Trong lịch sử có nhiều loại hàng hóa đã được sử dụng làm tiền tệ, nhưng vì một vài tính chất đặc biệt như sự quý giá, tính bền dẻo, dễ gia công, dễ vận chuyển hay cất trữ, chất lượng đượ
Trang 1Trường Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 11 năm 2009
Trang 2MỤC LỤC
Trang
1 Giai đoạn trước chiến tranh thế giới thứ nhất 3
2 Hệ thống tiền tệ quốc tế giữa hai cuộc đại chiến thế giới 7
3 Giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ hai 8
3.2.1 Quyền rút vốn đặc biệt - SDR 12
3.2.3 Hiệp định Plaza, thỏa ước Louvre 15
3.2.4 Hệ thống tiền tệ quốc tế hiện nay 15
3.2.5 Hệ thống tiền tệ Châu Âu - EMS 19
Trang 3I/ MỞ ĐẦU
Từ xa xưa, khi con người chuyển từ săn bắt, hái lượm sang trồng trọt, chăn nuôi và bắt đầu có sản phẩm dư thừa, nhu cầu trao đổi hàng hóa đã xuất hiện Ban đầu là hình thức hàng đổi hàng giữa những cá nhân riêng lẻ, sau đó, để thuận tiện hơn cho việc trao đổi, mỗi vùng có một hàng hóa được quy định là vật ngang giá chung Ví dụ như ở Trung Quốc vật ngang giá chung là da, hoặc là vỏ trai; Còn ở
Hy Lạp, La Mã đã từng dùng súc vật, đồng… làm vật ngang giá chung; Mông Cổ, Tây Tạng có lúc dùng chè làm vật ngang giá chung Nhưng khi nền sản xuất hàng hóa phát triển cao hơn dẫn đến việc trao đổi hàng hóa giữa các vùng, các quốc gia ngày càng được mở rộng cả quy mô và chất lượng Để việc trao đổi diễn ra nhanh chóng và thuận lợi, cần có một hàng hóa trung gian được mọi người cùng chấp nhận làm tiền tệ phục vụ nhu cầu trao đổi giữa các quốc gia Trong lịch sử có nhiều loại hàng hóa đã được sử dụng làm tiền tệ, nhưng vì một vài tính chất đặc biệt như sự quý giá, tính bền dẻo, dễ gia công, dễ vận chuyển hay cất trữ, chất lượng được duy trì lâu bền… nên lúc này kim loại đã được chọn làm vật trung gian trao đổi hàng hóa, trong đó, vàng và bạc là hai kim loại được ưa chuộng hơn cả.Đến đầu thế kỷ 19, vàng đã được sử dụng phổ biến để đúc thành tiền ở hầu hết các nước Mặt khác, sự phát triển khoa học kỹ thuật đã làm cho nền sản xuất hàng hóa ngày càng phát triển, việc trao đổi hàng hóa ngày càng qui mô hơn, phức tạp hơn,
nó không còn gói gọn trong một quốc gia hay một vùng lãnh thổ nữa, mà ngàycàng mở rộng ra phạm vi toàn cầu Khi đó ắt nổi lên một thách thức hai mặt: làm sao để vừa tôn trọng chủ quyền tiền tệ của các nhà nước, vừa làm dễ dàng các trao đổi giữa các quốc gia luôn tranh nhau được lợi Do vậy, các quốc gia trên thế giới
đã cùng đi tới những thỏa thuận, những quy ước chung về giao dịch thương mại toàn cầu, từ đó, hệ thống tiền tệ quốc tế ra đời
Hệ thống tiền tệ quốc tế (The International Monetery System – IMS) là
hệ thống các tập quán, quy tắc, thủ tục và các tổ chức quốc tế điều hành các quan hệ tài chính giữa các quốc gia.
