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp công nghệ cao của Thành phố Hà Nội 122
CHƯƠNG 5 MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI TRONG THỜI GIAN TỚI 130 5.1 Mục tiêu, quan điểm, định hướng về phát triển nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn Hà Nội 130
5.1.1 Mục tiêu, quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển nông nghiệp công nghệ cao 1305.1.2 Quan điểm quản lý nhà nước phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Hà Nội 131
5.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp công nghệ cao 133
5.2.1 Rà soát quy hoạch, chiến lược, chương trình, kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao 133
Trang 85.2.2 Hoàn thiện cơ chế chính sách tạo điều kiện đầu vào cho phát triển nông
nghiệp CNC 134
5.2.3 Các giải pháp về tổ chức thực hiện quy hoạch, chương trình, chính sách phát triển nông nghiệp công nghệ cao 138
5.2.4 Giải pháp về kiểm soát và khắc phục tốt các thất bại của thị trường 140
5.2.5 Các giải pháp khác 140
5.3 Kiến nghị với Trung ương và các bộ ngành liên quan 144
KẾT LUẬN 146
NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 147
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 148
PHỤ LỤC 156
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNC Công nghệ cao CNXH Chủ nghĩa xã hội
KTTĐ Kinh tế trọng điểm
KTXH Kinh tế xã hội
NN Nông nghiệp NNL Nguồn nhân lực
NQ Nghị quyết
NS Ngân sách NSNN Ngân sách nhà nước
NTM Nông thôn mới
NXB Nhà xuất bản PAPI Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công PAR Index Chỉ số Cải cách hành chính
PCI Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PTNT Phát triển nông thôn
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Chỉ tiêu đánh giá quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp CNC 43
Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của Thành phố Hà Nội 66
Bảng 3.2: Kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối phân theo năm của thành phố Hà Nội 67
Bảng 3.3 Thực trạng đất nông nghiệp của Hà Nội, 01/01/2019 68
Bảng 3.4 Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản của Hà Nội, 2015-2019 68
Bảng 3.5 Cơ cấu dân số, lao động nông nghiệp, nông thôn của Hà Nội, 2015-2019 69
Bảng 3.6 Dự báo lao động thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng 2030 70
Bảng 3.7 Tổng hợp số lượng mẫu phỏng vấn sâu 73
Bảng 3.8 Thông tin về đối tượng trả lời phiếu điều tra 75
Bảng 4.1: So sánh kết quả phát triển nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn Thành phố Hà Nội 78
Bảng 4.2 Số lượng mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của Hà Nội theo lĩnh vực năm 2020 80
Bảng 4.3 Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội của các mô hình nông nghiệp CNC được khảo sát tại Hà Nội 81
Bảng 4.4 Doanh thu thuần và thu nhập bình quân của người lao động của các doanh nghiệp, HTX thuộc lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản của Hà Nội 81
Bảng 4.5: Kết quả qui hoạch các khu/vùng nông nghiệp CNC ở Hà Nội 88
Bảng 4.6 Diện tích đất các khu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao được quy hoạch trên địa bàn Hà Nội tính đến năm 2020 89
Bảng 4.7 Kết quả khảo sát ý kiến doanh nghiệp, HTX, người dân về quy hoạch, chương trình phát triển nông nghiệp công nghệ cao thành phố Hà Nội 91
Bảng 4.8: Kết quả khảo sát về khả năng tiếp cận các chính sách liên quan đến đất đai để phát triển nông nghiệp CNC 95
Bảng 4.9 Kết quả khảo sát về khả năng tiếp cận và sự phù hợp của các chính sách hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho phát triển NN CNC 101
Bảng 4.10 Nội dung hỗ trợ cơ sở hạ tầng nông nghiệp để phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại một số huyện trên địa bàn Hà Nội 102
Bảng 4.11: Kết quả khảo sát về khả năng tiếp cận và sự phù hợp của các chính sách hỗ trợ vốn và tín dụng cho phát triển nông nghiệp CNC 106
Bảng 4.12 Kết quả khảo sát về khả năng tiếp cận và sự phù hợp của chính sách hỗ trợ đào tạo nâng cao trình độ và tập huấn kỹ thuật 112
Bảng 4.13 Kết quả khảo sát về thủ tục hành chính của các chính sách phát triển nông nghiệp CNC ở Hà Nội 114
Bảng 4.14 Danh mục các dự án nông nghiệp công nghệ cao kêu gọi đầu tư trực tiếp của thành phố Hà Nội giai đoạn 2019-2025 118
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Khung nghiên cứu quản lý nhà nước đối với phát triển nông nghiệp CNC 71Hình 4.1 Số lượng mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của Hà Nội 80Hình 4.2 Lượng vốn đầu tư vào lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản của Hà Nội giai
đoạn 2014-2018 82Hình 4.3 So sánh một số chỉ tiêu kinh tế-xã hội của doanh nghiệp, HTX sản xuất nông
nghiệp CNC và doanh nghiệp, HTX nông, lâm nghiệp và thủy sản 83Hình 4.4 Tỷ lệ lao động nông thôn đã qua đào tạo của Hà Nội, 2015-2019 109Hình 4.5 Chỉ số về dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp của Hà Nội, 2010-2019 119Hình 4.6 Số lượng doanh nghiệp, HTX trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản của
Hà Nội, 2014-2018 121
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của nghiên cứu
Thành phố Hà Nội là một đơn vị hành chính đặc biệt, là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, nơi đặt trụ sở của các cơ quan trung ương, của các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan tổ chức ngoại giao, đại diện các tổ chức quốc tế; là trung tâm lớn về văn hóa, giáo dục, kinh tế, khoa học và công nghệ và giao dịch quốc tế của cả nước Hà Nội có diện tích đất tự nhiên 3.358,92 km2, khu vực nông thôn có diện tích tự nhiên 2.841,8 km 2, chiếm 84,6% diện tích đất tự nhiên của Thành phố; dân số khoảng 10 triệu người đang công tác, cư trú, học tập, trong đó dân số khu vực nông thôn khoảng 4,1 triệu người Hiện nay, Thành phố đang định hướng, tổ chức xây dựng Thành phố thông minh, chính quyền đô thị, do vậy việc phát triển ứng dụng khoa học công nghệ cao là tất yếu trong tất cả các lĩnh vực trong đó có lĩnh vực nông nghiệp Diện tích đất nông nghiệp của Hà Nội khá lớn với 1.886 km2 (188,6 nghìn ha); giá trị sản xuất ngành nông nghiệp năm 2017 đạt 35.133 tỷ đồng Giá trị sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao đạt 25%/ tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp của Thành phố (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội, 2017) Thủ đô Hà Nội hội đủ các yếu tố cần để phát triển nông nghiệp công nghệ cao: Đó là sự gia tăng dân số tạo áp lực lên ngành nông nghiệp với việc cung cấp sản phẩm nông nghiệp; điều kiện tự nhiên thuận lợi về đất đai, thổ dưỡng; nơi có điều kiện về khoa học công nghệ, đan xen giữa phát triển đô thị là phát triển nông nghiệp bảo vệ môi trường kết hợp du lịch sinh thái; nhu cầu tiêu thụ sản phẩm nông sản lớn Công tác quản lý nhà nước của chính quyền Hà Nội đối với phát triển nông nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao đạt được khá nhiều kết quả
Tính đến hết năm 2019 cả nước mới có 45 doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao Số lượng doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao vẫn chưa đạt được như
kỳ vọng bởi vì các doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn về đất đai, vốn, trong khi đây lại là lĩnh vực đòi hỏi chi phí đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài Trong thời gian vừa qua, phát triển nông nghiệp công nghệ cao đã được Thành ủy Hà Nội xác định là nhiệm vụ trọng tâm (Nam Giang, 2018) Chương trình số 02-CTr/TU ngày 26/4/2016 của Thành ủy Hà Nội về “Phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nhân dân giai đoạn 2016-2020”, đã xác định “Phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng ứng dụng khoa học kỹ thuật công nghệ cao” là một trong các nhiệm vụ trọng tâm
Trang 13Bên cạnh đó, các cấp chính quyền của Thành phố Hà Nội cũng luôn khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi nhất để doanh nghiệp, người dân đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao (Đắc Sơn, 2017) Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội khóa
14 đã ban hành Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐND ngày 8/7/2015 về “Một số chính sách thực hiện Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thành phố Hà Nội giai đoạn 2016-2020”, trong đó có quy định chi tiết các mức hỗ trợ cho Doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình tham gia sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Thành phố cũng đã quy hoạch được 9 khu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao và đang kêu gọi đầu tư vào 7 dự án sản xuấtnông nghiệp công nghệ cao với tổng vốn đầu tư 5.200 tỷ đồng.Theo đánh giá của các chuyên gia, tiềm năng đầu tư ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp của Hà Nội là rất rộng mở Trước hết, diện tích đất sản xuất nông nghiệp tương đối lớn, trên 150.000
ha Hà Nội đã thực hiện dồn điền đổi thửa được gần 79.000 ha, đã hình thành nhiều vùng sản xuất nông nghiệp tập trung quy mô lớn, có hạ tầng kỹ thuật về giao thông, thủy lợi khá đồng bộ Đây là điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng công nghệ cao và
cơ giới hóa vào sản xuất Bên cạnh đó, với dân số khoảng 10 triệu người, cùng với lượng khách du lịch gần 30 triệu người (số liệu năm 2019), trong đó có khoảng 7 triệu khách du lịch quốc tế, Hà Nội sẽ là thị trường tiêu thụ nông sản rộng lớn, đặc biệt là đối với các loại nông sản chất lượng cao
Tuy nhiên, mặc dù có lợi là thế trung tâm khoa học công nghệ hàng đầu của cả nước, có nhiều thuận lợi khi tiếp nhận, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất nông nghiệp, phát triển nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn thành phố Hà Nội vẫn chưa đạt được kỳ vọng và chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh Tính đến đầu năm 2020, trên địa bàn Thành phố Hà Nội có 164 mô hình nông nghiệp công nghệ cao, trong đó có 109 mô hình trồng trọt, 40 mô hình chăn nuôi, và 15 mô hình thủy sản Trong các mô hình này chỉ có duy nhất 1 doanh nghiệp được công nhận là doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao là Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Kinoko Thanh Cao ở xã Đốc Tín, huyện Mỹ Đức, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nấm Phần lớn các mô hình còn lại có quy mô nhỏ lẻ và mới dừng lại ở việc ứng dụng từng phần Điều này đã và đang đặt ra yêu cầu cấp bách đối với công tác quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn thành phố Hà Nội để thực hiện mục tiêu
