Vai trò của luật sư trong quá trình tham gia tố tụng đã có những bước phát triển, nhất là trong hoạt động tố tụng. Kể từ khi các bộ luật tố tụng được sửa đổi bổ sung quyền luật sư được tham gia rộng hơn, các cơ quan tiến hành tố tụng đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư tham gia bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị can, bị cáo, đương sự, luật sư ngày càng được coi trọng hơn. Việc tham gia tố tụng của các luật sư không những bảo đảm tốt hơn quyền bào chữa của bị can, bị cáo, các đương sự khác, mà còn giúp các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện, sửa chữa những thiếu sót, làm rõ sự thật khách quan, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Nhưng thực tế với quy định của pháp luật cũng còn nhiều điều bất cập và người thực thi pháp luật có nhiều cách hiểu khác nhau, dẫn đến gây khó khăn cho luật sư khi tham gia quá trình tố tụng.Ngoài việc thay đổi đổi về pháp luật tố tụng, thì việc đào tạo nghề luật sư được Đảng và Nhà nước quan tâm tạo điều kiện cho mỗi thành phần trong xã hội được học tập và tổ chức nhiều thời gian phù hợp để mọi thành phần được tham gia. Nhưng pháp luật về luật sư hiện còn nhiều hạn chế, rào cản cho người tập sự hành nghề luật sư không được thực hành như những ngành nghề khác chỉ cho phép luật sư tập sự được tiếp cận hạn hẹp một số lĩnh vực so với hành nghề luật sự đang hoạt động.
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÀI TIỂU LUẬN MÔN LUẬT SƯ VÀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ LUẬT SƯ (Thi kết thúc học phầnLS1/Kỳ thi phụ)
Đề tài: Pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư ở Việt Nam
Thực trạng và hướng hoàn thiện
Họ và tên: Nguyễn Văn An
Số báo danh:
Ngày sinh: Ngày 20 tháng 10 năm 1985 Lớp: Đào tạo nghề Luật sư
Luật sư khóa: K22 tại Hậu Giang
Hậu Giang, ngày 01 tháng 09 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 3
Lời nói đầu: 3
PHẦN 2 NỘI DUNG 4
1 Thực trạng quá trình tập sự hành nghề luật sư hiện nay, đánh giá và kiến nghị: 4
1.1 Thực trạng tập sự hành nghề luật sư hiện nay: 4
1.2 Đánh giá các quy định pháp luật không phù hợp đối với tập sự hành nghề luật sư hiện nay: 6
1.3 Kiến nghị về quy định pháp luật đối với tập sự hành nghề luật sư 6
2 Thực trạng của luật sư trong quá trình tham gia tố tụng, đánh giá và kiến nghị: 6
2.1 Thực trạng của luật sư trong quá trình tham gia tố tụng: 6
2.2 Đánh giá những khó khăn vướng mắc hiện nay của luật sư trong quá trình tham gia tố tụng: 9
2.3 Kiến nghị hoàn hoàn thiện pháp lý để khắc phục những khó khăn hiện nay: 10
3 Thực trạng của luật sư trong việc không tố giác tội phạm, đánh giá và kiến nghị 11
3.1 Thực trạng của pháp luật quy định về việc trách nhiệm Luật sư không tố giác tội phạm: 11
3.2 Đánh giá quy định của BLHS với thực tiển hành nghề luật sư hiện nay: 11
3.3 Những kiến nghị sửa đổi quy định khoản 3 Điều 19 của BLTTHS hiện nay: 11
PHẦN 3 KẾT LUẬN 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 3DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 BLTTHS
Bộ luật tố tụng dân sự 2015 BLTTDS
Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ
Bộ Luật tố tụng hành chính 2015 BLTTHC
Luật luật sư 2012 và được sủa đổi bổ
Người tập sự hành nghề luật sư Luật sư tập sự
Trang 4BÀI TIỀU LUẬN
Pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư ở Việt Nam
Thực trạng và hướng hoàn thiện
PHẦN 1 MỞ ĐẦU Lời nói đầu:
Trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước không ngừng hoàn thiện về pháp luật nhất là về pháp luật tố tụng, luôn đặt ra bảo vệ các giá trị quyền con người được tôn vinh và là đích đến của toàn bộ hệ thống tư pháp Trong đó hoạt động của nghề Luật sư với sứ mệnh bảo vệ công lý, công bằng xã hội, được coi là một đại lượng để đánh giá uy tín và chất lượng của hoạt động tư pháp, là một tất yếu cho sự phát triển của Đất nước trong dòng chảy của xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Tại Nghị quyết 08- NQ/TW và Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị đã chỉ ra rằng
nghề Luật sư ở nước ta đang có những cơ hội phát triển đầy thuận lợi “Nhà nước tạo điều kiện về pháp lý để phát huy chế độ tự quản của tổ chức luật sư; đề cao trách nhiệm của các tổ chức luật sư đối với thành viên của mình".