Hệ thống tiền tệ quốc tế được hình thành trên cơ sở quan hệ thương mại tài chính giữa các nước, bao gồm các chế tài điều tiết quan hệ tài chính giữa các quốc gia, các định chế tài chính quốc tế và chế độ tỉ giá của các quốc gia
-Trong đó, chế độ tỷ giá (exchange rate regime) của một quốc gia là tập hợp các quy tắc, cơ chế xác định và điều tiết tỷ giá của quốc gia đó Về mặt thuật
ngữ, chế độ tỉ giá còn có tên gọi khác là cơ chế tỷ giá (exchange rate mechanism)hay cấu trúc tỷ giá (exchange rate arrangement) Tỷ giá vừa là một phạm trù kinh
tế vừa là một công cụ của chính sách kinh tế của chính phủ Do vậy, chế độ tỉ giá chứa đựng yếu tố chủ quan, tức là mỗi quốc gia có thể lựa chọn cho mình một chế
độ tỉ giá nhất định, và chế độ tỉ giá của mỗi quốc gia có thể thay đổi theo thời gian
Trang 4II/ CÁC HỆ THỐNG TIỀN TỆ QUỐC TẾ
1 Giai đoại trước chiến tranh thế giới thứ nhất (trước năm 1914)
1.1 Hệ thống song bản vị (Bimetallism)
Từ thời cổ cho đến cận đại, thương mại quốc tế hoạt động trên cơ sở “bản vị hàng hóa”, trong đó kim loại (chủ yếu là vàng và bạc) được đúc thành khối theo những hình thức tùy ý và thực hiện chức năng là phương tiện trao đổi và lưu thông trong nền kinh tế Dần dần, vàng và bạc trong lưu thông đã được tiêu chuẩn hóa và đúc thành tiền với những quy định cụ thể về hàm lượng kim loại, kí hiệu, nhãn mác… Đây là cơ sở hình thành chế độ song bản vị vàng và bạc
Chế độ song bản vị là chế độ tiền tệ trong đó cùng một lúc có hai thứ kim loại đóng vai trò làm vật ngang giá chung và là cơ sở của toàn bộ chế độ lưu thông tiền tệ của một nước.
(Theo giáo trình tiền tệ ngân hàng Trường ĐH Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh, Trang 27)
Chế độ song bản vị hoạt động trên cơ sở giá trị đầy đủ của những đồng xu (gọi là tiền đúc đủ giá – Full-bodied coins) Căn cứ vào cách quy định về mối quan
hệ trao đổi giữa tiền đúc bằng vàng và tiền đúc bằng bạc mà có thể chia chế độ song bản vị làm hai loại cụ thể:
1 Chế độ bản vị song song: Là chế độ song bản vị mà trong đó quy định tỷ
lệ trao đổi giữa tiền vàng và tiền bạc trong lưu thông phụ thuộc vào giá trị thực tế của lượng vàng và lượng bạc chứa trong hai đồng tiền đó quyết định Do đó, giá cả hàng hóa và dịch vụ trên thị trường tất nhiên được thể hiện bằng chỉ hai loại giá cả: Giá cả tính bằng tiền vàng và giá cả tính bằng tiền bạc Hai loại giá cả này sẽ thay đổi theo sự thay đổi tỷ giá giữa kim loại vàng và kim loại bạc hình thành tự phát trên thị trường Đặc biệt, trong chế độ bản vị song song, mọi người có thể tự đúc tiền sử dụng trong lưu thông Việc giá cả của hàng hóa trong lưu thông được thể hiện bằng hai loại giá cả đã mâu thuẫn với vai trò làm thước đo giá trị của tiền tệ, chính đặc điểm này của chế độ bản vị song song đã dẫn đến việc thay vì làm hàng hóa lưu thông dễ dàng thì lại tạo ra những rắc rối trong việc tính toán giá cả và lưu thông hàng hóa
Trên thực tế, chế độ bản vị song song chỉ tồn tại trong thời kì đầu mới xuất hiện chế độ song bản vị, trong đó dân chúng sử dụng tiền vàng và tiền bạc với giá trị quy đổi theo giá thị trường Để tạo cho thị trường có sự thống nhất trong việc lưu thông tiền tệ, nhà nước đã quy định tỉ lệ cố định của đồng tiền vàng và bạc, đó chính là chế độ bản vị kép
2 Chế độ bản vị kép: Là chế độ song bản vị mà trong đó nhà nước quy định
cụ thể tỷ giá trao đổi giữa tiền đúc bằng vàng và tiền đúc bằng bạc Tuy nhiên, trên thực tế, các quốc gia thường đúc những đồng xu bằng vàng và bạc hay với những