mà Thành phố đã đề ra Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng này là quản lý nhà nước về nông nghiệp CNC chưa chuyên nghiệp, nhiều chính sách chưa đi vào thực tiễn và có tác động tích cực đối với sự phát triển của nông nghiệp CNC trên địa bàn thành phố
Trang 14Bên cạnh đó, về mặt lý thuyết, chủ đề nông nghiệp CNC cũng như phát triển nông nghiệp công nghệ cao đã và đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Tuy nhiên vẫn thiếu vắng một khung lý luận mang tính hệ thống về quản lý nhà nước đối với phát triển nông nghiệp công nghệ cao đặc biệt làm rõ vai trò quản
lý nhà nước của chính quyền cấp tỉnh đối với phát triển nông nghiệp CNC
Vì vậy tôi đã chọn đề tài “Quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp công nghệ cao của chính quyền cấp tỉnh/thành phố - nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hà Nội” làm đề tài luận án tiến sỹ với mục tiêu góp phần nhỏ bé đóng góp và quá trình phát triển Hà Nội thành thành phố thông minh, hiện đại; đáp ứng nhu cầu nông sản sạch, chất lượng đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng, phù hợp với việc định hướng phát triển của Thành phố, làm địa phương điển hình về phát triển nông nghiệp công nghệ cao của khu vực đồng bằng sông Hồng và cả nước
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu tổng quát:
Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước của chính quyền cấp tỉnh đối với phát triển nông nghiệp CNC trên địa bàn thành phố Hà Nội nhằm đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước của chính quyền thành phố
Hà Nội đối với phát triển nông nghiệp CNC trong thời gian tới
Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá tổng quan về các nghiên cứu lý thuyết, thực nghiệm trên thế giới và tại Việt Nam về quản lý nhà nước đối với phát triển nông nghiệp nói chung và công nghệ cao nói riêng từ đó làm rõ khoảng trống nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nhà nước của chính quyền cấp tỉnh/thành phố đối với sự phát triển nông nghiệp công nghệ cao; Làm rõ nội hàm của quản lý nhà nước của chính quyền địa phương cấp tỉnh trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao nói chung và đặc thù của thành phố Hà Nội nói riêng
- Phân tích thực trạng quản lý nhà nước của chính quyền cấp thành phố về phát triển nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn thành phố Hà Nội chỉ rõ thành công, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế
- Đề xuất quan điểm, định hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp công nghệ cao thành phố Hà Nội trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu
Cơ sở lý luận, thực tiễn và thực trạng quản lý nhà nước của chính quyền địa phương cấp tỉnh đối với phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở thành phố Hà Nội
Trang 15Về quản lý nhà nước, luận án không nghiên cứu quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp nói chung mà chỉ tập trung nghiên cứu khía cạnh quản lý nhà nước đối với phát triển nông nghiệp công nghệ cao Riêng nội hàm của quản lý nhà nước cũng rất rộng liên quan đến các chức năng quản lý nhà nước của chính quyền cấp tỉnh trên địa bàn thành phố Hà Nội đối với phát triển nông nghiệp CNC nên không thể nghiên cứu tất cả các khía cạnh đó trong luận án này Trong thời gian và điều kiện có hạn, phạm vi nội dung của luận án chỉ tập trung vào các vấn đề sau:
(i) Về công tác xây dựng và ban hành quy hoạch/chương trình và chính sách phát triển nông nghiệp CNC, luận án sẽ chỉ tập trung vào việc đánh giá kết quả của việc ban hành, phổ biến qui hoạch các khu/vùng nông nghiệp CNC, chương trình phát triển nông nghiệp CNC đã được thành phố phê duyệt Luận án không nghiên cứu quá trình xây dựng qui hoạch, quá trình xây dựng các chương trình và chính sách liên quan đến phát triển nông nghiệp CNC
(ii) Về công tác tổ chức thực hiện các qui hoạch, chính sách phát triển nông nghiệp CNC luận án không nghiên cứu kết quả thực hiện tất cả các chính sách mà chỉ
tập trung nghiên cứu kết quả triển khai tổ chức thực hiện (qua 3 khía cạnh chính là mức
độ biết đến chính sách, mức độ tiếp cận được chính sách và mức độ phù hợp của chính sách) của 4 chính sách chính như: chính sách hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, chính sách
hỗ trợ tín dụng và ưu đãi vay vốn, chính sách hỗ trợ đất đai, chính sách hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực trong các chương trình phát triển nông nghiệp CNC đã được thành phố
Hà Nội phê duyệt trong thời gian qua; Việc triển khai thực hiện các chính sách liên quan khác hoặc các kế hoạch, chương trình công tác của UBND và các bên có liên quan để tổ chức thực hiện chính sách cũng không được nghiên cứu trong luận án này
Trang 16(iii) Về công tác kiểm tra giám sát, luận án tập trung nghiên cứu các hoạt động kiểm tra giám sát nhằm điều chỉnh các thất bại của thị trường trong quá trình thực hiện
chính sách phát triển nông nghiệp công nghệ cao thông qua hai chỉ số là chỉ số cải cách
thủ tục hành chính và các chỉ số về xúc tiến đầu tư, thương mại nhằm đạt mục tiêu phát triển nông nghiệp CNC Vì mục tiêu của hoạt động giám sát là phát hiện ra những điểm chưa phù hợp và kịp thời đưa ra các giải pháp điều chỉnh các thất bại của thị trường Các mục tiêu hành chính của hoạt động giám sát là phát hiện cái chưa đúng để phạt cũng như việc triển khai các chương trình giám sát của các bên liên quan như HĐND, các kế hoạch đôn đốc, kiểm tra của UBND thành phố Hà Nội và chính quyền cấp tỉnh liên quan đến phát triển nông nghiệp CNC thì không được nghiên cứu trong luận án này
Luận án cũng không tập trung nghiên cứu đánh giá mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước trong lĩnh vực này mà chỉ xem xét các nhân tố này như là những nguyên nhân của các hạn chế và thành công của quản lý nhà nước
Luận án cũng không đi sâu đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả, trách nhiệm giải trình, cơ chế tổ chức và phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nước của chính quyền cấp tỉnh trong phát triển nông nghiệp CNC
+ Về địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu trong phạm vi địa giới hành chính thành phố Hà Nội tập trung chủ yếu ở một số huyện có hoạt động sản xuất nông nghiệp CNC bao gồm: Đan Phượng, Mỹ Đức, Thanh Oai, Gia Lâm, Mê Linh, Thường Tín, Quốc Oai, Ứng Hòa
+ Về thời gian: Thời gian nghiên cứu giai đoạn từ 2015-2019, các định hướng, giải pháp đến năm 2025 tầm nhìn đến 2030
Nội dung nghiên cứu:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận án được kết cấu thành 5 chương chính như sau:
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý của chính quyền cấp tỉnh đối với phát triển nông nghiệp
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp công nghệ cao
Chương 4: Thực trạng quản lý nhà nước của chính quyền Hà Nội về phát triển nông nghiệp công nghệ cao
Chương 5: Một số giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Hà Nội trong thời gian tới
Trang 17CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN
1.1 Các nghiên cứu về phát triển nông nghiệp công nghệ cao
1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài về phát triển nông nghiệp công nghệ cao
Cũng như nhiều lĩnh vực kinh tế khác, phát triển nông nghiệp là lĩnh vực được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và khai thác ở các khía cạnh khác nhau, trong bối cảnh các quốc gia khác nhau Linda Lundmark, Camilla Sandstrom (năm 2013) trong cuốn “Natural resources and regional development theory”(Lý thuyết nguồn lực tự nhiên và sự phát triển vùng) đã bàn về cơ cấu kinh tế nông thôn và các biểu hiện KT-XH của kinh tế nông thôn ở Thụy Điển như sự thay đổi hạ tầng kỹ thuật, sự phát triển KT-XH trên một quy mô tổng thể, đa chiều và phụ thuộc lẫn nhau chứ không phải chỉ một vài khía cạnh riêng lẻ E Wesley và F Peterson trong cuốn
"Agricultural structure and economic adjustment" (năm 1986) (Cơ cấu nông nghiệp
và sự điều chỉnh nền kinh tế) đã đánh giá những yếu tố góp phần làm thay đổi chuyển đổi kinh tế nông nghiệp tại Mỹ và mô tả kinh nghiệm của châu Âu trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, và cho rằng đây là những bài học quan trọng đối với Mỹ, nơi không có chính sách điều chỉnh cơ cấu một cách cụ thể Trong nghiên cứu này, tác giả cũng cho rằng nước Mỹ nên tập trung vào các phương pháp
để giảm bớt chi phí điều chỉnh chứ không phải về những nỗ lực để ngăn chặn quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp P.W.Heringa, C.M.Van der Heideb và W.J.M.Heijman trong cuốn "The economic impact of multifunctional agriculture in Dutch regions: An input-output model” (năm 2013) (Sự ảnh hưởng kinh tế của nền nông nghiệp đa chức năng ở các vùng miền Hà Lan: Mô hình cân đối liên ngành) đã làm rõ bốn khía cạnh của nền nông nghiệp đa chức năng bao gồm: (i) phát triển cây xanh, (ii) du lịch, giải trí, giáo dục, (iii) kinh doanh trang trại, và (iv) dịch vụ xanh Julian M.Alston (năm 2014) trong cuốn “Agriculture in the Global Economy” (Nông nghiệp trong nền kinh tế toàn cầu) đã nghiên cứu về triển vọng phát triển nông nghiệp trên thế giới diễn ra khác nhau ở các nền kinh tế khác nhau, cụ thể là sản lượng nông nghiệp có xu hướng giảm ở các nước có thu nhập cao như Mỹ trong khi
đó lại tăng ở các nước thu nhập trung bình như Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Indonesia Khi phân tích các mô hình tăng trưởng nông nghiệp ở các nước có thu nhập trung bình, các tác giả đã đưa ra đề nghị chuyển đổi cơ cấu ngành nông nghiệp
để đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng cho những người nghèo Barbara
Trang 18Chmielewska (năm 2009) trong cuốn "The Problems of Agriculture and Rural Areas
in the Process of European Integration” (Vấn đề nông nghiệp, nông thôn trong quá trình hội nhập châu Âu) đã khẳng định ngành nông nghiệp trên thế giới sẽ ít có cơ hội phát triển nếu không có sự hỗ trợ tài chính của chính phủ EU, đặc biệt là tại các nước kém phát triển Do vậy, giải pháp chính cho phát triển nông nghiệp ở các nước
EU là phát triển đa ngành, đa lĩnh vực Chỉ có phát triển đa ngành, đa lĩnh vực mới
