Tuy nhiên cùng với những lợi ích mang lại từ giao thương quốc tế thì khơng tránh khỏi sự cạnh tranh gay gắt trên một thị trường rộng lớn địi hỏi các nhà xuất khẩu phải tìm kiếm một sự hỗ
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong điều kiên hội nhập kinh tế quốc tế và thương mại tồn cầu như hiện nay, vấn đề giao thương quốc tế và hoạt động xuất khẩu ngày càng trở nên phổ biến và khơng ngừng phát triển điều này tạo nên nhiều cơ hội vàg thách thức cho các nhà xuất khẩu, thực tế so với việc trao đổi hàng hĩa nội địa thì thựuc hiện bán hàng ra thị trường thế giới mang lại rất nhiều lợi ích về lợi nhuận, thị trường mở rộng, cĩ nguồn ngoại tệ dồi dào Đối với Chính phủ đây được xem là một trong những mũi nhọn kinh tế then chốt trong chiến lược phát triển quốc gia Tuy nhiên cùng với những lợi ích mang lại từ giao thương quốc tế thì khơng tránh khỏi sự cạnh tranh gay gắt trên một thị trường rộng lớn địi hỏi các nhà xuất khẩu phải tìm kiếm một sự hỗ trợ rất lớn về mặt tài chính cũng như về matự kinh tế từ các ngân hàng thương mại, bảo đảm hạn chế những rủi ro cĩ thể xảy ra trong quá trình thanh tốn đối với doanh nghiệp xuất khẩu, những nguy cơ rủi ro trong thực hiện giao dịch, khoảng cách địa lý, về loại tiền thanh tốn và những biến động tỷ giá hối đối…
Với thực tế như trên, cĩ thể nĩi ngân hàng trong việc tài trợ ngoại thương đống vai trị rất quan trọng đối với hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp
Việt Nam Do đĩ tơi đã lựa chọn đề tài: “HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ XUẤT
KHẨU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI” nhằm làm rõ vai trị cũng như
những tác động cảu ngân hàng đối với hoạt động xuất khẩu của các doanh
nghiệp, mặt khác nĩi lên được những lợi ích mà ngân hàng cĩ được trong hoạt động tài trợ cảu mình
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Những vấn đề cơ bản trong tài trợ xuất khẩu của ngân hàng
- Nghiên cứu hình thứuc tài trợ xuất khẩu của NHTM
Trang 23 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu.
- Mục tiêu nghiên cứu: làm rõ những ảnh hưởng của ngân hàng đối với hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp như thế nào, đồng thời nêu lên những lợi ích
mà ngân hàng có được khi tài trợ xuất khẩu
- Để đạt được mục tiêu trên đề tài tập trung giải quyết nhiệm vụ chủ yếu sau: + Những hình thức tài trợ xuất khẩu của ngân hàng thưong mại
+ Thực tế hoạt động tài trợ xuất khẩu của NHTM hiện nay
4 Bố cục
Đề tài được chia làm 3 phần:
Phần một: Cơ sở lý luận
Phần hai: Những hình thức tài trợ xuất khẩu
Phần ba: Thực tế trong tài trợ xuất khẩu của NHTM
Sinh viên thực hiện
Bùi Thị Kim Oanh
Trang 3PHẦN MỘT: CƠ SỞ LÝ LUẬN.
I.1 Khái niệm tài trợ xuất khẩu.
Tài trợ xuất khẩu là một bộ phận trong tài trợ ngoại thương của ngân hàng Tài trợ ngoại thương bao gồm các hoạt động mang tính chất tài trợ cảu ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu đặc thù về tài chính và uy tín trong kinh doanh của các doanh nghiệp xuất khẩu và nhập khẩu trong quá trinh giao dich ngoại
thương
I.2 Đối tượng được tài trợ xuất khẩu.