Vai trò của luật sư trong quá trình tham gia tố tụng đã có những bước phát triển, nhất là trong hoạt động tố tụng Kể từ khi các bộ luật tố tụng được sửa đổi bổ sung quyền luật sư được tham gia rộng hơn, các cơ quan tiến hành tố tụng đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư tham gia bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị can, bị cáo, đương sự, luật sư ngày càng được coi trọng hơn Việc tham gia
tố tụng của các luật sư không những bảo đảm tốt hơn quyền bào chữa của bị can, bị cáo, các đương sự khác, mà còn giúp các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện, sửa chữa những thiếu sót, làm rõ sự thật khách quan, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Nhưng thực tế với quy định của pháp luật cũng còn nhiều điều bất cập và người thực thi pháp luật có nhiều cách hiểu khác nhau, dẫn đến gây khó khăn cho luật sư khi tham gia quá trình tố tụng
Ngoài việc thay đổi đổi về pháp luật tố tụng, thì việc đào tạo nghề luật sư được Đảng và Nhà nước quan tâm tạo điều kiện cho mỗi thành phần trong xã hội được học tập và tổ chức nhiều thời gian phù hợp để mọi thành phần được tham gia Nhưng pháp luật về luật sư hiện còn nhiều hạn chế, rào cản cho người tập sự hành nghề luật sư không được thực hành như những ngành nghề khác chỉ cho phép luật sư tập sự được tiếp cận hạn hẹp một số lĩnh vực so với hành nghề luật sự đang hoạt động
Truớc những khó khăn trong quá trình thực tập luật sư, cũng như trong quá trình hành nghề luật sư hiện nay còn nhiều bất cập Với tầm quan trọng như trên nên học viên mới chọn đề tài nghiên cứu: “Pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư ở Việt Nam – Thực trạng và hướng hoàn thiện”, để làm tiểu luận cho môn học.
Trang 5PHẦN 2 NỘI DUNG Thực trạng pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư ở Việt Nam
Đánh giá và kiến nghị
1 Thực trạng quá trình tập sự hành nghề luật sư hiện nay, đánh giá và kiến nghị:
1.1 Thực trạng tập sự hành nghề luật sư hiện nay:
Theo quy định của pháp luật người nào muốn hành nghề luật sư phải hội tụ đủ các điều kiện quy định tại Điều 10 Tiêu chuẩn luật sư, Điều 11 Điều kiện hành nghề luật sư, Điều 12 Đào tạo nghề luật sư của Luật luật sư Ngoài ra muốn cấp giấy chứng nhận hành nghề luật sư buộc Luật sư tập sự, đăng ký tập sự hành nghề tại tổ chức hành nghề luật sư với thời gian là 12 tháng, trừ những trừơng hợp quy định tại khoản 2 Điều
16 Luật luật sư Cho thấy quy trình tập sự hành nghề luật sư là điều kiện bắt buộc để cho Luật sư tập sư có kinh nghiệm trước khi trở thành luật sư chính thức Theo quy định tại khoản 3 Điều 14 Luật luật sư 2015 quy định Tập sự hành nghề luật sư quy
định như sau: “Người tập sự hành nghề luật sư được giúp luật sư hướng dẫn trong hoạt động nghề nghiệp nhưng không được đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng tại phiên tòa, không được ký văn bản tư vấn pháp luật Người tập sự hành nghề luật sư được đi cùng với luật sư hướng dẫn gặp gỡ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự, nguyên đơn, bị đơn và các đương sự khác trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính khi được người đó đồng ý; giúp luật sư hướng dẫn nghiên cứu hồ sơ vụ, việc, thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến
vụ, việc và các hoạt động nghề nghiệp khác; được tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng và thực hiện các dịch vụ pháp lý khác theo sự phân công của luật sư hướng dẫn khi được khách hàng đồng ý Luật sư hướng dẫn phải giám sát và chịu trách nhiệm về các hoạt động của người tập sự hành nghề luật sư quy định tại khoản này” Xét thấy