Trang 5kim loại khác rẻ tiền hơn Hiện tượng này được gọi là hiện tượng “Bào mòn giá trị thực tế của tiền xu – Debasement” Ví dụ rõ ràng nhất cho hiện tượng này là những
gì diễn ra tại Anh giữa những năm 1540 và 1560: Đồng tiền bị bào mòn giá trị (đồng tiền được định giá cao trong phương tiện trao đổi) đã loại đồng tiền có giá trị đầy đủ (đồng tiền bị định giá thấp trong phương tiện trao đổi) ra khỏi lưu thông theo quy luật Gresham: “Đồng tiền xấu đuổi đồng tiền tốt” (Bad money drives out good money) Điều này dẫn đến việc nữ hoàng Anh phải tuyên bố thu hồi và đúc lại toàn bộ số tiền xu trong lưu thông
Một minh chứng nữa cho quy luật Gresham xảy ra tại Mĩ “Luật đúc tiền” được quốc hội Mĩ thông qua năm 1792, theo đó, đồng đôla là đơn vị tiền tệ của Mỹ
có giá cố định với vàng và bạc với tỷ lệ trao đổi cố định là “1USD = 24.75 grains vàng = 371.25 grains bạc”, tức tỉ lệ trao đổi vàng : bạc là 15:1 Nhưng càng về gần cuối thế kỉ 18, giá bạc trên thị trường thế giới ngày càng giảm do lượng bạc khai thác ngày càng nhiều Mặt khác, một số nước trên thế giới cũng ấn định tỉ lệ giữa vàng và bạc, việc chênh lệch tỉ lệ trao đổi của vàng và bạc giữa các nước đã kích thích việc trao đổi hàng hóa với phương tiện là vàng hay bạc sao cho có lợi nhất ở từng quốc gia Ví dụ như nước Pháp khi đó quy định tỉ lệ trao đổi vàng: bạc là 15.5:1 Do đó, với vai trò là phương tiện lưu thông, vàng bị định giá quá thấp ở Mĩ nhưng lại được định giá cao ở Pháp, hay bạc bị định giá thấp ở Pháp nhưng được định giá cao ở Mĩ Hiện tượng này làm cho quy luật Gresham phát huy tác dụng, dẫn đến vàng từ từ biến khỏi lưu thông của nước Mĩ Và đến năm 1834, Quốc hội
Mĩ quyết định tăng giá vàng lên đến mức tỉ lệ trao đổi vàng : bạc là 16:1 trong khi các quốc gia khác vẫn giữ nguyên tỉ lệ trao đổi đã quy định Đến lúc này, quy luật Gresham lại tác động theo chiều ngược lại, vàng dần loại bạc ra khỏi lưu thông tại
Mĩ Đây chính là cơ sở ra đời chế độ đơn bản vị
Quy luật Gresham: “Đồng tiền xấu đuổi đồng tiền tốt” (Bad money drives out good money) được Thomas Gresham (1529 – 1579) đưa ra nhằm giải thích hiện tượng xảy ra tại Anh những năm 1540-1560, đồng tiền bị bào mòn giá trị đẩy đồng tiền đầy đủ giá trị ra khỏi lưu thông Khi hai đồng tiền cùng ở trong lưu thông, đồng tiền bị bào mòn giá trị sẽ được người dân đưa ra sử dụng trong trao đổi hàng hóa, trong khi đó, đồng tiền đầy đủ giá trị sẽ được đưa vào cất trữ hoặc bị nấu chảy ra để đúc thành những đồng tiền thiếu giá sử dụng trong lưu thông Còn tại Mĩ, việc quy định tỉ lệ trao đổi giữa vàng và bạc ở các quốc gia khác nhau dẫn đến việc kinh doanh chênh lệch giá Các nhà đầu cơ có thể mua 1ounce vàng ở Mĩ với giá là 15ounce bạc, sau đó bán lại ở Pháp với giá 15.5ounce bạc, như vậy, không tính đến chi phí vận chuyển (mọi hàng rào thương mại về vàng và bạc trong giai đoạn này đều không có) thì với mỗi ounce vàng các nhà đầu cơ lãi được 0.5ounce bạc Điều này dẫn đến vàng dần dần chảy ra khỏi nước Mĩ và bạc thì dần chảy ra khỏi nước Pháp Nói một cách tổng quát, quy luật Gresham cho rằng: “Khi hai hàng hóa khác nhau trên thị trường được định giá khác nhau trên thị trường chính thức và trên thị trường tự do, thì hàng hóa nào được định giá quá thấp sẽ dần bị loại khỏi lưu thông trong khi hàng hóa được định giá quá cao sẽ ở lại trong lưu thông”.