Là những nhu cầu vốn tạm thời thiếu hụt của khách hàng trong quá trình kinh doanh xuất khẩu (quá trình thu gom hàng cũng như chế biến hàng hóa chuẩn bị xuất khẩu), nhất là đối với khách hàng là các tổ chức xuất khẩu lớn và uy tín, có nhứng hợp đống xuất khẩu liên tục
Điều kiện để nhận được tài trợ:
Doanh nghiệp phải đượcpháep kinh doanh xuất khẩu
Nếu doanh nghiệp không có chức năng kinh doanh xuất khẩu thì phải có hợp đồng ủy thác xuất khẩu
Dự án phải có hiệu quả kinh tế, xác định được nguồn trả nợ, kết quả kinh doanh của khách hàng không bị lỗ, không có nợ quá hạn ngân hàng
I.3 Vai trò tài trợ xuất khẩu của NHTM
- Không những hỗ trợ về mặt tài chính (cấp tín dụng) để hoàn tất nghĩa vụ thanh toán và sản xuất trong quan hệ kinh tế đối ngoại mà còn hỗ trợ về mặt kỹ thuật, bảo đảm các quá trình thanh toán cho những hoạt động chu chuyển với nước ngoài, đồng thời đảm nhận những rủi ro gắn liền với những hoạt động đó
- Với những hợp đồng xuất khẩu giá trị lớn và vừa, vốn lưu động của khách hàng (các doanh nghiệp) thường là không đủ để thực hiện hợp đồng, họ sẽ nhờ đến nguồn vốn của ngân hàng thồn qua tài trợ Ngân hàng lúc này vừa đóng vai trò là ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu, vừa là ngân hàng tài trợ cho việc thực hiện hợp đồng, đồng thời với quá trình tài trợ, để bảo đảm nguồn vốn được tài
Trang 4trợ đúng mục đích, quản lý được nguồn thu, ngân hàng sẽ tham gia thanh toán quốc tế với vai trò là ngân hàng thương lượng, ngân hàng nhờ thu
- Thúc đẩy việc xuất khaủa hàng hóa, mang lại nguồn thu nhập lớn cho quốc gia, tạo điềukiện cho sự phát triển kinh tế
Trang 5PHẦN HAI: CÁC HÌNH THỨC TÀI TRỢ XUẤT KHẨU
2.1 Cho vay thực hiện hàng xuất khẩu theo L/C đã mở.
Mỗi lô hàng giao ra nước ngoài đều đòi hỏi một loại tài trợ nào đó trong quá trình sản xuất và vận chuyển Nhà xuất khẩu co thể dựa vào L/C đã mở để yêu cầu ngân hàng phục vụ mình cấp một khoản tín dụng nhằm thực hiện xuất hàng theo các điều khoản đã quy định của L/C
2.2 Chiết khấu hối phiếu.
Chiết khấu hối phiếu là một hình thức tín dụng của ngân hàng cấp cho khách hàng dưới hình thức mua lại hối phiếu trước khi đến hạn thanh toán Chiết khấu hối phiếu tạo điều kiện thuận lợi cho nhà xuất khẩu nhận được tiền sớm hơn nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn đối với khoản tín dụng cung ứng hàng ma anh ta
đã cấp cho nhà nhập khẩu cơ sở để xác định khối lượng tín dụng này là giá trị của hối phiếu sau khi đã trừ đi giá trị chiết khấu và lệ phí nhờ thu mà ngân hàng chiết khẩu hưởng
2.3 chiết khấu chứng từ thanh toán theo hình thức tín dụng chứng từ.
Để đáp ứng nhu cầu vốn, nhà xuất khẩu sau khi giao hàng xong có thể thương lượng với ngân hàng để ngân hàng thựuc hiện chiết khấu bộ chứng từ hoặc ứng trước tiền trước khi bộ chứng từ được thanh toán Như vậy đối với nhà xuất khẩu thì L/C không chỉ là công cụ bảo đảm thanh toán mà còn là công cụ bảo đảm tín dụng