có thể đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) trong tài liệu “Rapid growth of selected Asian economies Lessons and implications for agriculture and food security China and India” (2006) (Bài học tăng trưởng nhanh của các nền kinh tế tiêu biểu ở châu Á và ý nghĩa đối với sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực ở Trung Quốc và Ấn Độ)
đã cho thấy sự phát triển kinh tế của một nước bắt đầu bằng việc phát triển và tái cơ cấu nông nghiệp theo nhu cầu thị trường; quá trình tái cơ cấu lại nông nghiệp liên quan đến việc đa dạng hóa các lĩnh vực hoạt động để đáp ứng những nhu cầu trong nước và thương mại quốc tế Minna Mikkola (2008), trong tác phẩm “Coordinative structures and development of food supply chains” đã tổng kết 4 cơ chế quản lý: Quan hệ thị trường, quan hệ thứ bậc (hay quan hệ quyền lực), quan hệ mạng lưới (network) và quan hệ xã hội đều là các quan hệ quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển nông nghiệp và các chính sách phát triển nông nghiệp của chính phủ
Chủ đề ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp được nhiều tác giả quan tâm từ rất sớm, trong đó, điển hình là các tác giả: Feder và cộng sự (1985); Hoppel (1994); Foster và Roenweing (1996); kohli và Singh (1997); Rogers (2003) và Uaiene (2009) Những tác giả này đã khẳng định công nghệ là yếu tố quyết định đến phát triển nông nghiệp công nghệ cao; Radhika Kapur (2018), nghiên cứu việc sử dụng công nghệ trong ngành nông nghiệp ở Ấn Độ và chỉ ra vai trò quan trọng của việc ứng dụng công nghệ trong sản xuất và phát triển nông nghiệp Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã khẳng định sự phát triển của nông nghiệp ở Ấn Độ mặc dù đã đạt được một
số kết quả nhất định nhưng năng suất còn thấp so với các nước, việc áp dụng công nghệ sản xuất, công nghệ thu hoạch còn hạn chế Tác giả cũng đề xuất cần ứng dụng công nghệ, kỹ thuật, các phương pháp hiện đại vào sản xuất nông nghiệp để cải thiện điều kiện làm việc của người lao động, tăng năng suất và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân
Dan Senor - Saul singer (2008), trong tác phẩm quốc gia khởi nghiệp, câu chuyện về nền kinh tế thần kỳ của Israel, NXB Thế giới, đã nghiên cứu và đưa ra mô hình phát triển, ứng dụng công nghệ cao vào phát triển nông nghiệp của Israel
Trang 19Trong xu hướng diện tích đất và lao động nông nghiệp ngày càng suy giảm, sản xuất nông nghiệp công nghệ cao trở thành một yêu cầu tất yếu đối với tất cả các quốc gia trên thế giới nhằm giải quyết được những vấn đề về lương thực, thực phẩm và nguyên liệu… Phát triển nông nghiệp công nghệ cao đã được thực hiện từ nhiều thập
kỷ trước đây ở nhiều nước trên thế giới Đặc biệt bằng việc hình thành các khu nông nghiệp công nghệ cao ở các nước như Mỹ, Anh, Nhật Bản, Hà Lan, Israel, Trung Quốc, Thái Lan, Đài Loan Bonzovanni và Lowenberg-Deboer (2004), Silva và cộng
sự (2007), Frankelius và cộng sự (2017) đã chỉ ra rằng nông nghiệp công nghệ cao đóng góp vai trò rất quan trọng dưới các góc độ môi trường và kinh tế cho phát triển nông nghiệp bền vững trong dài hạn Theo Mondal và Basu (2009), phát triển nông nghiệp công nghệ cao là một trong các cách để rút ngắn khoảng cách giữa người giàu
và người nghèo trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển
Huy Tú (2017), thu hút đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao đã được chú trọng bởi rất nhiều nước trên thế giới Từ giữa thế kỷ XX, tại các nước phát triển đã xây dựng các khu nông nghiệp công nghệ cao; Chẳng hạn ở Mỹ, đầu những năm 1980
đã có trên 100 khu nông nghiệp công nghệ Hay ở Anh, năm 1988 đã có 38 khu vườn khoa học công nghệ với hơn 800 doanh nghiệp Phần Lan, năm 1996 có 9 khu khoa học nông nghiệp công nghệ cao Tại châu Âu, hiện nay đặc biệt khuyến khích xu hướng áp dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp với chương trình Chính sách nông nghiệp chung (PAC) Đến nay, tại Liên minh châu Âu (EU) toàn bộ các gia đình châu Âu được kết nối Internet với tốc độ cao, nông dân được đào tạo, tiếp cận các khoa học, kỹ thuật số để phục vụ hiện đại hóa các trang trại, tạo thêm việc làm và thành lập mới các doanh nghiệp tại khu vực nông thôn
Bên cạnh các nước châu Âu, châu Mỹ, nhiều nước ở châu Á cũng đã chuyển nền nông nghiệp truyền thống quan tâm nhiều đến số lượng sản phẩm sang chất lượng nông sản, ứng dụng khoa học, công nghệ cao, tiêu biểu như một số nước: Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan Hiện nay Trung Quốc đã có 405 khu nông nghiệp công nghệ cao, trong đó có 1 khu nông nghiệp công nghệ cao cấp quốc gia, 42 khu cấp tỉnh và
362 khu cấp thành phố Những khu này đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển nông nghiệp hiện nay của Trung Quốc Sản xuất tại các khu nông nghiệp công nghệ cao đạt năng suất cao kỷ lục Chẳng hạn, tại Israel năng suất của cà chua đạt 250 – 300 tấn/ha, bưởi đạt 100 – 150 tấn/ha, hoa cắt cành 1,5 triệu cành/ha… đã tạo ra giá trị sản lượng bình quân 120.000 – 150.000 USD/ha/năm Đặc biệt, tại Trung Quốc giá trị sản lượng bình quân đạt 40.000 – 50.000 USD/ha/năm, gấp 40 - 50 lần so với các
mô hình trước đó (Huy Tú, 2017) Do đó, nông nghiệp công nghệ cao đã và đang trở
Trang 20thành mẫu hình cho nền nông nghiệp tri thức thế kỷ XXI trên thế giới Tuy nhiên, điều kiện thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao cần quan tâm tới: (i) Quy mô diện tích tiến hành, (ii) Thị trường đầu vào và đầu ra, (iii) Lợi nhuận của doanh nghiệp và thu nhập của người nông dân, (iv) Thể chế chính sách phải đảm bảo hài hòa giữa lợi ích của doanh nghiệp và người nông dân
Theo Hallam (2011), rất nhiều nước trên thế giới đặc biệt là các nước đang phát triển ngày càng chú trọng vào thu hút đầu tư vào nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp công nghệ cao Để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao đòi hỏi các cấp chính quyền phải có các cơ chế hỗ trợ đồng bộ từ cơ sở hạ tầng, vốn đến thị trường tiêu thụ Tseng và Zebregs (2002), Murakami và cộng sự (2007) đã chỉ ra rằng phát triển cơ sở hạ tầng sẽ phát huy hiệu quả trong việc thu hút đầu tư vào nông nghiệp nói chung và nông nghiệp công nghệ cao nói riêng Zhang và cộng sự (2010) khi tiến hành nghiên cứu ở tỉnh Hắc Long Giang, Trung Quốc cho rằng, để phát triển
và thu hút đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao các cấp chính quyền cần tập trung vào các vấn đề sau đây: (i) tăng cường hỗ trợ một cách linh hoạt về vốn và công nghệ; (ii) tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng về thông tin nông nghiệp; (iii) xây dựng các mô hình trình diễn về nông nghiệp công nghệ cao; và (iv) đầu tư cho nghiên cứu các thiết
bị công nghệ gắn với quyền sở hữu trí tuệ Hallam (2011) đã tổng kết một số nguyên
lý cần được quan tâm trong thu hút đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao bao gồm: (i) chú trọng đến quyền sử dụng đất; (ii) sự bền vững về xã hội; và (iii) sự bền vững về môi trường Tey và Brindal (2012) đã chỉ ra rằng một số ưu đãi về tài chính như chính sách lãi suất ưu đãi và cắt giảm thuế là cách thức hữu hiệu để thu hút đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao Kết quả này cũng giống với đề xuất trong nghiên cứu của Singh
và cộng sự (1995), Tseng và Zebregs (2002)
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước về phát triển nông nghiệp công nghệ cao
Viện Chiến lược phát triển - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2016) với "Báo cáo tổng hợp Đề án quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến năm 2020, định hướng đến năm 2030" Đây là công trình quy hoạch khá chi tiết, nêu bật các chỉ tiêu và định hướng phát triển KT-XH của 07 tỉnh, thành phố - vùng kinh
tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng Đồng bằng Sông Hồng Bên cạnh đó, Trần Ngọc Ngoạn (2008) trong bài nghiên cứu về “Phát triển nông thôn bền vững những vấn đề lý luận
và kinh nghiệm thế giới” đã tiếp cận đến những vấn đề lý luận và kinh nghiệm phát triển nông thôn bền vững từ một số tỉnh thành trong cả nước Nghiên cứu này đã làm
rõ cơ sở lý thuyết cho phát triển nông thôn bền vững và một số kinh nghiệm quốc tế trong phát triển bền vững nông thôn trên 3 trụ cột chính: (1) phát triển bền vững kinh
Trang 21tế nông thôn; (2) phát triển bền vững xã hội nông thôn; (3) tăng cường bảo vệ, quản
lý môi trường tự nhiên Nguyễn Điền (1997) trong cuốn “CNH nông nghiệp, nông thôn các nước châu Á và Việt Nam" đã khái quát một số vấn đề về nông thôn và CNH nông thôn, phát triển nông thôn ở các nước châu Á, CNH nông nghiệp và nông thôn ở Việt Nam Tác giả khẳng định rằng định hướng CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn mà Đại hội Đảng lần thứ VIII đã đề ra có thể được sắp xếp thành 3 nhóm như sau: (1) phát triển nông nghiệp; (2) phát triển nông nghiệp theo hướng CNH, HĐH; (3) xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng KT - XH nông thôn Đây là các nội dung có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong quá trình tiến hành CNH nông nghiệp và nông thôn Đặng Kim Sơn (2008) trong bài: Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã tổng hợp, phân tích vấn
đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong quá trình CNH ở nhiều nước trên thế giới, tác giả có sự liên hệ vào điều kiện cụ thể của Việt Nam Tác giả đã làm rõ một
số vấn đề tính lý luận, thực tiễn như: vai trò của nông nghiệp, vấn đề cơ cấu sản xuất, vấn đề đất đai, lao động, môi trường trong quá trình CNH đất nước Đây là những vấn đề mà Việt Nam đang phải đối mặt trong quá trình CNH, HĐH nhằm mục tiêu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 Đặng Kim Sơn (2009) trong bài báo “Xây dựng chiến lược nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế”
đã phân tích thực trạng tam nông từ khi có những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông dân và nông thôn; thực trạng tình hình nông nghiệp, nông dân, nông thôn; những vấn đề tồn tại cần giải quyết và các thách thức cần vượt qua trong nông nghiệp, nông dân và nông thôn hiện nay Tác giả cũng đưa ra mục tiêu, quan điểm, định hướng phát triển lớn là (1) Hiện đại và chuyên nghiệp hóa nông nghiệp (2) Nông dân hiện đại, chuyên nghiệp và có tổ chức (3) Nông thôn văn minh, hiện đại, bản sắc dân tộc và môi trường bền vững Nguyễn Minh Phong (2011) trong bài viết “Sáu đột phá phát triển nông nghiệp" Viện nghiên cứu phát triển KT-