trong thời gian thực tập, Luật sư tập sự chỉ được làm những gì luật sư hướng dẫn cho
phép và Luật sư tập sự không được đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng tại phiên tòa, không được ký văn bản tư vấn pháp luật Với quy
định nêu trên còn nhiều vấn đề hạn chế trong việc thực hành đối với Luật sự tập sự Tuy nhiên hành nghề luật sư Việt Nam hiện nay hầu hết các Luật sư tham gia quá trình
tố tụng là chính, mà Luật luật sư lại hạn chế không cho Luật sư tập sự thực hành, là ngược với yêu cầu thực tiển hiện nay Trong khi đó theo khoản 2 Điều 3 Luật giáo dục
nghề nghiệp 2014 khái niệm Đào tạo nghề nghiệp “là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp” Như vậy theo yêu cầu đặt ra người học nghề phải có đầy đủ kiến thức cần thiết, nếu như Luật luật sư không cho Luật sư tập sự không được đại
Trang 6diện, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng tại phiên tòa, không được ký văn bản tư vấn pháp luật, Luật sư tập sự không được thực hành, chất
Trang 7lượng đào tạo không đạt yêu cầu của Luật giáo dục nghề nghiệp quy định Từ đó cho
thấy quy định tại khoản 3 Điều 14 Tập sự hành nghề luật sư của Luật luật sư 2015, so với Luật giáo dục nghề nghiệp 2014 là bất hợp lý Bởi vì, nghề luật sư, là một nghề thực hành và cộng với nghiên cứu pháp lý Luật sư tập sự chỉ được hỗ trợ nghiên cứu
hồ sơ, đi cùng luật sư hướng dẫn quan sát học hỏi… Xét về tâm lý cho thấy một người mang tư cách tham gia hỗ trợ và người trực tiếp tham gia trong vụ án là hai tâm lý hoàn toàn khác nhau, trách nhiệm khác nhau Đứng trước phiên toà để tranh luận, bảo
vệ quan điểm của mình không phải dễ, đòi hỏi luật sư tập sự phải có kỹ năng, được
“rèn dũa” qua những phiên toà, không phải ai cũng làm được nếu không có trải nghiệm
từ thực tiển
Theo quy định người đại diện được tham gia tố tụng cụ thể như sau: Tại Điều 85 Người Đại diện của BLTTDS và tại khoản 3 Điều 60 BLTTHC quy định Người đại
diện uỷ quyền “Người đại diện theo uỷ quyền trong tố tụng hành chính phải là người
có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, được đương sự hoặc người đại diện theo pháp luật của đương sự uỷ quyền bằng văn bản” Cho thấy pháp luật không bắt buộc người đại
diện phải trình độ, chỉ cần đáp ứng đủ điều kiện mà pháp luật quy định
Hơn nữa pháp luật quy định người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia các vụ án hình sự, dân sự, hành chính cụ thể như sau: Tại điểm b khoản 2 Điều 84 Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự của BLTTHS và căn cứ điểm d Điều 75 Người bảo vệ quyề lợi ích hợp pháp của đương sự của BLTTDS, ngoài ra tại điểm c khoản 2 Điều 61 Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp
của đương sự của BLTTHC quy định như sau “Công dân Việt Nam có năng lực hành
vi dân sự đầy đủ có kiến thức pháp lý, chưa bị kết án hoặc bị kết án nhưng đã được xoá án tích, không thuộc trường hợp đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, không phải cán bộ công chức trong cơ quan Toà án, Thanh tra, Viện kiểm sát, Thi hành án; Công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan trong ngành công an” Xét thấy các quy định
nêu trên không có quy định nào bắt buộc người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp phải là luật sư, công dân có đầy đủ kiến thức pháp lý là được tham gia tố tụng với tư cách là người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp
Ngoài ra quy định của pháp luật không hạn chế về chuyên môn, trình độ, bất cứ người nào đủ điều kiện nêu trên đều được tham gia các vụ án với tư cách là người đại diện hoặc người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp trong các vụ án, không cần người có thẻ luật sư, nếu làm đại diện không cần trình độ chuyên môn, đương sự yêu cầu bằng văn bản nộp cho toà án đúng quy định là được chấp nhận Trong khi Luật sư tập sự trình độ tối thiểu là cử nhân luật và đã qua quá trình đào tạo bài bản để làm luật sư chính thức thì không được làm đại diện hoặc người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự, so với quy định của Luật luật sư hiện nay là không phù hợp
Trang 81.2 Đánh giá các quy định pháp luật không phù hợp đối với tập sự hành nghề luật sư hiện nay:
Theo quy định hiện nay tại khoản 3 Điều 14 Tập sự hành nghề luật sư của Luật luật sư 2015 còn nhiều bất hợp lý so với Khoản 3 Điều 14 Luật luật sư năm 2006 quy
định về Tập sự hành nghề luật sư “Người tập sự hành nghề luật sư được giúp luật sư hướng dẫn trong hoạt động nghề nghiệp; không được nhận và thực hiện dịch vụ pháp
lý cho khách hàng” Cho thấy Luật luật sư 2006 quy định Luật sư tập sự vẫn được
tham gia phiên toà cùng luận sư chính thức và được phát biểu ngay tại phiên toà trước khi luật sư hướng dẫn phát biểu Tuy nhiên Luật luật sư 2015, sửa đổi lại thì không cho
Luật sư tập sự, không được đại diện, bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng tại phiên tòa Xét thấy theo với quy định hiện nay là rào cản tích luỹ kinh
nghiệm thực tiển, bị giới hạn, rất thiệt cho Luật sư tập sự so với các ngành nghề khác
1.3 Kiến nghị về quy định pháp luật đối với tập sự hành nghề luật sư:
Tạo điều kiện thuận lợi để người tập sự được nghiên cứu, đồng thời tạo cơ hội cho người tập sự được trực tiếp tham gia hoạt động nghề nghiệp, nâng cao kỹ năng hành nghề Trước sự bất cập tại khoản 3 Điều 14 Tập sự hành nghề luật sư của Luật luật sư 2015 đề nghị Bộ tư pháp và Liên đoàn luật sư Việt Nam, kiến nghị Quốc hội sửa đổi bổ sung cho phép luật sư tập sự được bào chữa, bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho đương sự và được làm đại diện như các công dân bình thường Trong quá trình tập
sự hành nghề luật sư nếu người nào vi phạm thì có chế tài phạt nặng, không vì vài người vi phạm pháp luật cấm luôn những người chân chính chấp hành đúng pháp luật
2 Thực trạng của luật sư trong quá trình tham gia tố tụng, đánh giá và kiến nghị:
2.1 Thực trạng của luật sư trong quá trình tham gia tố tụng:
Nền tư pháp nước ta hiện nay Đảng và Nhà nước đang cải thiện về quy trình tự thủ tục xét xử mục đích đến là phải công bằng, khách quan, không bỏ lọt tội phạm, không được xét xử oan sai người vô tội Từ đó Nhà nước đã ban hành 3 bộ luật tố tụng bao gồm: BLTTDS, BLTTHS và BLTTHC, đều có quy định quyền và nghĩa vụ luật sư khi tham gia tố tụng từ giai đoạn khởi tố vụ án đến quá trình xét xử, nhưng còn nhiều
có khăn cho Luật sư cụ thể như sau:
- Từ khi khởi tố vụ án Luật sư cung cấp đủ các giấy tờ theo quy định tại Điều 78
Thủ tục đăng ký bào chữa của BLTTHS, thì Cơ quan điều tra tạo điều kiện cho luật sư được tham gia từ giai đoạn khởi tố vụ án đến khi kết thúc điều tra Như vậy quyền luật
sư được tham gia tất cả các buổi hỏi cung bị can trong suốt quá trình điều tra vụ án, quy định tại Điều 79 Trách nhiệm thông báo cho người bào chữa của BLTTHS, như