2.4 Cho vay trên cơ sở bộ chứng từ thanh toán theo phương thức nhờ thu.
Hầu hết các ngân hàng sẵn sàng cấp các khoản thấu chi cho các khách hàng xuất khẩu thực hiện các hợp đồng mà thời hạn thanh tóan lên tới 6 tháng Khi một ngân hàng xử lý các chứng từ gửi hàng bằng cách chuyển chứng cho một ngân hàng đại lý ở nước ngoài để nhờ thu, ngân hàng thường sẵn sàng cung cấp một khoản ứng trước theo một tỷ lệ phần trăm thỏa thuận tính trên các khoản nhờ thu tồn đọng còn chưa đuợc nhận tiền trong một số trường hợp, vật đảm bảo
Trang 6được chấp nhận cho khoản úng trước sẽ là các chứng từ gửi hàng đem lại quyền kiểm soát hàng hóa cùng với các tờ hối phiếuđang trong quá trình nhờ thu Phương thức này cũng có nhiều điểm tương tự như hình thức chiết khấu bộ chứng từ thanh toán theo phương thức tín dung chứng từ tuy nhiên trong trường hợp bộ chúng từ thanh toán theo phương thức nhờ thu thì một số ngân hàng sử dụng cụm từ “ ứng trước tiền hàng xuất khẩu” và công việc thẩm định sẽ giao cho phòng tín dụng phụ trách Và đối với loại hình tài trợ này, vì mứuc độ rủi ro rất cao nên lãi suất tài trợ cũng cao hơn so với các hình thứuc tài trợ khác , ngoài
ra để được tài trợ thì khách hàng cũng cần có tài sản đảm bảo
2.5 Bao thanh toán quốc tế (Factoring quốc tế).
2.5.1 Khái niệm:
Nghiệp vụ bao thanh toán chính là hình thứuc tài trợ cho nhứng khoản thanh toán chưa đến hạn từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng hàng hóa và dịch vụ, đó chính là hoạt động mua bán nợ
2.5.2 Bao thanh toán quốc tế.
Là nghiệp vụ bao thanh toán dựa trên hợp đồng xuất khẩu hàng hóa, các khách hàng và con nợ là những doanh nghiệp ở các nước khác nhau Vai trò của đơn vị bao thanh toán là thu tiền nợ nước ngoài bằng việc tiếp cận với nhà nhập khẩu tại nước của họ, bằng ngôn ngữ của họ và tập quán kinh doanh của địa phương
2.5.3 Các bên tham gia trong nghiệp vụ bao thanh toán.
Đơn vị bao thanh toán (factor)
Ngưòi bán (seller)
Ngưòi mua (buyer)
- Người mua nợ hay đơn vị bao thanh toán (factor): là ngân hàng, công ty tài chính chuyên thực hiện việc mua bán nợ và các dịch vụ khác liên quan đến mua bán nợ trong nghiệp bao thanh tóan quốc tế, sẽ có hai đơn vị bao thanh toán, một đơn vị ban thanh toán tại nước của nhà xuất khẩu và một đơn vị bao thanh toán tại nước của nhà nhập khẩu
Trang 7- Người bán nợ hay nhà xuất khẩu (client, seller): các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa hoặc kinh doanh dịch vụ có những khoản nợ chưa tới hạn thanh toán
- Người mắc nợ hay nhà nhập khẩu (buyer, im-porter) hay còn gọi là nguời phải trả tiền, đó chính là người mua hàng hóa hay nhận các dịch vụ cung ứng
2.5.4 Lợi ích có được từ nghiệp vụ bao thanh toán của NHTM.
Thu được các loại phí và lệ phí, cung cấp thêm các dịch vụ kèm theo, từ đó, góp phần tăng doanh số và lợi nhuận hoạt động ngoài ra ngân hàng có thể tiếp quản việc quản lý sổ cái bán hàng của khách hàng, sau đó gởi các hóa đơn và bảo đảm nhận được tiền thanh toán Nhờ vậy, có thể kiểm soát được khoản phải thugiúp giảm thiểu rủi ro thu hồi nợ ngoài ra với hình thức bao thanh toán thì ngân hàng sẽ giữ được khách hàng nhờ việc đa dạng hóa sản phẩm cũng như thu hút thêm khách hàng mới cho các dịch vụ khác