Trang 6Từ cuối những năm 1860, các mỏ bạc được phát hiện nhiều, việc khai thác hàng loạt khiến bạc trở nên mất giá so với vàng, do đó nhiều quốc gia không còn
sử dụng bạc làm bản vị cho đồng tiền quốc gia nữa, chế độ song bản vị bước đầu sụp đổ Mặt khác, tại Mĩ, sau sự gián đoạn do cuộc nội chiến năm 1861, vào năm
1879, chính phủ chính thức tuyên bố không chuyển đổi tiền ra bạc nữa mà chỉ chuyển đổi ra vàng Chế độ song bản vị sụp đổ, hình thành chế độ bản vị vàng cổ điển
1.2 Hệ thống bản vị vàng cổ điển
Tại Mỹ, quyết định chuyển đổi từ USD ra vàng mà không chuyển đổi ra bạc vào năm 1879 là bước ngoặt quan trọng cho sự ra đời của hệ thống bản vị vàng Nhưng đến năm 1900, hệ thống này mới được chính thức phê chuẩn thông qua Đạo luật bản bị vàng Trong khoảng thời gian 30 năm từ 1880 đến 1914, hệ thống bản vị vàng đã phát triển và thống trị ở hầu hết các quốc gia, nó đã liên kết chặt chẽ các quốc gia với nhau cũng như giữa các nước thống trị và các nước thuộc địa
Hệ thống bản vị vàng thực chất là chế độ tỉ giá cố định dựa trên tỉ lệ ngang giá vàng của mỗi đồng tiền quốc gia Hệ thống này hoạt động dựa trên ba nguyên tắc:
Thứ nhất, dưới chế độ bản vị vàng, các quốc gia ấn định giá trị đồng tiền
của mình với vàng, hay nói cách khác là chính phủ ấn định giá vàng tính bằng tiền quốc gia, đồng thời sẵn sàng không hạn chế mua và bán vàng tại mức giá đã ấn định Tỉ giá hối đoái giữa các đồng tiền của các quốc gia được xác định thông qua vàng
Thứ hai, dưới chế độ bản vị vàng, xuất và nhập khẩu vàng giữa các quốc
gia được tự do hoạt động Do vàng được chu chuyển tự do giữa các quốc gia với nhau nên tỷ giá trao đổi thực tế trên thị trường tự do không biến động đáng kể so với bản vị vàng
Thứ ba, dưới chế độ bản vị vàng, Ngân hàng trung ương luôn phải duy trì
một lượng vàng dự trữ trong mối quan hệ trực tiếp với số tiền phát hành, tức tiền
do NHTW phát hành được “bảo đảm bằng vàng 100%” và tiền được chuyển đổi tự
do không hạn chế ra vàng
Qua đó, ta có thể thấy trong chế độ bản vị vàng, lượng vàng dự trữ của một quốc gia quyết định lượng cung tiền của quốc gia đó Chính phủ điều tiết mức cung tiền nội địa theo cùng chiều với dòng lưu chuyển vàng: Khi dòng vàng nhập vào tăng (cán cân thanh toán thặng dư, phần thặng dư được thanh toán bằng vàng) thì dự trữ vàng tăng dẫn đến lượng cung tiền tăng và ngược lại, khi dòng xuất vàng tăng (cán cân thanh toán thâm hụt, phần thâm hụt phải thanh toán bằng vàng) dẫn đến dự trữ vàng giảm và cung tiền giảm
Trang 7Trong hệ thống bản vị vàng, cán cân thanh toán của các nước được điều chỉnh theo cơ chế dòng vàng – giá cả (price-specie flow mechanism), tác động của
cơ chế này được tóm tắt qua bảng dưới đây:
Quốc gia có thâm hụt BOP Quốc gia có thặng dư BOP
Dòng vàng chảy ra Dòng vàng chảy vào
Cung tiền giảm Cung tiền tăng
Giảm thu nhập Giảm giá cả Tăng thu nhập Tăng giá cả
Giảm nhập khẩu Tăng xuất khẩu Tăng nhập khẩu Giảm xuất khẩu
BOP trở về trạng thái cân bằng
Trong những năm từ 1880- 1914, chế độ bản vị vàng được nhìn nhận như một hệ thống hoạt động hoàn hảo, với những quy tắc lưu thông tiền tệ được áp dụng tương đối phổ biến và triệt để ở các quốc gia Tuy nhiên, khi chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, các quốc gia tham chiến cần có tiền để tài trợ cho chiến tranh dẫn đến việc phát hành tiền mà không cần bảo đảm bằng vàng như quy tắc của hệ thống, dòng lưu chuyển vàng cũng không được tự do như trước nữa, điều này dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống bản vị vàng
Tuy nhiên, chế độ bản vị vàng vẫn được công nhận là chế độ hoạt động hoàn hảo nhất cho đến thời điểm này với những ưu điểm:
- Giúp cho thương mại và đầu tư thế giới phát triển và hưng thịnh Điều này được chứng minh trong thời kì 1880 – 1914, với hàng rào thương mại vàng được gỡ bỏ hoàn toàn và kiểm soát ngoại hối và chu chuyển vốn ít khi được áp dụng cộng với việc không có một sự phá giá hay nâng giá nào giữa các đồng tiền của các quốc gia lớn trên thế giới đã giúp cho thị trường vốn quốc tế phát triển với trung tâm là London