XH Hà Nội đã nêu lên sáu đột phá phát triển nông nghiệp trong gian đoạn hiện nay, bao gồm: (1) hoàn thiện chính sách đất đai (đặc biệt giá đất và thuế sử dụng đất, thu hồi đất nông nghiệp, thời hạn sử dụng đất); (2) chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản và đổi mới cơ cấu kinh tế nông thôn (3) Đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp qua các biện pháp tăng cường đầu tư cho giáo dục đào tạo
và hướng nghiệp từ bậc phổ thông tại khu vực nông thôn, đảm bảo trình độ tay nghề
và trình độ xã hội cho lao động ở nông thôn; (4) Tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng,
áp dụng KHCN, đồng bộ về hệ thống thuỷ lợi, giao thông, hệ thống điện, thông tin -
Trang 22truyền thông, hệ thống chế biến, bảo quản, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; (5) Xây dựng thương hiệu nông sản, phát triển thể chế và tổ chức thương mại để điều tiết hoạt động mua bán, xuất nhập khẩu theo quy luật thị trường; (6) Chính sách tài chính
- tín dụng
Phạm S (2014) trong tác phẩm “Nông nghiệp công nghệ cao là yêu cầu tất yếu
để hội nhập quốc tế”, NXB Khoa học và Kỹ thuật, đã nghiên cứu về lịch sử ứng dụng công nghệ vào sản xuất nông nghiệp tại một số nước trên thế giới và thấy rằng từ thập niên 1970, Nhật Bản đã thực hiện đầu tư công nghệ cao cho nông nghiệp, đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin trong nông nghiệp và trở thành cường quốc nông nghiệp trên thế giới; Hà Lan đã thực thi chiến lược “Đầu tư cao – sản xuất nhiều”, cốt lõi là áp dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp từ rất sớm; Hàn Quốc đã tập trung phát triển công nghệ sinh học và coi đây là khâu đột phá để ứng dụng công nghệ cao nhằm phát triển nông nghiệp một cách bền vững
Các nghiên cứu về ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất và kinh doanh nông nghiệp như Nguyễn Thị Kim Sang (2017), “Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở một số quốc gia và bài học cho Việt Nam”, Nguyễn Anh Phong, Phạm Thị Thu Hà (2017), “đầu tư phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao: thách thức và giải pháp”, kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia về đầu tư phát triển nông nghiệp công nghệ cao hiệu quả theo hướng công nghiệp hóa, trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, tr 183-190, tr 113-128 Kết quả nghiên cứu của những tác giả này đã phân tích một số mô hình phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại một số nước trên thế giới (Israel, Hà Lan, Nhật Bản, Mỹ, Phần Lan, các nước châu
Âu, châu Á) và đề xuất giải pháp đối với Việt Nam như (1) Hoàn thiện quy hoạch tổng thể phát triển nông nghiệp công nghệ cao; (2) huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn vốn khoa học, tập trung kỹ thuật, ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp; (3) nghiên cứu để đưa ra công nghệ phù hợp với những lợi thế của đất nước; (4) tăng cường áp dụng khoa học kỹ thuật; (5) tăng cường đầu tư nâng cấp hạ tầng, thiết bị công nghệ cho các phòng thí nghiệm
Ngoài ra các tác giả Trần Thanh Quang (2016) “phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở nước ta” trên tạp chí Cộng sản, Tạp chí Tài chính (2017) “phát triển nông nghiệp công nghệ cao: cần giải quyết 5 vấn đề” trên tạp chí Kinh tế và Dự báo; Đỗ Xuân Trường (2017), phát triển nông nghiệp công nghệ cao: doanh nghiệp khó tiếp cận các chính sách ưu đãi trên Tạp chí Kinh tế và Dự báo; Phạm Văn Hiển (2014), Phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam đăng trên tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, đã chỉ ra tình hình phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Việt Nam khẳng định các khó
Trang 23khăn, rào cản cho phát triển nông nghiệp công nghệ cao là thiếu vốn đầu tư, nguồn nhân lực, tích tụ đất đai, kết cấu hạ tầng, thị trường tiêu thụ; phương thức, tập quán sản xuất, nguồn nhân lực, thị trường tiêu thụ; nhân lực kỹ thuật Trong đó nổi bật là việc doanh nghiệp “đói” vốn sản xuất nông nghiệp, khó tiếp cận nguồn vốn Đồng thời, các tác giả cũng đã đưa ra 3 loại hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao hiện đang phát triển ở Việt Nam là các khu nông nghiệp công nghệ cao, các điểm sản xuất nông nghiệp công nghệ cao và vùng chuyên canh ứng dụng công nghệ cao Để có thể phát triển nông nghiệp công nghệ cao, các tác giả cũng đưa ra một số vấn đề cần lưu ý đó là: (1) lựa chọn đúng sản phẩm, khâu đột phá cho quy trình và công nghệ cao để áp dụng thích hợp tránh chạy theo tình trạng công nghệ cao, đắt đỏ, gây nợ nần, rủi ro cao; (2) xác định giống là khâu then chốt, mang giá trị gia tăng cao nhất cho sản phẩm; (3) phát triển nông nghiệp công nghệ cao đòi hỏi có vốn lớn, các chính sách tín dụng trong nông nghiệp hiện nay ban hành nhưng khó tiếp cận bởi điều kiện được vay ngặt nghèo; (4) cần có chính sách khuyến khích doanh nghiệp sản xuất phân bón hữu cơ, tuyên truyền
sử dụng phân hữu cơ; xây dựng quy chế chính sách, quy trình phù hợp để thực hiện tích
tụ đất đai cho phát triển nông nghiệp công nghệ cao
Phạm Trần Minh Trang (2017) trong bài viết “các yếu tố tác động đến việc đầu
tư phát triển nông nghiệp theo hướng áp dụng công nghệ cao của các hộ nông dân nhỏ tại Việt Nam”, đã chỉ ra các yếu tố quyết định đến việc áp dụng công nghệ cao trong nông nghiệp đó là công nghệ; quy mô trang trại; lợi ích thuần của người dân; thu nhập phi nông nghiệp; yếu tố thể chế; thu thập thông tin về công nghệ mới; tiếp cận các dịch
vụ khuyến nông; tiếp cận tín dụng; trình độ học vấn; độ tuổi; giới tính; quy mô gia đình; mức độ ngại rủi ro và tổn thất
Môi trường chính sách của các địa phương có vai trò quyết định trong thu hút đầu vào lĩnh vực nông nghiệp (Theo Báo cáo đầu tư quốc tế của Hội nghị Thương mại
và Phát triển của Liên hiệp quốc, 2009) Các chính sách thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao đòi hỏi phải bao phủ tất cả các lĩnh vực từ đất đai, cơ
sở hạ tầng, tài chính Do đó, muốn thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp đặc biệt là nông nghiệp công nghệ cao các địa phương cần dựa trên những lợi thế riêng có của mình để đưa ra những chính sách thu hút phù hợp
Theo điều tra của Bùi Hồng Nhung (2016) chỉ có khoảng 1% nguồn vốn nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp của Việt Nam Lĩnh vực nông nghiệp khó thu hút được đầu tư bởi một số nguyên nhân như sau: (i) nông nghiệp là lĩnh vực mang tính rủi ro cao hơn so với lĩnh vực khác do tác động của thời tiết, khí hậu, sự yếu kém của cơ sở hạ tầng tại Việt Nam; (ii) nền nông nghiệp của Việt Nam vẫn mang tính chất
Trang 24sản xuất nhỏ, tự cung, đầu tư phân tán, thiếu tính chuyên môn hóa; và (iii) chiến lược
và định hướng thu hút đầu tư vào nông nghiệp chưa rõ ràng (Trần Hào Hùng, 2006) Theo nghiên cứu của Phạm Văn Hiển (2014), sản xuất nông nghiệp công nghệ cao của Việt Nam đang phải đối mặt với một số khó khăn bao gồm: (i) khó khăn về vốn đầu tư; (ii) khó khăn về tích tụ đất đai và cơ sở hạ tầng ở khu vực nông thôn; (iii) thiếu nguồn nhân lực cho nông nghiệp công nghệ cao; và (iv) khó khăn về thị trường tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp Ngoài bốn khó khăn nêu trên, Trần Thanh Quang (2016) còn đề cập đến một khó khăn khác trong sản xuất nông nghiệp công nghệ cao
đó là “sự liên kết khoa học-công nghệ giữa các tỉnh, thành trong cả nước còn rời rạc” Chính những khó khăn này là các rào cản đối với thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao
Theo nghiên cứu của Đăng Nguyên (2011), thiếu nguồn nhân lực có trình độ cao là một trong những khó khăn lớn nhất đối với phát triển và thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Sơn La Tác giả Tăng Hoàng Vinh (2015) cũng cho rằng thách thức lớn nhất đối với phát triển nông nghiệp công nghệ cao đó là yếu tố con người, đặc biệt là những người có hiểu biết về nông nghiệp công nghệ cao Trong khi đó, khó khăn trong việc tiếp cận với các nguồn vốn là rào cản thu hút đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao tại Cần Thơ (Trương Vĩnh Xuân, 2010) Nghiên cứu của Mai Hoa (2013), cơ sở hạ tầng yếu kém là rào cản đối với thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn huyện Đắk G’long, tỉnh Đắk Nông Đỗ Xuân Trường và Lê Thị Thu (2010) đã chỉ ra rằng yêu cầu vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng lớn và thiếu nguồn nhân lực có trình độ là hai nguyên nhân cơ bản gây cản trở cho việc thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam
Trần Đình Thao và cộng sự (2010) trong đề tài “Nghiên cứu môi trường đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp – nông thôn thành phố Hà Nội” đã nêu 8 giải pháp thu hút đầu tư vào nông nghiệp cho Hà Nội bao gồm: (i) Hoàn thiện và bổ sung cơ chế, chính sách nhằm tăng khả năng tiếp cận nguồn lực đất đai và vốn của chủ đầu tư; (ii) Nâng cao mức ưu đãi, hỗ trợ cho các nhà đầu tư vào nông nghiệp; (iii) Cải thiện cơ sở hạ tầng nông thôn và áp dụng khoa học công nghệ; (iv) Hoàn thiện hệ thống thị trường; (v) Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính; (vi) Tăng cường sự liên kết, phối hợp giữa các ban ngành, tổ chức; (vii) Nâng cao chất lượng nguồn lao động; và tăng cường công tác xúc tiến đầu tư
Theo Phạm Mạnh Cường (2011), để đẩy nhanh việc hình thành các khu nông nghiệp công nghệ cao và thu hút đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao thì Nhà nước
Trang 25cần có các chính sách ưu đãi hơn đối với các khu nông nghiệp công nghệ cao Đỗ Xuân Trường và Lê Thị Thu (2010) đã đề xuất một số giải pháp cơ bản để phát triển nông nghiệp công nghệ cao một cách bền vững và thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao đó là: (i) hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng; (ii) giảm thuế, có chính sách khuyến khích phát triển các hoạt động liên doanh, liên kết; và hỗ trợ cho đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao Đỗ Phú Hải (2016) đã đưa ra các nhóm giải pháp để phát triển nông nghiệp công nghệ cao và thu hút đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao bao gồm: (i) quy hoạch sử dụng đất cho nông nghiệp công nghệ cao; (ii) xây dựng quy hoạch khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, vùng nông nghiệp công nghệ cao; (iii) phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho nông nghiệp công nghệ cao; (iv) đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư để xây dựng, thực hiện các quy hoạch; xây dựng khu và vùng nông nghiệp công nghệ cao; (v) mở rộng triển khai các hoạt động đào tạo và phát triển công nghệ cao trong nông nghiệp; (vi) triển khai việc xây dựng,