2.6 Quy trình tài trợ xuất khẩu.
2.6.1 Lập chính sách tài trợ xuất khẩu của NHTM
Để hoạt động tài trợ xuất khẩu mang lại hiệu quả, thì ngân hàng cần xây dựng được chiến lược thu hút và khuyến khích tài trợ xuất khẩu cho mình Phần quan trọng chiến lược này cính là việc xây dựng chính sách tài trợ xuất khẩu
- Tiêu chuẩn khách hàng được xem xét tài trợ xuất khẩu
- Các hoạt động xuất khẩu được ngân hàng xem xét tài trợ
- Những ưu đãi mà ngân hàng dành cho khách hàng
bên cạnh các tiêu chuẩn trên, ngân hàng cần giới thiệu đến khách hàng những thông tin khác:
- Các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho hạot động xuất khẩu của doanh nghiệp như: thông tin thị trường, thông tin khách hàng, nghiệp vụ thanh toán quốc tế, nghiệp vụ mua bán ngoại tệ
- Các quy định cụ thể trong tài trợ xuất khẩu: tiêu chuẩn khách hàng, thời hạn tài trợ, biện pháp bảo đảm tiền vay…
Trang 82.6.2 Giám sát tài trợ xuất khẩu
Đóng vai trò hết sức quan trọng để đảm bảo việc thực thi các nghĩa vụ của khách hàng và giảm thiểu rủi ro của ngân hàng Quá trình giám sát tài trợ xuất khẩu trước khi giao hàng được chia làm ba phần với từng công việc cụ thể, bao gồm:
2.6.2.1.thủ tục hồ sơ
Tài trợ xuất khẩu có một số điểm tương đồng nhất định với cho vay ngắn hạn thông thường do đó các biểu mẫu văn bản, hồ sơ, chứng từ được in sẵn theo một chuẩn mực nhất định nhằm tạo thuận lợi cho việc xử lý thông tin và ra quyết định cho vay, các hồ sơ vay vốn chủ yếu tại các NHTM gồm:
- Tờ trình thẩm định cho vay vốn
- giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án trả nợ ngắn hạn
- Hợp đồng tín dựng ngắn hạn – loại cho vay theo từng thương vụ
- Hợp đồng tín dụng – loại cho vay theo hạn mức
2.6.2.2 Xem xét các điều kiện cần thiết trước khi giải ngân
Trước khi giải ngân, ngân hàng thường đòi hỏi nhà xuất khẩu phải chấp hành một số điều kiện bắt buộc sau:
- Trình bản gốc đơn đặt hàng hay hợp đồng thương mại có hiệu lực hoặc L/C (nếu đã được mở)
- Phương án đảm bảo thu gom hàng xuất khẩu hoặc mua sắm vật tư nguyên liệu sản xuất hàng hóa từ các nhà cưng ứng
- Giải trình về năng lực kinh doanh, sản xuất của khách hàng trong quá trình thực hiện thương vụ xuất khẩu
- Trình các chứng từ cần thiết như giấy phép xuất khẩu
2.6.2.3 Giám sát quá trình sử dụng vốn.
Sau khi đã giải ngân cho khách hàng, ngân hàng phải giám sát việc sử dụng tiền của khách hàng nhằm đảm bảo tiền được sử dụng đúng mục đích Trong giai đoạn này cần lưư ý những giai đoạn được cho là hay phát sinh vướng mắc như:
- Khâu xác nhận đơn hàng
- Khâu thu mua vật tư hàng hóa
Trang 9- Quá trình sản xuất hàng hóa xuất khẩu
- Lưu kho và bảo quản hàng hóa
- Đóng gói hàng hóa
- Vận chuyển hàng hóa đến kho và ra cảng…
- …
Nhìn chung, điều quan trọng trong quá trình giám sát tài trợ xuất khẩu là ngân hàng phải luôn cập nhật thông tin chi tiết trong từng giai đoạn của thương
vụ để làm được điều này, ngân hàng phải yêu cầu khách hàng phải báo cáo và gửi bản sao chứng từ làm bằng chưúng cho tiến trình giải ngân Bằng cách này, ngân hàng có thể kiểm tra mức độ rủi ro có thể phát sinh trong suốt quá trình tài trợvà tìm biện pháp giải quyết
Trang 10PHẦN BA: THỰC TẾ TRONG TÀI TRỢ XUẤT
KHẨU CỦA NHTM.