- Khuyến khích phân công lao động quốc tế, giúp gia tăng phúc lợi thế giới.Trong chế độ bản vị vàng, các nhà đầu tư gần như được đảm bảo chắc chắn trước những rủi ro về tỉ giá, điều này khiến cho thương mại và đầu tư thế giới phát triển, luồng vốn lưu chuyển tự do giữa các quốc gia để tìm kiếm lợi nhuận cao nhất
- Cơ chế điều chỉnh cán cân thanh toán vận hành trơn tru Với cơ chế dòng vàng - giá cả như đã nêu ở trên, những bất cân đối trong cán cân thanh toán của các quốc gia sẽ tự động được điều chỉnh về trạng thái cân bằng Trong trường
Trang 8hợp các quốc gia tuân thủ những quy tắc của hệ thống, cơ chế dòng vàng – giá
cả trên sẽ vận hành một cách trơn tru và hiệu quả
- Mâu thuẫn quyền lợi giữa các quốc gia ít khi xảy ra Vì có sự tác động của
cơ chế dòng vàng – giá cả nên những thâm hụt hay thặng dư trong cán cân thanh toán của một quốc gia được điều chỉnh một cách tự động theo quan hệ cung cầu phổ biến, do đó, trong thời kì này ít khi xảy ra những mâu thuẫn về quyền lợi giữa các quốc gia
Tuy nhiên, chế độ bản vị vàng cũng tồn tại một số hạn chế như:
- Nền kinh thế thường xuyên phải trải qua sự bất ổn định vì cơ chế điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế thông qua sự thay đổi mức giá cả, lãi suất, thu nhập
và thất nghiệp
- Quốc gia có thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế phải trải qua thời kì kinh
tế đình đốn, tỷ lệ thất nghiệp cao; trong khi đó quốc gia có thặng dư cán cân thanh toán thì phải trải qua thời kì lạm phát
- Những mỏ vàng có thể phát hiện bất cứ lúc nào, do đó làm tăng lượng cung ứng tiền và có thể dẫn đến tình trạng lạm phát Ngược lại, ở những quốc gia khan hiếm vàng thì sẽ bị hạn chế lượng cung ứng tiền, và trở thành nguyên nhân gây kìm hãm nền kinh tế
- Mặt khác, trong chế độ bản vị vàng không có những cơ chế ràng buộc các quốc gia phải tuân thủ các quy tắc của hệ thống nên trên thực tế, quy tắc về đảm bảo số tiền phát hành trên cơ sở lượng vàng dự trữ thường bị bỏ qua
- Với cơ chế điều chỉnh thông qua dòng vàng lưu chuyển tự do giữa các quốc gia và việc phát hành tiền dựa trên lượng vàng dự trữ khiến cho việc điều hành của Ngân hàng trung ương kém linh động, vai trò của Ngân hàng trung ương trong nền kinh tế cũng không rõ nét
2 Hệ thống tiền tệ quốc tế giữa hai cuộc đại chiến thế giới:
Khi chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ năm 1914, hệ thống tiền tệ thế giới rơi vào thời kì hỗn loạn, hệ thống bản vị vàng tồn tại hơn 35 năm đã phải nhường chỗ cho hệ thống tỷ giá thả nổi Các quốc gia không ngừng in thêm tiền để tài trợ cho chiến tranh dẫn đến khi chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, các nước rơi vào tình trạng lạm phát, thậm chí siêu lạm phát Tại Đức, từ năm 1913 đến năm
1918, tốc độ phát hành tiền tệ tăng 8.5 lần, đồng DEM sụt giá 50% so với USD Năm 1921, tốc độ phát hành tiền của NHTW Đức tăng gấp 5 lần so với năm 1918, năm 1922 tăng gấp 10 lần so với năm 1921, và đến tháng 8/1923, một chiếc bánh
mì hay một phong thư ở Đức đã có giá 1000DEM
Trong nỗ lực khôi phục lại thời kì hoàng kim của thương mại thế giới trong chế độ bản vị vàng, năm 1922, các nước đã tham gia hội nghị tiền tệ - tài chính
Trang 9quốc tế tổ chức tại Genoa (Italia) mở đường hình thành hệ thống bản vị hối đoái vàng, trong đó, đồng GBP là đồng tiền thanh toán và dự trữ quốc tế Năm 1925, nước Anh ấn định bản vị vàng như lúc trước chiến tranh trong khi lúc này tỉ lệ lạm phát của nước Anh cao hơn nhiều so với mức trước chiến tranh, điều này khiến cho nền kinh tế Anh rơi vào tình trạng thiểu phát, thất nghiệp tăng cao Tỉ lệ thất nghiệp của nước Anh từ 3% năm 1920 tăng vọt lên đến 18% năm 1926, các cuộc bãi công diễn ra khắp nơi, nước Anh rơi vào khủng hoảng Đến năm 1929, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu bùng nổ, cuối cùng, ngày 21/9/1931, nước Anh buộc phải từ bỏ chế độ tỉ giá cố định và bản vị vàng Hệ thống Genoa sụp đổ.