áp dụng hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật trong quản lý chất lượng nông sản tại khu/vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; (vii) tăng cường các chính sách hỗ trợ các hoạt động khoa học-công nghệ phục vụ phát triển các khu và vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; và (viii) tăng cường hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm phát triển công nghệ cao trong nông nghiệp Phạm Văn Hiển (2014), Trần Thanh Quang (2016) cũng đề cập đến việc tăng cường hợp tác và học hỏi kinh nghiệm quốc tế về phát triển nông nghiệp công nghệ cao để thu hút cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao
Giải pháp về quy hoạch đất đai cho vùng sản xuất nông nghiệp và xây dựng cơ
sở hạ tầng nông thôn được đề cập đến ở rất nhiều nghiên cứu khác nhau Theo Trương Vĩnh Xuân (2010) để phát triển nông nghiệp công nghệ cao và thu hút đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn thành phố Cần Thơ nên chú trọng vào công tác quy hoạch nông nghiệp theo vùng, theo cụm Nguyễn Gia Thắng (2010) đề cập đến công tác xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn như là giải pháp để phát triển nông nghiệp công nghệ cao và thu hút đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa Phạm Mạnh Cường (2011) kết luận rằng các địa phương cần thực hiện tốt công tác quy hoạch đất đai, giải phóng mặt bằng để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu
tư vào nông nghiệp công nghệ cao
Phạm Văn Hiển (2014), Trọng Nguyễn (2014) cho rằng làm tốt khâu quy hoạch sản xuất sẽ là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa Đỗ Phú Hải (2016) cũng cho rằng làm tốt công tác quy hoạch đất đai và xây dựng quy hoạch khu nông nghiệp ứng dụng công
Trang 26nghệ cao sẽ thu hút được các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao Theo Trần Thanh Quang (2016) thực hiện hiệu quả chính sách dồn điển đổi thửa và xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn sẽ góp phần thu hút đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao Nguyễn Đắc Thu và Nguyễn Thị Thanh Hà (2016), để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, UBND tỉnh cần quy hoạch các khu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo hướng tập trung, quy mô lớn trên địa bàn tỉnh
Đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp có chất lượng cao cũng là giải pháp hữu hiệu thu hút đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao và đã được đề xuất bởi rất nhiều các tác giả khác nhau Theo Nguyễn Lê Hằng và Đặng Bảo Hà (2013), để thu phát triển nông nghiệp công nghệ cao và thu hút đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam, công tác xây dựng và tổ chức thực hiện, quy hoạch đào tạo nguồn nhân lực công nghệ cao thuộc lĩnh vực nông nghiệp cần được chú trọng Trương Vĩnh Xuân (2010) và Đăng Nguyên (2011), chú trọng vào đào tạo và xây dựng đội ngũ lao động chất lượng cao sẽ là một trong các giải pháp hiệu quả để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao tại thành phố Cần Thơ và Sơn La Đề xuất này giống với kết luận của Phạm Văn Hiển (2014) Giải pháp này cũng được đề xuất bởi Tăng Hoàng Vinh (2015) đối với công tác thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn tỉnh An Giang
Trần Thanh Quang (2016), Đỗ Phú Hải (2016) cũng đề cập đến giải pháp đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao là một trong các giải pháp để phát triển nông nghiệp công nghệ cao và thu hút các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam Nguyễn Duy Mậu (2016) cũng đề cập đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong giải pháp phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại khu vực Tây Nguyên Theo Nguyễn Đắc Thu và Nguyễn Thị Thanh Hà (2016), tăng cường đào tạo để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp là một trong các giải pháp cần được chú trọng ở Bắc Ninh để thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao
Đỗ Xuân Trường và Lê Thị Thu (2010), Phạm Văn Hiển (2014) cho rằng chính sách đẩy mạnh hoạt động liên doanh liên kết sẽ góp phần thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao Ở một khía cạnh khác, Trần Thanh Quang (2016) cho rằng đẩy mạnh việc cải cách hành chính và phát triển thị trường tiêu thụ, tăng cường xúc tiến thương mại đối với các sản phẩm nông nghiệp sẽ là các giải pháp hữu hiệu để phát triển nông nghiệp công nghệ cao và thu hút đầu tư vào nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở Việt Nam Nguyễn Đắc Thu và Nguyễn Thị Thanh Hà (2016) cũng đề
Trang 27cập đến đẩy mạnh phát triển thị trường, dịch vụ hỗ trợ hoạt động công nghệ cao trong nông nghiệp và tăng cường chính sách hỗ trợ về vốn là các giải pháp khả thi để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Đỗ Phú Hải (2016) cũng đề cập đến giải pháp đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam
1.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý nhà nước đối với phát triển nông nghiệp công nghệ cao
1.2.1 Các nghiên cứu nước ngoài về quản lý nhà nước đối với phát triển nông nghiệp công nghệ cao
Các nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với phát triển nông nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao trên thế giới được nghiên cứu dưới nhiều góc cạnh khác nhau,
đã chỉ ra được những yếu tố tác động đến phát triển nông nghiệp, đề xuất một số chương trình, mô hình để phát triển nông nghiệp công nghệ cao Nghiên cứu của TCP/Belize (2003) đã chỉ ra những hạn chế trong phát triển nông nghiệp của đất nước Belize như: (1) thiếu một hệ thống thông tin thị trường cung cấp giá một cách minh bạch, đáng tin cậy, nhất quán và kịp thời; (2) việc tổ chức thực thi chính sách kém hiệu quả; (3) thiếu các dịch vụ và hệ thống hỗ trợ để phát triển nông nghiệp như các dịch vụ đào tạo nghề, dịch vụ cung cấp các yếu tố đầu vào, các tiêu chuẩn giám sát và kiểm dịch; (4) đầu tư cho nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu…Từ kết quả nghiên cứu của mình, tác giả đã kiến nghị một số chính sách để phát triển nông nghiệp Belize như chính sách khuyến khích sản xuất hàng hóa và kinh doanh thương mại; chính sách phát triển các hộ nông dân; chính sách qui hoạch vùng, lãnh thổ; chính sách khuyến công; chính sách tín dụng ưu đãi cho các
hộ nông dân; chính sách đào tạo nghề trong nông nghiệp…
Lars Andersson và cộng sự (2017) trong tác phẩm “nông nghiệp trong tương lai
đến năm 2030”, đã đưa ra quan điểm, định hướng phát triển nông nghiệp của Thụy Điển đến năm 2030 trong các kịch bản khác nhau trong tương lai như: một thế giới mà tài nguyên đất bị khai thác quá mức, một thế giới cân bằng khi tài nguyên đất được khai thác
và bảo tồn hiệu quả… Đồng thời kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra 7 kịch bản cho phát triển nông nghiệp của đất nước này, đó là: (1) tìm kiếm và ứng dụng công nghệ mới cho một tương lai bền vững, là động lực cho sự phát triển nông nghiệp; (2) xuất khẩu các giá trị gia tăng sang châu Á; (3) Hình thành và phát triển các công ty, các tập đoàn lớn trong lĩnh vực nông nghiệp; (4) Sự thay đổi cơ cấu dân số, hội nhập nông thôn mới và sự di chuyển của các loại hình lao động; (5) Sinh thái thông minh, sản xuất lương thực và vai
Trang 28trò của hệ sinh thái xanh, sạch phù hợp với các qui luật tự nhiên; (6) phát triển nền nông nghiệp 4.0 có truy xuất nguồn gốc rõ ràng; (7) định hình các mô hình phát triển nông nghiệp tương lai của thế giới
Nghiên cứu của các tác giả Kaaya (1999); Phougat (2006); Samah và cộng sự (2009) đã chỉ ra để phát triển nông nghiệp nói chung, nông nghiệp công nghệ cao thì chính phủ, chính quyền các nước cần quan tâm đến vai trò của ứng dụng công nghệ thông tin đặc biệt trong truy xuất nguồn gốc của các sản phẩm nông nghiệp
Báo cáo dữ liệu phát triển nông nghiệp của Israel (2016) của tổng cục thống kê Israel đã đề cập đến nhiều khía cạnh, quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp của Israel trong đó khẳng định chính phủ có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ, đưa ra các định hướng phát triển cũng như đào tạo nguồn nhân lực và cung cấp lao động chất lượng cao, có khả năng ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp
Feder và cộng sự (1985); Hoppel (1994); Foster và Roenweing (1996); Kohli và Singh (1997); Rogers (2003) và Uaiene (2009), Kebede và cộng sự (1990); McNamara, Wetzstein và Douce (1991) cho rằng yếu tố quan trọng nhất tác động đến phát triển nông nghiệp là thể chế và con người Khi tiếp cận yếu tố thể chế, các tác giả quan tâm đến việc ra các quyết định áp dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp, cơ chế cung cấp và chia sẻ thông tin về công nghệ mới, cơ chế tiếp cận các dịch vụ khuyến nông, cơ chế tiếp cận tín dụng để đầu tư cho nghiên cứu và phát triển
Dan Senor - Saul singer (2008), trong tác phẩm Quốc gia khởi nghiệp, câu
chuyện về nền kinh tế thần kỳ của Israel, đã cho rằng chìa khóa thành công trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp của Israel là sự hợp tác chặt chẽ của “4 nhà”: nhà nghiên cứu, chính phủ, nông dân và doanh nghiệp Trong đó, chính phủ có vai trò quan trọng trong việc vận hành sự liên kết của “4 nhà” một cách hiệu quả
1.2.2 Các nghiên cứu trong nước về quản lý nhà nước đối với phát triển nông nghiệp công nghệ cao
Bên cạnh các nghiên cứu nước ngoài, nhiều công trình nghiên cứu trong nước
về phát triển nông nghiệp CNC cũng chỉ ra được vai trò của quản lý nhà nước trong các dự án quan trọng như đầu tư đến 50% vào các dự án khởi nghiệp, các dự án đầu tư
mạo hiểm Phạm S (2014), trong tác phẩm nông nghiệp công nghệ cao là yêu cầu tất
yếu để hội nhập quốc tế, đã khẳng định vai trò của nhà nước trong điều hành các hoạt động để thúc đẩy nông nghiệp phát triển Chính phủ Đài Loan đã thông qua việc ban hành cơ chế chính sách và phê duyệt các quy hoạch giao thông, cơ sở hạ tầng tạo để tạo điều kiện thuận lợi để người dân thực hiện cơ giới hóa sản xuất Bên cạnh đó,