3.1 – Tình hình xuất khẩu Việt Nam hiện nay.
Hiện nay khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã đang ảnh hưỏng tới nền kinh tế thế giới, trong cơn bão suy thoái toàn cầu, kinh tế Việt nam chịu tác động không nhỏ, đặc biệt là các doanh nghiệp xuất khẩu, nó ảnh hưởng rõ nét đến kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong những tháng cuối năm 2008 và tiếp tục ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu ngay trong tháng đầu năm 2009
Trong tháng 1/2009, kim ngạch xuất khẩu của cả nước ước đạt 3,8 tỷ USD, giảm 24,2% so với cùng kỳ năm trước (tương đương với 1,2 tỷ USD) và giảm 18,6% so với tháng 12/2008
Có thể thấy, kim ngạch xuất khẩu giảm do cả giá và lượng đều suy giảm Trong đó, giá xuất khẩu của tất cả các mặt hàng tiếp tục giảm sâu là nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu Mặt hàng dầu thô mặc dù lượng xuất khẩu tăng nhưng do giá xuất khẩu giảm đã làm giảm 576 triệu USD so với cùng kỳ
Các mặt hàng nông sản khác như cà phê, nhân điều, chè lượng xuất khẩu giảm khoảng từ 20-30% và giá xuất khẩu giảm khoảng 30% so với cùng kỳ năm ngoái
Các mặt hàng công nghiệp chế biến như dệt may, da giầy, hàng điện tử linh kiện máy tính, sản phảm gỗ, sản phẩm nhựa Kim ngạch xuất khẩu đều giảm từ 20
- 30% So với tháng 1/2008, trong tháng đầu năm nay duy nhất có mặt hàng gạo tăng
cả về lượng và trị giá (lượng tăng 229% và trị giá tăng 254%)
Trang 11 Nguyên nhân của sự sụt giảm trên.
Nguyên nhân kim ngạch xuất khẩu ngay trong tháng đầu năm 2009 giảm do nhu cầu tiêu dùng trên thế giới giảm đã làm cho các ngành như dệt may, hàng điện
tử, sản phẩm gỗ… gặp khó khăn trong ký kết hợp đồng mới
Thanh toán gặp khó khăn nên các doanh nghiệp thận trọng trong ký kết hợp đồng Bên cạnh đó, kinh tế thế giới suy thoái đã khiến cho tiêu thụ các mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam khó khăn trong khâu tìm đầu ra
Mặt hàng chiếm kim ngạch xuất khẩu lớn của Việt Nam là dầu thô nhưng giá dầu thế giới giảm, tình hình thế giới có nhiều biến động nên việc tìm kiếm khách hàng cũng rất khó khăn
Giá của hầu hết các mặt hàng xuất khẩu như: cà phê, chè, hạt tiêu, nhân điều, rau quả, cao su Đều giảm so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước Mặt hàng thuỷ sản, giá giảm kéo dài đã không khuyến khích nông dân nuôi tôm xuất khẩu làm nguồn xuất khẩu hạn chế
Trong khi nhu cầu tiêu dùng trên thế giới thu hẹp, cộng thêm với việc Nga ngừng nhập khẩu cá tra của Việt Nam càng làm cho xuất khẩu thủy sản khó khăn hơn
Riêng với mặt hàng dệt may (có kim ngạch xuất khẩu đứng thứ hai sau dầu thô), do đơn hàng xuất khẩu bị cắt giảm mạnh nên một số doanh nghiệp nước ngoài tại Đồng Nai, Bình Dương, Vũng Tàu, Long An… phải đóng cửa Dự kiến năm
2009, thị trường Mỹ sẽ giảm nhập khẩu trên 15% hàng dệt may; Giá hàng hóa tại các thị trường xuất khẩu chính dự kiến giảm trên 20%
Để tháo gỡ những khó khăn cho ngành dệt máy, vừa qua các doanh nghiệp đã kiến nghị Chính phủ xin hỗ trợ: trích 1% kim ngạch xuất khẩu để giải quyết khó khăn tài chính cho người lao động trong các xí nghiệp dệt may đang gặp khó khăn