Trong giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Mĩ vẫn duy trì chuyển đổi USD ra vàng, bên cạnh đó, do không bị tàn phá do chiến tranh nên lạm phát ở Mĩthấp hơn ở các nước Châu Âu vì vậy lúc này vai trò của USD cũng được nâng lên, một số quốc gia dự trữ bằng USD bên cạnh GBP Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống tài chính và thương mại quốc
tế, hệ thống tiền tệ quốc tế rơi vào thời kì hỗn mang, các quốc gia bất hợp tác chính sách cho đến khi bùng nổ chiến tranh thế giới thứ hai vào năm 1939
3 Giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ hai (từ năm 1946 đến nay)
3.1 Hệ thống Bretton Woods:
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các nước Châu Âu bị tàn phá nặng nề, nền kinh tế thế giới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng Tuy nhiên, vào thời điểm này, tiềm lực kinh tế của nước Mỹ lại trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết, trong vòng hai thập kỉ đầu sau chiến tranh thế giới thứ hai Mỹ là trung tâm kinh tế, tài chính duy nhất của thế giới Đặc biệt, Mỹ nắm đến gần 75% trữ lượng vàng thế giới Nhằm khôi phục nền kinh tế thế giới, cải tổ hệ thống tiền tệ quốc tế tránh được những sai lầm trước đây, cũng như tạo ra một trật tự tiền tệ quốc tế mới để tránh sự tan rã các mối quan hệ tiền tệ trên phạm vi quốc tế vào những năm 1930s, một hội nghị đã được tổ chức tại Bretton Woods, New Hampshire, Mỹ với sự tham gia của 730 đại biểu tới từ 44 quốc gia trên thế giới trong đó có Mỹ, Anh, Pháp, Đức,… Tại hội nghị này, hệ thống Bretton Woods đã được phê chuẩn cùng với sự ra đời của hai tổ chức tài chính quốc tế:
- Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund – IMF) có nhiệm vụ theo dõi giám sát hoạt động của hệ thống tiền tệ quốc tế
- Ngân hàng thế giới (World Bank – WB) có nhiệm vụ hỗ trợ cho các nước Châu Âu phục hồi nền kinh tế sau chiến tranh và huy động vốn từ những nước phát triển để cho vay lại với lãi suất thấp ở những nước nghèo, kém phát triển nhằm giúp họ phát triển nền kinh tế
Tại hội nghị Bretton Woods, các quốc gia đã thống nhất những quy định của hệ thống tiền tệ quốc tế:
Trang 10Thứ nhất là hệ thống tỉ giá cố định nhưng có thể điều chỉnh Hệ thống
Bretton Woods quy định các quốc gia ấn định tỉ giá trung tâm của đồng nội tệ với USD và tỉ giá này chỉ được phép dao động trong khoảng +-1% Bên cạnh đó, các quốc gia phải đồng ý chuyển đổi không hạn chế đồng nội tệ ra USD và ngược lại tại mức tỉ giá đã ấn định cho các giao dịch trên tài khoản vãng lai Trong khi đó,
Mĩ đảm bảo giữ giá trị đồng USD với vàng theo tỉ lệ $35/ounce vàng và Mĩ cam kết chuyển đổi không hạn chế USD ra vàng tại mức giá này
Thứ hai là các quốc gia thành viên sẽ đóng góp vốn vào quỹ của IMF với tỉ
lệ ¼ là bằng vàng và ¾ là bằng bản tệ để hình thành nên quỹ tiền tệ của IMF Căn
cứ vào tỉ trọng vốn góp của các quốc gia, IMF cung cấp mỗi quốc gia một hạn mức tín dụng Khi một quốc gia thành viên gặp vấn đề về thâm hụt cán cân thanh toán,
họ sẽ được rút lần đầu là 25% hạn mức tín dụng, sau đó, những quốc gia nào chấp nhận những chính sách kinh tế do IMF đưa ra sẽ được rút vốn 4 lần tiếp theo, mỗi lần là 25% hạn mức tín dụng
Thứ ba là khi gặp những bất cân đối nghiêm trọng trong cán cân thanh
toán, các quốc gia có thể thay đổi tỉ giá trung tâm Tuy nhiên, nếu mức thay đổi trên 10% thì phải được sự đồng ý của IMF Khả năng thay đổi tỉ giá trung tâm là giải pháp cuối cùng giúp cân bằng cán cân thanh toán và đây được xem là một trong những đặc điểm cơ bản của hệ thống Bretton Woods