sau: “1.Cơ quan thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo trước một thời gian hợp
Trang 9lý cho người bào chữa về thời gian, địa điểm tiến hành tố tụng mà họ có quyền tham gia theo
Trang 10quy định của Bộ luật này; 2 Trường hợp người bào chữa đã được cơ quan tiến hành
tố tụng báo trước mà không có mặt thì hoạt động tố tụng vẫn được tiến hành, trừ trường hợp quy định tại điều 291 của Bộ luật này” Theo quy định Cơ quan điều tra phải thông báo trước một thời gian hợp lý, cho thấy rằng việc quy định thời gian báo
trước là không rõ ràng, không có xác định báo trước thời gian là bao lâu, từ đó sẽ được hiểu nhiều cách khác nhau, miễn sao có báo trước cho luật sư là đúng quy định Ví dụ Luật sư A có văn phòng tại Thành Phố Cần Thơ trong khi đó tham gia bào chữa cho cho bị can tại Cơ quan điều tra tỉnh Kom Tum ngày hỏi cung bị can là vào lúc 8h ngày 5/9/2021 ngày luật sư nhận thông báo của cơ quan điều tra hỏi cung bị can ngày 4/9/2021 Như vậy từ Cần thơ đi đến Kom Tum với thời gian đi bằng phương tiện ô tô thì Luật sư không thể nào có mặt tại buổi hỏi cung bị can, Cơ quan điều tra vẫn tiến hành điều tra theo quy định, dám chắc rằng cán bộ điều tra trong buổi hỏi cung bị can
có khách quan, móm cung, bức cung nhục hình bị can không Hiện nay rất nhiều vụ án
bị oan sai do cơ quan điều tra bức cung nhục hình làm sai lệch vụ án dẫn đến xét xử oan sai
- Đối với quyền luật sư được gặp bị can trong quá trình điều tra gặp nhiều khó khăn, trong khi đó theo quy định tại Điều 80 Gặp người bị tạm giữ, bị cán cáo đang bị tạm giam của BLTTHS Cho thấy điều luật không quy định từ khi Luật sư làm thủ tục xin gặp bị can đến khi Cơ quan điều tra quyết định cho luật sư gặp bị can thời gian là bao nhiêu ngày luật không quy định rõ Quy định đã có, nhưng việc luật sư được quyền gặp bị can còn nhiều khê, bởi vì Cơ quan điều tra nếu không muốn Luật sư gặp
bị can trong giai đoạn này, nên tìm mọi cách làm khó, cứ hẹn, tìm mọi lý do ngăn cản làm cho luật sư gặp được thân chủ mình, đây là vấn đề khó khăn của luật sư hiện nay
- Quyền Luật sư được được tiếp cận nghiên cứu hồ sơ đối với vụ án hình sự tại
Cơ quan điều tra được quy định tại điểm l khoản 1 Điều 73 Quyền và nghĩa vụ của
người bào chữa của BLTTHS “Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ
vụ án liên quan đến việc bào chữa từ khi kết thúc điều tra” và ngoài ra tại khoản 1
Điều 82 Đọc ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án quy định của BLTTHS như
sau: “Sau khi kết thúc điều tra, nếu có yếu cầu đọc, ghi chép, sao chụp, tài liệu trong
hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng
có trách nhiệm bố trí thời gian, địa điểm để người bào chữa đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án” Ngoài ra tại Điều 16 Thông tư số 46/2019/TT-BCA ngày 10/10/2019 của Bộ công an “1 Trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra bản kết luận điều tra, Cơ quan điều tra phải gửi bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc quyết định đình chỉ điều tra cho bị can, người bào chữa; 2 Sau khi kết thúc điều tra, nếu người bào chữa đề nghị được đọc, ghi chép và sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án có liên quan đến việc bào chữa, nếu hồ sơ vụ án đang thuộc quyền quản lý của Cơ quan điều tra thì Cơ quan điều tra phải tạo điều kiện thuận lợi cho người bào chữa thực hiện yêu cầu này Điều tra viên bố trí cho người bào chữa đọc, ghi chép, sao chụp tài