Trang 29chính phủ còn ban hành các chính sách tín dụng cho nông dân vay với lãi suất ưu đãi; chính sách khuyến khích tổ chức, cá nhân nghiên cứu và chuyển giao các sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao Chính phủ Thái Lan khuyến khích, hỗ trợ thành lập các trung tâm nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học – kỹ thuật trong nông nghiệp, đầu tư công nghệ sinh học; tăng cường bảo hiểm xã hội, giải quyết tốt vấn đề về vốn
và nợ, thiết lập các hệ thống đảm bảo rủi ro cho nông dân Chính phủ Bỉ ban hành hàng loạt các chính sách phát triển bền vững nông nghiệp và phát triển nghề làm vườn, chú trọng quản lý nông nghiệp không làm ảnh hưởng đến môi trường cảnh quan; tối
ưu hóa trong quản lý nhằm giảm các nguy cơ tổn thất trong sản xuất nông nghiệp; tập trung đổi mới và nghiên cứu khoa học thông qua các chương trình khoa học phục vụ nông nghiệp, các dự án đặt hàng nghiên cứu của các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp
TTC Việt Nam (2017), trong tác phẩm cùng tìm hiểu nền nông nghiệp của Nhật
Bản, đã tiến hành nghiên cứu quá trình phát triển nông nghiệp của Nhật Bản từ trước cuộc cải cách Duy Tân Minh Trị (1868) cho đến nay Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng chính phủ Nhật Bản trong mọi giai đoạn đều quan tâm thành lập các trung tâm thử nghiệm để tiến hành lai ghép những loại cây nông nghiệp quan trọng, giúp đỡ người nông dân thông qua các chương trình hỗ trợ giá, dành sự ủng hộ mạnh mẽ cho các trường kỹ thuật nông nghiệp, các trung tâm thử nghiệm giống cây trồng, vật nuôi mới
Đỗ Xuân Trường, Lê Thị Thu (2010) đã nghiên cứu và đề xuất hướng đi tất yếu
của nông nghiệp Việt Nam và một số giải pháp để phát triển nông nghiệp công nghệ cao, trong đó khẳng định phải có sự hỗ trợ mạnh mẽ từ nhà nước Kết quả nghiên cứu
đã chỉ ra vai trò của thể chế trong cơ cấu lại ngành nông nghiệp; vai trò kiến tạo, hỗ trợ, tạo môi trường thuận lợi của nhà nước, đặc biệt trong việc thu hút các thành phần kinh tế đầu tư vào phát triển nông nghiệp công nghệ cao Ngoài việc lập quy hoạch, xây dựng chiến lược, kế hoạch tổng thể phát triển bền vững theo vùng lãnh thổ lấy phát triển nông nghiệp công nghệ cao là hạt nhân, nhà nước cần có sự đầu tư thích đáng vào R&D và ứng dụng những thành tựu, tiến bộ khoa học - công nghệ hiện đại ở tất cả các khâu trong quá trình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao Không những thế, nhà nước cần tổ chức thực thi chính sách một cách đồng bộ, nhất quán, kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ sự tuân thủ của các chủ thể liên quan, giao trách nhiệm cho các bộ, ngành hữu quan phối hợp, kết hợp chặt chẽ với nhau trong quá trình triển khai
Tạp chí Mặt trận (2017), tìm hướng tháo gỡ khó khăn cho phát triển nông
nghiệp ứng dụng công nghệ cao; Thời báo tài chính Việt Nam (2017), thu hút đầu tư
vào nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao: tháo gỡ nút thắt chính sách; Thời báo tài
Trang 30chính Việt Nam (2017), phát triển nông nghiệp công nghệ cao: doanh nghiệp khó tiếp
cận các chính sách ưu đãi cũng khẳng định phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở
nước ta thời gian vừa qua còn nhiều hạn chế, gặp nhiều khó khăn Cụ thể là: (1) Chính sách của nhà nước chưa đầy đủ và phù hợp nên khó áp dụng; (2) các chính sách của nhà nước chủ yếu hỗ trợ ưu đãi về thuế, phí theo địa bàn lĩnh vực đầu tư, khu công nghệ cao mà thiếu hỗ trợ về đất quy mô lớn để đầu tư ứng dụng khoa học công nghệ theo vùng sản xuất tập trung; (3) chính quyền địa phương chưa vào cuộc vì vốn đầu tư
cơ sở hạ tầng các khu nông nghiệp công nghệ cao rất lớn; (4) diện tích đất không đủ lớn, chi phí thuê, quản lý cao, chi phí đầu tư trên đất lớn nhưng không được nhà nước đảm bảo, vấn đề bảo hiểm nông nghiệp chưa có hướng dẫn triển khai Để khắc phục những khó khăn này, tác tác giả đã đề xuất nhà nước cần kiến tạo được môi trường cho phát triển nông nghiệp công nghệ cao, huy động nguồn lực đầu tư vào nông nghiệp thông qua các hình thức hợp tác công tư
Vũ Thanh Nguyên (2017), “xây dựng mô hình nông nghiệp hiện đại ở tỉnh Hải
Dương”, Luận án tiến sỹ kinh tế, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, đã chỉ
ra thực trạng phát triển nông nghiệp của Hải Dương và so sánh với tiêu chí nông nghiệp hiện đại, trong đó khẳng định vai trò của nhà nước trong định hướng, xây dựng phát triển nông nghiệp hiện đại Nghiên cứu này cũng đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước của chính quyền cấp tỉnh về phát triển nông nghiệp như: UBND tỉnh cần thực hiện tốt chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết gắn kết các khâu trong chuỗi giá trị sản xuất sản phẩm nông nghiệp; ban hành tiêu chí
và tổ chức thành công việc xây dựng cánh đồng mẫu lớn; quản lý, quy định sản xuất nông sản theo tiêu chuẩn VietGap; đơn giản hóa các thủ tục hành chính
Trịnh Kim Liên (2016), chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngoại thành
Hà Nội theo hướng giá trị cao, kinh tế xanh và phát triển bền vững đã đánh giá được tổng thể thực trạng tình hình phát triển nông nghiệp của Thủ đô Hà Nội và đề ra các giải pháp phát triển nông nghiệp Thủ đô theo hướng giá trị cao, kinh tế xanh và bền vững Nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố thành công cơ bản của quản lý nhà nước trong phát triển nông nghiệp là: (1) triển khai nhanh các giải pháp thực hiện Chương trình nông nghiệp công nghệ cao; (2) đẩy mạnh nghiên cứu chuyển giao, ứng dụng khoa học, công nghệ vào các ngành sản xuất nông nghiệp; (3) phát triển và mở rộng thị trường; (4) gắn phát triển kinh tế nông nghiệp với nông nghiệp các tỉnh trong vùng; (5) đầu tư cho đào tạo nghề và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; (6) kịp thời đổi mới và hoàn thiện các chính sách cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn
Trang 31GS.TS Trịnh Duy Luân (2017), thực trạng đô thị hóa và hướng đi bền vững
cho phát triển nông nghiệp khu vực ven đô Hà Nội, đã đưa ra các khuyến nghị đối với nhà nước nhằm phát triển nông nghiệp là phải giải quyết hài hòa, hợp lý các quan hệ chức năng giữa các khu vực trong quá trình đô thị hóa Muốn phát triển nền nông nghiệp theo hướng đô thị sinh thái, Hà Nội phải quan tâm đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng, quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đào tạo nâng cao trình độ cho lao động nông thôn, liên kết bao tiêu sản phẩm Để làm được điều đó, cần làm tốt một số giải pháp như: Xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế
- xã hội, quy hoạch sử dụng đất, hình thành các vùng sản xuất tập trung; triển khai áp dụng khoa học công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp; tiếp tục chính sách tích tụ đất đai, dồn điền đổi thửa
Phùng Chí Cường (2017), “Chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển nông nghiệp theo hướng công nghệ cao ở tỉnh Vĩnh Phúc đã chỉ ra thực trạng ban hành chính sách của chính quyền tỉnh Vĩnh Phúc nhằm hỗ trợ nông nghiệp tỉnh phát triển theo hướng công nghệ cao và bền vững giai đoạn 2012-2017 Theo đó tỉnh Vĩnh Phúc đã ban hành một số chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp theo hướng công nghệ cao như: Hỗ trợ
mô hình sản xuất rau an toàn theo chuỗi (hỗ trợ tối đa 50% chi phí nhưng không quá 5 tỷ/mô hình); hỗ trợ chuyển giao khoa học kỹ thuật, hỗ trợ xây dựng hệ thống xử lý chất thải chăn nuôi; hỗ trợ giống cây trồng vật nuôi; hỗ trợ phòng chống dịch gia súc, gia cầm Trên cơ sở đánh giá việc thực hiện chính sách, tác giả đã đề xuất một số kiến nghị để tỉnh Vĩnh Phúc làm tốt hơn công tác quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp của tỉnh theo hướng nông nghiệp công nghệ cao (rà soát lại các quy hoạch; đổi mới các hình thức tổ chức sản xuất; tăng cường xây dựng hạ tầng đồng bộ )
Bàn về các hoạt động quản lý nhà nước của chính quyền cấp tỉnh đối với phát triển nông nghiệp công nghệ cao, Nguyễn Đắc Thu và Nguyễn Thị Thanh Hà (2016) cho rằng để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, UBND tỉnh cần quy hoạch các khu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo hướng tập trung, quy mô lớn trên địa bàn tỉnh Trương Vĩnh Xuân (2010) thì cho rằng để phát triển nông nghiệp công nghệ cao và thu hút đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn thành phố Cần Thơ cần chú trọng vào công tác quy hoạch nông nghiệp theo vùng, theo cụm Nguyễn Gia Thắng (2010) cho rằng xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn như là giải pháp
để phát triển nông nghiệp công nghệ cao và thu hút đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa Phạm Mạnh Cường (2011) khẳng định rằng các địa phương cần thực hiện tốt công tác quy hoạch đất đai, giải phóng mặt bằng để tạo điều
Trang 32kiện cho các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao Phạm Văn Hiển (2014), Trọng Nguyễn (2014) cho rằng làm tốt khâu quy hoạch sản xuất sẽ là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa
Thực trạng phát triển nông nghiệp nông nghiệp công nghệ cao tại Hà Nội được trao đổi nhiều trên Tạp chí Công nghiệp và Tiêu dùng (2016), phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Hà Nội: vẫn khó vì thiếu vốn; Liên minh Hợp tác xã Việt Nam (2017), chia sẻ ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp Các mô hình nông nghiệp công nghệ cao của Hà Nội chưa nhiều, thậm chí quy mô nhỏ, mức độ ứng dụng không đồng đều Hiện Hà Nội chưa có các khu, vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao
Cơ chế chính sách hỗ trợ về thuế đã được ban hành nhưng doanh nghiệp khó tiếp cận, chi phí đất đai còn cao, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ còn lỏng lẻo, tiếp cận nguồn vốn gặp khó khăn Mục tiêu đến năm 2020, giá trị nông nghiệp công nghệ cao của Thành phố chiếm 35% tổng giá trị toàn ngành nông nghiệp do thành phố Hà Nội đề ra khó thực hiện nếu Thành phố không tập trung thực hiện các giải pháp bố trí hỗ trợ về vốn
để phát triển nông nghiệp công nghệ cao
1.3 Khoảng trống nghiên cứu
Kết quả tổng quan các công trình nghiên cứu trên đây cho thấy, hầu hết các ngiên cứu trong thời gian qua đều tập trung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp nói chung và nông nghiệp công nghệ cao nói riêng và khẳng định thể chế và quản lý nhà nước có vai trò vô cùng quan trọng trong khắc phục các thất bại của thị trường, trong chuyển giao khoa học và công nghệ, trong đào tạo phát triển nguồn nhân lực và thực hiện liên kết 4 nhà Một số bài báo viết cũng khẳng định vai trò của chính quyền địa phương trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao khi thông qua các qui hoạch, kế hoạch phát triển vùng, lãnh thổ và triển khai các chương trình,