Với những thỏa thuận trên, có thể thấy trong chế độ Bretton Woods, đồng USD đã trở thành đồng tiền dự trữ quốc tế và quyền lực trung tâm đã tập trung trong tay Mĩ, quốc gia duy nhất có quyền phát hành USD Ngoài ra, Mĩ cũng là quốc gia duy nhất thực sự theo hệ thống bản vị vàng, còn các quốc gia khác theo chế độ bản vị hối đoái vàng dựa trên dolar Mĩ, hay chế độ bản vị dolar Mĩ
Thời gian đầu sau khi hệ thống Bretton Woods ra đời, các nước Châu Âu lâm vào tình trạng thiếu trầm trọng nguồn cung USD để khôi phục nền kinh tế, trong khi đó, lượng USD được giao dịch trên thị trường ngoại hối còn rất hạn chế Trong giai đoạn này, Mĩ luôn bội thu cán cân vãng lai trong khi các nước Châu Âu thì luôn thậm hụt do năng lực xuất khẩu cũng như cở sở hạ tầng và nền kinh tế bị tàn phá nặng nề do chiến tranh Mặt khác, trong thời kì này, IMF cũng không đủ nguồn vốn để tài trợ thậm hụt cán cân vãng lai của các nước Châu Âu Do đó, năm
1948, Mĩ đã quyết định cung cấp cho các nước Châu Âu một gói trợ cấp trọn gói cho phát triển kinh tế gọi là trợ cấp Marshall, theo tên của ngoại trưởng Mĩ George Marshall – người khởi xướng và ban hành kế hoạch này Kế hoạch Marshall được
dự định tiến hành trong 6 năm từ 1948 đến 1953, theo đó, Mĩ yêu cầu các nước Châu Âu cần có sự hợp tác chặt chẽ hơn nữa, để đáp ứng đòi hỏi, “Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Âu (OEEC)” ra đời hoạt động trên cơ sở nguồn vốn trợ cấp Marshall Sau đó, tổ chức này chuyển thành “Tổ chức Hợp tác và phát triển Kinh
tế châu Âu (OECD)” Và để hạn chế tối đa sự tham gia của USD, năm 1950, “Hiệp
Trang 11hội thanh toán Châu Âu - EPU” chính thức hoạt động giúp các nước thành viên có thể thanh toán bù trừ lẫn nhau Tuy nhiên, những nguy cơ đe dọa xảy ra chiến tranh lạnh bắt đầu từ cuộc chiến tranh Triều Tiên cùng với quá trình tái vũ trang dẫn đến kế hoạch Marshall phải kết thúc vào năm 1951 dù viện trợ Mĩ dưới nhiều hình thức khác nhau vẫn tiếp tục sau đó Mặc dù vậy, kế hoạch Marshall vẫn đóng vai trò quan trọng trong quá trình khôi phục nền kinh tế các nước Châu Âu Trong những năm từ 1948 đến 1951, tổng số viện trợ nằm trong kế hoạch này lên đến hơn 12,7 triệu USD, giai đoạn này nền kinh tế các nước Châu Âu cũng phát triển chưa từng có, sản lượng công nghiệp tăng 35%, sản xuất nông nghiệp vượt mức trước chiến tranh
Vào những năm 1950s, nền sản xuất các nước Châu Âu và Nhật phát triển mạnh mẽ, cán cân thanh toán thặng dư, nguồn dự trữ USD trở nên dồi dào trong khi cán cân cơ bản của Mỹ lại trở nên thâm hụt Những thâm hụt trong cán cân cơ bản của Mĩ chưa trở thành vấn đề nghiệm trọng nếu tổng lượng vàng dự trữ của Mĩ vẫn lớn hơn tổng tài sản nợ bằng USD của Mĩ Tuy nhiên, khi gói trợ cấp Marshall kết thúc, nền kinh tế các nước Châu Âu phục hồi mạnh mẽ và tích đủ dự trữ ngoại hối phục vụ nhu cầu chuyển đổi, nhiều nước tiến hành chuyển dự trữ USD của mình ra vàng, hàng rào thương mại cũng được dỡ bỏ thì “Hiệp hội thanh toán Châu Âu – EPU” cũng được giải thể Lúc này, vấn đề cán cân cơ sở bị thâm hụt của Mĩ trở nên nghiêm trọng
Trong giai đoạn này, đồng USD cũng phải đối mặt với sự tấn công mạnh
mẽ của những nhà đầu cơ tiền tệ trên thế giới, đứng trước sức ép phá giá so với vàng Tuy nhiên, vì những thỏa ước của hệ thống Bretton Woods với chế độ tỉ giá
cố định, đồng USD không thể phá giá so với vàng Trong khi đó, các nước có cán cân vãng lai thặng dư cũng không muốn tăng giá đồng tiền của mình hay thực hiện chính sách tiền tệ thu hẹp Điều này khiến cho tình trạng dư thừa USD càng sâu sắc hơn, hệ thống Bretton Woods đứng trước nguy cơ khủng hoảng Nhằm tránh những khủng hoảng hệ thống, ngăn chặn những toan tính đầu cơ vào đồng USD, năm 1962, “Thỏa thuận chung về vay mượn – GAB” ra đời Các nước GAB gồm
Mĩ và 9 nước khác thỏa thuận cho IMF vay những khoản vốn bổ sung trong trường hợp một trong các nước thành viên có nhu cầu vốn với quy mô lớn Ngoài ra, Ngân hàng trung ương Mĩ và 7 nước công nghiệp phát triển khác còn có những thỏa hiệp can thiệp lên giá vàng trên thị trường thế giới nhằm giữ giá vàng ở mức
$35/ounce Tuy nhiên, đến năm 1967, người ta phát hiện ra rằng tổng lượng vàng
dự trữ của Mĩ nhỏ hơn tài sản nợ của Mĩ tính bằng USD, và nếu các ngân hàng trung ương các nước vẫn tiếp tục chuyển đổi dự trữ ngoại hối ra vàng thì toàn bộ
hệ thống sẽ sụp đổ Vì vậy, các ngân hàng trung ương các nước quyết định không chuyển đổi USD ra vàng nữa và ngừng can thiệp vào giá vàng trên thị trường thế giới Từ đó hình thành hai giá vàng Tuy nhiên, vào giữa những năm 1960s, khi nước Mĩ tham gia vào cuộc chiến tranh Việt Nam, cuộc tấn công của các nhà đầu
Trang 12cơ vào đồng USD thật sự trở nên mạnh mẽ khi họ nhận ra USD và một số đồng tiền được định giá quá cao trong khi một số đồng tiền khác lại bị định giá quá thấp Cuối cùng, trước sức ép của làn sóng đầu cơ vào USD, ngày 15/8/1971, Tổng thống Mỹ Nixon đã chính thức tuyên bố dừng chuyển đổi dự trữ dolar Mỹ ra vàng đồng nghĩa với thả nổi đồng dolar Mỹ và trên thực tế hệ thống Bretton Woods đã sụp đổ, thêm vào đó, Mỹ áp dụng mức thuế quan 10% đối với hàng hoá nhập khẩu nhằm buộc các quốc gia khác phải nâng giá đồng tiền.
Trong những nỗ lực nhằm duy trì chế độ tỉ giá cố định, tháng 9/1971, các nước G10 đã nhóm họp và quyết định phá giá đồng USD so với vàng từ mức $35/1 ounce vàng xuống $38/1 ounce vàng, nâng giá các đồng tiền khác trung bình 8%
so với USD và mở rộng biên độ dao động tỉ giá từ ±1% lên ±2.25% Đổi lại, Mĩ rút lại việc đánh thuế 10% hàng nhập khẩu Tuy nhiên, việc tấn công ồ ạt vào đồng USD vẫn không dừng lại Do đó, vào năm 1973, các nước lần lượt thả nổi tỉ giá với đồng USD, hệ thống Bretton Woods chính thức sụp đổ
Tại sao Bretton Woods sụp đổ?
Theo Robert Triffin, hệ thống Bretton Woods chỉ hoạt động hiệu quả khi
các nước trên thế giới dự trữ ngoại hối bằng USD, và việc này chỉ xảy ra khi đồng USD còn được tự do chuyển đổi ra vàng tại mức giá $35/ 1 ounce Khi thương mại quốc tế phát triển, dự trữ ngoại hối của các quốc gia khác tăng, cán cân thanh toán thặng dư, đồng nghĩa với cán cân thanh toán của Mĩ phải luôn luôn thậm hụt mới đáp ứng được nhu cầu thanh khoản của hệ thống Tuy nhiên, nếu cán cân thanh toán của Mĩ cứ thâm hụt trong dài hạn thì sẽ làm xói mòn lòng tin của các nước vào đồng USD, làm giảm tính hiệu lực của hệ thống Bretton Woods Mặt khác, nếu Mĩ áp dụng các biện pháp nhằm cải thiện cán cân thanh toán thì sẽ dẫn đến thiếu hụt thanh khoản của hệ thống, tạo áp lực thiểu phát nền kinh tế thế giới Hiện tượng trên được gọi là “nghịch lí Triffin”, là một trong những nguyên nhân cơ bản
về sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods
Theo Jurg Niehans và Paul De Grawe, dựa vào quy luật Gresham: “Đồng
tiền xấu đuổi đồng tiền tốt ra khỏi lưu thông – Bad money drives out good money” Trong trường hợp hệ thống Bretton Woods, hai hàng hóa có liên quan là vàng và USD Mĩ đồng ý chuyển đổi không hạn chế USD ra vàng tại mức giá
$35/1 ounce trong khi chỉ số giá cả tại Mĩ tăng đến 40% trong khoảng thời gian từ năm 1959 đến năm 1969, tức là nếu các nhân tố khác không đổi, giá vàng trên thị trường tự do cũng tăng 40% Sự chênh lệch giữa giá chính thức và giá trên thị trường tự do đã dẫn đến vàng bị định giá quá thấp trong khi đồng USD được định giá cao trong lưu thông, điều này khiến cho vàng dần biến mất khỏi lưu thông, tạo
áp lực phá giá đồng USD buộc tổng thống Nixon tuyên bố ngừng chuyển đổi USD
ra vàng, hệ thống Bretton Woods sụp đổ