dự án phát triển nông nghiệp cao tại địa phương
Tuy nhiên, các nghiên cứu về quản lý nhà nước, đặc biệt quản lý của chính quyền địa phương cấp tỉnh đối với phát triển nông nghiệp CNC còn chưa nhiều và chưa được hệ thống, chưa làm rõ tiêu chí đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp công nghệ cao của chính quyền cấp tỉnh cũng như chưa làm rõ được mức độ tiếp cận của người dân và các bên liên quan tới các chính sách hỗ trợ của nhà nước cũng như các vấn đề liên quan đến sự phát triển nông nghiệp công nghệ cao Các vấn đề về lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với phát triển nông nghiệp công nghệ cao của chính quyền cấp tỉnh vẫn còn nhiều vấn đề chưa được làm rõ
Trang 33Bên cạnh đó, mỗi tỉnh/thành phố có một đặc điểm riêng và mục tiêu phát triển riêng, đòi hỏi có các giải pháp phát triển nông nghiệp CNC riêng của mình Với mục tiêu phát triển Hà Nội thành thành phố thông minh, dẫn đầu về kinh tế tri thức vào năm 2030, Hà Nội đang có tốc độ đô thị hóa nhanh, diện tích đất bị thu hẹp, nhu cầu sản phẩm nông nghiệp CNC ngày càng nhiều và đa dạng Điều này đã và đang đặt ra các yêu cầu cấp bách về phát triển nông nghiệp CNC Trong khi đó, quy hoạch phát triển nông nghiệp của Hà Nội đã được phê duyệt từ lâu, đến nay nhiều điểm không còn phù hợp với yêu cầu phát triển nông nghiệp CNC nhưng chưa được rà soát, điều chỉnh; các chính sách hỗ trợ khuyến khích phát triển nông nghiệp CNC được ban hành nhỏ lẻ, không đồng bộ, thiếu toàn diện gây khó khăn trong quá trình thực hiện; nhiều vấn đề trong công tác tổ chức thực thi chính sách của các cơ quan chuyên môn của UBND, và các cấp chính quyền về vấn đề còn rất mới, chưa có tiền lệ
Chính vì vậy, việc nghiên cứu các nội dung quản lý nhà nước về phát triển nông nghiệp công nghệ cao của chính quyền cấp tỉnh là vô cùng quan trọng, có ý nghĩa cả
về lý luận và thực tiễn Luận án sẽ tập trung làm rõ các khoảng trống nghiên cứu về nội dung, cách thức và các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý nhà nước đối với phát triển nông nghiệp công nghệ cao của chính quyền thành phố Hà Nội như một nghiên cứu điển hình để đưa ra các bài học cho các địa phương khác trong cả nước
Trang 34CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CỦA
CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN
NÔNG NGHIỆP CÔNG NGHỆ CAO
2.1 Các vấn đề chung về quản lý nhà nước của chính quyền cấp tỉnh về phát triển nông nghiệp công nghệ cao
2.1.1 Nông nghiệp công nghệ cao và nội hàm của phát triển nông nghiệp công nghệ cao
Theo Từ điển Bách khoa nông nghiệp Việt Nam, nông nghiệp là hoạt động sản xuất của con người nhằm tạo ra cái ăn (lương thực, thực phẩm…), cái mặc (bông, sợi…), nhà ở (gỗ, lứa, lá…) Tùy theo các căn cứ khác nhau, nông nghiệp được phân loại khác nhau Căn cứ theo lĩnh vực, nông nghiệp được chia thành các lĩnh vực (1) trồng trọt; (2) chăn nuôi; (3) Thủy sản Theo phương thức sản xuất, nông nghiệp được chia thành (1) Nông nghiệp truyền thống hay nông nghiệp sinh nhai: Là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào rất hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu mang tính tự cung
tự cấp, phục vụ chính cho gia đình của người nông dân, không có cơ giới hóa (2) Nông nghiệp sản xuất hàng hóa: Là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn hóa, hiện đại hóa trong tất cả các khâu của quy trình sản xuất nông nghiệp Nông nghiệp sản xuất hàng hóa có nguồn đầu vào sản xuất lớn và mức độ cơ giới hóa cao Sản phẩm nông nghiệp sản xuất ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại Các hoạt động sản xuất nông nghiệp sản xuất hàng hóa có thể ứng dụng KHCN vào các khâu từ sản xuất, chế biến đến phân phối để tăng năng suất và giá trị của cây trồng/vật nuôi nhằm tạo ra nguồn thu nhập tài chính cao nhất từ các hoạt động này cho nhà sản xuất
Ngoài cách phân loại trên, trong những năm gần đây xuất hiện thuật ngữ nông nghiệp công nghệ cao Theo quan niệm của các nước phát triển, nông nghiệp CNC là nền nông nghiệp tiên tiến, được hiện đại hóa và cơ giới hóa ở mức cao trên cơ sở vận dụng những thành tựu của công nghệ sinh học, sinh thái và môi trường Theo vụ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và PTNT, nông nghiệp công nghệ cao là một nền nông nghiệp được ứng dụng những công nghệ mới, tiên tiến trong các khâu của quá trình sản xuất để nâng cao hiệu quả, tạo bước đột phá về năng suất, chất lượng nông sản, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của xã hội, đem lại lợi nhuận cao cho người sản xuất và đảm bảo sự phát triển nông nghiệp bền vững Công nghệ cao được tích hợp ứng dụng trong nông nghiệp bao gồm: Cơ giới hóa các khâu của quá trình sản
Trang 35xuất, thu hoạch, sơ chế, chế biến , tự động hóa, ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ nguyên liệu mới, công nghệ sinh học như các giống cây trồng, vật nuôi vào trong quá trình sản xuất nông nghiệp để cho năng suất, chất lượng cao hoặc áp dụng các quy trình canh tác tiên tiến, canh tác hữu cơ cho hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị sản xuất Khác với nông nghiệp truyền thống, nông nghiệp công nghệ cao có cần quy
mô đủ lớn, có mức độ tập trung cao hơn, đáp ứng nhu cầu thị trường cao hơn, đem lại lợi nhuận hơn cho người sản xuất, sử dụng nhiều máy móc, kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất cho năng suất lao động cao và hiệu quả hơn Theo tác giả Huy Tú (2017), nông nghiệp CNC là nền sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại với sự tích hợp của nhiều ngành công nghệ hiện đại từ cơ khí, điện tử, tự động hóa, hóa học, CNTT, sinh học, khí tượng, tài chính, quản trị kinh doanh, chế biến, bảo quản… để sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp chất lượng và hiệu quả cao “Công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng, thân thiện với môi trường, có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hoá ngành sản xuất, dịch vụ hiện có” (Luật Công nghệ cao, 2008) Theo đó, nông nghiệp công nghệ cao là nền nông nghiệp tiên tiến, hiện đại hóa, cơ giới cao, trên cơ sở vận dụng những thành tựu công nghệ sinh học, sinh thái và môi trường; hướng tới sự phát triển bền vững, an toàn; đảm bảo tạo ra nông sản với đủ số lượng và chất lượng cao nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của xã hội và không làm thay đổi môi trường” Ở Việt Nam, “Nông nghiệp công nghệ cao còn được định nghĩa là nền nông nghiệp được áp dụng những công nghệ mới vào sản xuất, bao gồm: công nghiệp hóa nông nghiệp, tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học và các giống cây trồng, giống vật nuôi có năng suất và chất lượng cao, đạt hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích và phát triển bền vững trên cơ sở canh tác hữu cơ” (Vụ Khoa học Công nghệ
- Bộ NN & PTNT)
Như vậy, mục tiêu cuối cùng của nông nghiệp CNC là giải quyết mâu thuẫn giữa năng suất, chất lượng thấp, đầu tư công lao động nhiều song hiệu quả kinh tế thấp với việc áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất để sản xuất nông nghiệp tăng năng suất, sản lượng, hiệu quả và chất lượng cao Theo quan điểm của các chuyên gia, nông nghiệp CNC ở Việt Nam hiện nay bao gồm các nội dung sau đây: (1) Lựa chọn những công nghệ, kỹ thuật tiên tiến nhất về giống, canh tác, chăn nuôi, công nghệ tưới, sau thu hoạch - bảo quản - chế biến để ứng dụng vào từng lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý, xây dựng thương
Trang 36hiệu, xúc tiến thị trường; (2) Sản phẩm nông nghiệp CNC là sản phẩm hàng hoá mang tính đặc trưng của từng vùng sinh thái, thổ nhưỡng khác nhau, đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao, có khả năng cạnh tranh cao, có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất và sản lượng hàng hoá; (3) Sản xuất nông nghiệp CNC tạo ra sản phẩm phải theo một chu trình, quy trình khép kín, trong sản xuất đảm bảo khắc phục được những yếu tố rủi ro của tự nhiên và hạn chế rủi ro của thị trường; (4) nông nghiệp CNC được phát triển theo từng thời điểm, giai đoạn và mức độ khác nhau và tình hình cụ thể của từng nơi, nhưng phải đạt được những đặc trưng cơ bản đó là tạo ra được hiệu quả lớn hơn nhiều
so với sản xuất bình thường
Nông nghiệp công nghệ cao có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, cụ thể là:
- Nông nghiệp CNC có năng suất cao, tạo ra một lượng sản phẩm lớn, chất
lượng tốt và đặc biệt là thân thiện với môi trường
Đồng thời, việc ứng dụng khoa học công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp còn giúp tiết kiệm các chi phí như: Nước, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và góp phần bảo vệ môi trường Chính những lợi ích như vậy mà sản xuất nông nghiệp CNC đã và đang trở thành tất yếu, hình mẫu cho nền nông nghiệp thế kỷ XXI
- Nông nghiệp công nghệ cao sẽ giúp người sản xuất chủ động trong sản xuất,
giảm sự phụ thuộc vào thời tiết, khí hậu do đó quy mô sản xuất được mở rộng
Việc ứng dụng các thành tựu công nghệ, kỹ thuật vào các cơ sở trồng trọt chăn nuôi hiện đại để không phụ thuộc vào thời tiết, khí hậu đã làm cho nông dân chủ động được kế hoạch sản xuất của mình, đồng thời khắc phục được tính mùa vụ nghiệt ngã trong sản xuất nông nghiệp Do việc không phụ thuộc mùa vụ, thời tiết nên nông dân
có thể sản xuất ra các sản phẩm nông nghiệp trái vụ có giá bán cao hơn và đạt lợi nhuận cao hơn các sản phẩm chính vụ Mặt khác nông nghiệp công nghệ cao cũng tạo
ra môi trường nhân tạo thích hợp với các giống cây trồng mới có sức chịu đựng cao hơn và chống chịu sâu bệnh lớn hơn Đặc biệt rất phù hợp với các vùng đất không thuận với sản xuất nông nghiệp như: Vùng trung du, miền núi, vùng bị sa mạc hóa, và các vùng bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu, thời tiết
- Sản xuất nông nghiệp CNC giúp giảm giá thành sản phẩm, đa dạng hóa sản
phẩm, thương hiệu và tăng tính cạnh tranh trên thị trường
Áp dụng CNC vào sản xuất nông nghiệp sẽ làm tăng hiệu quả trong việc sử dụng tài nguyên đất, nước do những đặc điểm vượt trội của các công nghệ, như: Công
Trang 37nghệ kỹ thuật sinh học, công nghệ gen, công nghệ sản xuất phân hữu cơ và tự động hóa sản xuất Sản xuất nông nghiệp CNC giúp tiết kiệm chi phí, tăng năng xuất cây trồng vật nuôi, do đó sản xuất rễ ràng đạt được hiệu quả theo quy mô và tạo ra nền sản xuất lớn với lượng sản phẩm đủ để phục vụ cho quá trình chế biến công nghiệp để đáp ứng yêu cầu của thị trường Cũng nhờ đó mà thương mại hóa được sản phẩm và tăng cạnh tranh trên thị trường
Hiện nay, các cơ quan chức năng đã đưa ra một số tiêu chí về nông nghiệp CNC trên một số khía cạnh như sau: (i) Về kỹ thuật: Đó là khi quá trình sản xuất nông nghiệp có ứng dụng công nghệ mới, tiên tiến, hiện đại để tạo ra sản phẩm làm tăng năng suất ít nhất 30% và chất lượng vượt trội so với công nghệ đang sử dụng; (ii) Về kinh tế: là sản phẩm ứng dụng CNC làm cho hiệu quả kinh tế cao hơn ít nhất 30% so với công nghệ đang sử dụng; (iii) Nếu là doanh nghiệp nông nghiệp CNC phải tạo ra năng suất, hiệu quả tăng ít nhất gấp 2 lần Nếu là vùng nông nghiệp CNC tăng ít nhất 30% Chúng ta có thể nói đến một số công nghệ đang áp dụng cũng có thể gọi là công nghệ cao như: che phủ nylon, do nylon giữ ẩm, phòng trừ cỏ dại, có thể cho năng suất vượt trên 30% năng suất thông thường; công nghệ sử dụng ưu thế lai trong lai tạo giống, công nghệ sinh học giúp năng suất trên 30%; trong thuỷ sản như phương pháp sản xuất cá đơn tính; về kỹ thuật như tưới nước tiết kiệm, nhà màng…cũng là công nghệ cao
Các loại hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở Việt Nam có thể chia thành như sau:
- Các khu nông nghiệp công nghệ cao: (i) Đối với các quốc gia phát triển, Khu
nông nghiệp CNC với hai chức năng chủ yếu: Phát triển du lịch, phục vụ tham quan,
thưởng thức cảnh quan, lan tỏa nâng cao sự hiểu biết của người dân và thay đổi phương thức nghỉ ngơi (ii) Đối với các quốc gia đang phát triển: Mục tiêu chính của các khu nông nghiệp CNC là sản xuất, tại đây người ta trưng bày, trình diễn các loại
nông sản có giá trị cao, các thiết bị sản xuất có khoa học kỹ thuật cao và thực hiện chức năng đào tạo và chuyển giao công nghệ, kỹ thuật Tại Việt Nam, khu nông nghiệp CNC là khu công nghệ cao tập trung thực hiện hoạt động nghiên cứu, đào tạo, chuyển giao, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ vào lĩnh vực nông nghiệp
Khu nông nghiệp CNC là lãnh thổ xác định, không quá lớn về diện tích nhưng ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất nên cho năng suất và chất lượng nông sản cao, sức cạnh tranh lớn và hiệu quả kinh tế cao Tóm lại, khu nông nghiệp CNC có những chức năng chủ yếu là điểm để trình diễn các sáng tạo khoa học công
Trang 38nghệ; nơi hội tụ, thu hút nhân tài, đầu tư; địa điểm để đổi mới công nghệ, khu ươm tạo
và đào tạo công nghệ
Khu nông nghiệp CNC là khu vực khép kín từ sản xuất - chế biến - tiêu thụ nông sản; là một trong những hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp mới; vai trò là hạt nhân của sự phát triển nông nghiệp theo hướng CNC, là mô hình tổ chức nông nghiệp theo hướng phát triển bền vững, hỗ trợ, dẫn dắt, định hướng cho nhà đầu tư, các hợp tác xã, nông hộ cá thể học tập và ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào trong sản xuất
- Các mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao
Những mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ, kỹ thuật cao trong nông nghiệp nhưng chủ yếu tập trung vào khâu sản xuất Đối với các mô hình này, thường ứng dụng các kỹ thuật sản xuất hiện đại như: Kỹ thuật trồng cây không cần đất, cung cấp giá đỡ nhân tạo cho cây, thay thế vai trò của đất, chủ động cung cấp thức ăn cho cây trồng thông qua dung dịch dinh dưỡng; phương pháp thủy canh; phương pháp khí canh; kỹ thuật trồng cây trên giá thể là kỹ thuật mà cây được gieo trồng trên các loại giá thể và chúng được cung cấp chất dinh dưỡng thông qua dung dịch tưới lên giá thể
- Các vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao
Vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao là vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, ứng dụng thành tựu của khoa học, công nghệ và kỹ thuật CNC vào lĩnh vực nông nghiệp để sản xuất một hoặc một vài nông sản hàng hóa và hàng hóa xuất khẩu chiến lược dựa trên các kết quả chọn tạo, nhân giống, gieo trồng cho năng suất, chất lượng cao; phòng, trừ dịch bệnh; trồng trọt, chăn nuôi đạt giá trị kinh tế, hiệu quả cao;
là vùng sản xuất sử dụng các loại vật tư, máy móc, trang thiết bị hiện đại trong nông nghiệp; bảo quản, chế biến sản phẩm nông sản và dịch vụ CNC trong sản xuất nông nghiệp, nhằm tạo ra một lượng lớn nông sản hàng hóa và tập trung
Vùng nông nghiệp CNC là hình thức sản xuất phổ biến và mang tính đại trà, có
ý nghĩa thực tiễn tại các quốc gia có diện tích đất nông nghiệp rộng và đang phát triển như Việt Nam Vùng sản xuất nông nghiệp CNC này phù hợp với các đối tượng cây con cần khoảng không gian lớn; tận dụng được các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của vùng (quy tụ được diện tích sản xuất lớn, thu hút được nguồn nhân lực khoa học)
có thể áp dụng nhiều kỹ thuật canh tác hiện đại với đối tượng cây con đặc trưng nên sẽ tạo được vùng sản xuất nông nghiệp lớn theo hướng ứng dụng công nghệ cao vào trong sản xuất nông nghiệp Việc sản xuất theo hình thức này cũng gặp phải những hạn chế như: ứng dụng công nghệ thiếu tính đồng bộ nên chất lượng sản phẩm không cao,
Trang 39không đáp ứng yêu cầu thị trường; thị trường tiêu thụ nông sản không ổn định và hiệu quả kinh tế không cao
- Dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
Dự án nông nghiệp ứng dụng CNC là dự án, phương án sản xuất kinh doanh phải đáp ứng đồng thời các tiêu chí, cụ thể như sau: (i) Công nghệ ứng dụng trong dự
án, phương án sản xuất kinh doanh ứng dụng CNC trong nông nghiệp có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng được ban hành kèm theo Quyết định số 66/2014/QĐ-TTg ngày 25/11/2014 và Quyết định số 13/2017/QĐ-TTg ngày 28/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ; (ii) Sản phẩm sản xuất ra phù hợp tiêu chuẩn quốc gia hoặc tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng; (iii) Sản phẩm được cấp chứng nhận hoặc cam kết công bố áp dụng hệ thống quản lý chất lượng trong phương án sản xuất kinh doanh ứng dụng CNC theo các tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2015, GAP, GMP hoặc tiêu chuẩn quốc tế tương đương về quản lý chất lượng sản phẩm; (iv) Phải đảm bảo đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường; trường hợp chưa có tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường
Phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, do đó, phát triển nông nghiệp công nghệ cao chính là sự gia tăng về quy mô, sản lượng nông nghiệp có ứng dụng CNC nhằm đem tới sự thay đổi về năng suất, chất lượng, cơ cấu và giá trị sản phẩm nông nghiệp
Phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC vào các khâu, các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh nông nghiệp để đem lại năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm nông nghiệp cao hơn, bao gồm các nội dung sau:
- Lựa chọn những công nghệ tiến bộ nhất về giống, canh tác, chăn nuôi, công nghệ tưới, sau thu hoạch – bảo quản – chế biến ứng dụng vào từng lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Tập trung từng bước ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình quản
lý, xây dựng thương hiệu sản phẩm và xúc tiến thị trường
- Lựa chọn sản xuất và cung ứng các sản phẩm nông nghiệp CNC mang tính đặc trưng của từng vùng sinh thái, có năng suất và hiệu quả kinh tế cao trên đơn vị diện tích, có khả năng cạnh tranh cao về chất lượng với các sản phẩm cùng loại trên thị trường trong nước và thế giới, có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất và sản lượng hàng hoá khi có yêu cầu của thị trường
Sản xuất nông nghiệp CNC sẽ khắc phục được những yếu tố rủi ro của tự nhiên
và hạn chế rủi ro của thị trường nhờ việc tạo ra sản phẩm theo một chu trình khép kín,
Trang 40trong sản xuất Phát triển nông nghiệp CNC được thực hiện theo từng giai đoạn với mức độ phát triển khác nhau, tuỳ tình hình cụ thể của từng địa phương Vì vậy, phát triển nông nghiệp CNC có các vai trò như sau:
- Thứ nhất tăng sản lượng sản phẩm nông nghiệp, từ đó đáp ứng được nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng của xã hội, trong đó có cả những người thu nhập thấp, nhờ tạo ra được khối lượng sản phẩm lớn với giá bán rẻ hơn
- Thứ hai, tạo số lượng hàng hóa lớn với chất lượng cao, đồng đều; do đó, có thể tham gia chuỗi giá trị và thương mại toàn cầu nhờ đáp ứng được yêu cầu về nguồn cung ứng cũng như chất lượng sản phẩm theo tiêu chí của thị trường và có thể truy xuất được nguồn gốc
- Thứ ba, mang lại thu nhập lớn cho doanh nghiệp nhờ tạo ra được năng suất sản phẩm lớn nhất trên mỗi đơn vị tài nguyên sử dụng với giá thành thấp nhất nhờ quy
mô sản xuất lớn và áp dụng các công nghệ sản xuất có hiệu quả cao
- Thứ tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho địa phương và quốc gia khi doanh thu từ sản xuất tăng lên, đóng thuế từ doanh nghiệp tăng và đồng thời hình thành mới các dịch vụ hỗ trợ
- Thứ năm, tạo thêm công ăn việc làm cho một số bộ phận dân cư và cơ hội khởi nghiệp cho doanh nghiệp địa phương trên cơ sở hình thành các thị trường sản phẩm có giá trị gia tăng mới
- Thứ sáu, tạo giá trị gia tăng cho một số sản phẩm địa phương (kể cả phụ phẩm nông nghiệp), hình thành các sản phẩm hàng hóa đặc sản chủ lực của quốc gia, vùng
và địa phương (mỗi làng một sản phẩm)
Phát triển nông nghiệp CNC giúp ngành nông nghiệp giải quyết các thách thức bằng các ưu việt trong quá trình phát triển của các công nghệ như: Công nghệ sinh học, nhà kính, tưới nhỏ giọt, cảm biến, tự động hóa, internet vạn vật… giúp sản xuất nông nghiệp tăng năng suất, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường Thêm vào đó, nông nghiệp CNC giúp nông dân chủ động hơn trong sản xuất, khắc phục được tính mùa vụ, giảm sự lệ thuộc vào thời tiết, khí hậu Phát triển nông nghiệp CNC thực sự là một trong các giải pháp quan trọng đóng góp có hiệu quả, tạo ra chuyển biến mạnh mang tính đột phá trong phát triển sản xuất nông nghiệp, góp phần đẩy nhanh tái cơ cấu nền nông nghiệp, nâng cao đời sống của người dân