Nhằm phát huy những ưu điểm và hạn chế những bất cập, hạn chế trên tôi đã nghiên cứu và đưa ra giải pháp về việc “ Nâng cao năng lực viết câu cho học sinh lớp 5 thông qua việc phân tích [r]
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN ĐỀ NGHỊ XÉT, CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Năm 2016
Kính gửi : - Hội đồng khoa học Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi
- Hội đồng khoa học Huyện Cát Hải
Họ và tên : Đỗ Thị Thanh Tú
Chức vụ, đơn vị công tác : Tổ trưởng chuyên môn tổ 4,5 - Giáo viên trường
TH Nguyễn Văn Trỗi
Tên sáng kiến: “Nâng cao năng lực viết câu cho học sinh lớp 5 thông qua việc phân tích và chữa câu sai trong giờ văn trả bài”
Lĩnh vực áp dụng sáng kiến : Môn Tiếng Việt lớp 5
1 Tóm tắt tình trạng giải pháp đã biết:
+ Giải pháp:
- Giáo viên chấm bài thống kê lỗi sai sau đó chọn một vài lỗi sai điển hình chữa trước lớp
- Sau khi chữa trước lớp xong, giáo viên đưa ra câu đúng, hay hoặc đoạn văn mẫu đọc cho học sinh nghe để học sinh học tập
+ Ưu điểm:
- Giáo viên đã chỉ ra được một số nguyên nhân dùng từ, viết câu sai của học
sinh như: không nắm chắc nghĩa của từ nên sai về dùng từ, sai do đặt câu và chấm
câu sai dẫn đến nội dung câu diễn đạt ý chưa trọn vẹn, hoặc học sinh viết câu chưa hay, thiếu tính lôgíc
- Nhìn chung phần lớn học sinh đều đã nhận ra được lỗi sai của mình và sửa lại cho đúng Tiết dạy chỉ tập trung chữa các lỗi sai điển hình nên giáo viên không mất nhiều thời gian đánh giá, tìm lỗi sai của tất cả học sinh trong lớp
+ Hạn chế, bất cập: Học sinh chỉ tập trung chữa những lỗi sai điển hình mà
cô giáo đưa ra chứ chưa tự phát hiện ra lỗi sai của mình, chưa biết cách phân tích
Trang 2nguyên nhân sai và chữa lại cho đúng, cho hay mà chỉ chữa bài theo yêu cầu của giáo viên
Những lỗi sai của học sinh chữa trước lớp còn chung chung chưa mang tính
cụ thể rõ ràng Số lượng câu, bài chữa được ít Việc phát hiện ra câu sai và sửa lại cho đúng thường chỉ tập trung ở những em có học lực khá giỏi
Chưa phát huy tốt năng lực viết câu của học sinh thông qua giờ văn trả bài
2 Tóm tắt nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến :
* Tính mới, tính sáng tạo :
+ Tính mới:
Việc chữa bài trong tiết trả văn không chỉ tập trung ở một vài bài, một vài
lỗi điển hình do cô đưa ra mà tất cả học sinh trong lớp đều được tự phát hiện và chữa lỗi Khi phân tích chữa lỗi tôi đã khéo léo kết hợp giữa phân tích và chữa câu sai cho học sinh.
Tất cả học sinh trong lớp đều có cơ hội được chữa bài một cách cụ thể, rõ ràng
+ Tính sáng tạo:
Qua giờ học, học sinh không chỉ rút ra bài học về cách chữa câu sai mà còn hạn chế được những lỗi viết câu tương tự trong bài làm của mình từ đó các em còn biết cách phát triển thành câu văn hay
Nâng cao năng lực viết câu cho học sinh, rèn khả năng bình luận phân tích
sau này
* Khả năng áp dụng và nhân rộng :
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm tôi đã thực hiện có thể ứng dụng cho học sinh lớp 5a2 trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi cũng như học sinh các lớp khác trong trường và các trường trên địa bàn huyện Cát Hải
* Hiệu quả, lợi ích thu được áp dụng giải pháp:
+ Hiệu quả kinh tế: Góp phần tạo ra những thế hệ học sinh mà sau này có năng lực
về ngôn ngữ liên quan đến câu chuyện ngoại giao, những hợp đồng kinh tế với các đối tác trong và ngoài nước Bởi lẽ khả năng nói viết mạch lạc đúng ngữ pháp, lịch
sự rất quan trọng vì nó tạo nên sự chắc chắn trong giao tiếp
Trang 3+ Hiệu quả về xã hội: Góp phần làm trong sáng tiếng Việt Tạo ra một xã hội văn minh đậm đà bản sắc dân tộc
Chất lượng của giờ văn trả bài và chất lượng học tập của học sinh được nâng lên rõ rệt Đây là việc làm cần thiết để giáo viên nâng cao chất lượng giáo
dục, tạo uy tín với phụ huynh và học sinh
+ Giá trị làm lợi khác: Đã bổ sung vào khoa học giáo dục một giải pháp mới Làm tài liệu giảng dạy cho giáo viên ở các trường Tiểu học
Cát Bà, ngày 20 tháng 1 năm 2016
NGƯỜI VIẾT ĐƠN
Đỗ Thị Thanh Tú
Trang 4THễNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tờn sỏng kiến : “Nõng cao năng lực viết cõu cho học sinh lớp 5 thụng qua việc phõn tớch và chữa cõu sai trong giờ văn trả bài”
2 Lĩnh vực ỏp dụng sỏng kiến : Mụn Tiếng Việt lớp 5
3 Tỏc giả :
Họ và tờn : Đỗ Thị Thanh Tỳ
Sinh ngày 27/12/1974
Chức vụ, đơn vị cụng tỏc : Tổ trưởng chuyờn mụn tổ 4,5 - Giỏo viờn trường TH Nguyễn Văn Trỗi
Điện thoại: 0168 293 7798
4 Đơn vị ỏp dụng sỏng kiến :
Tờn đơn vị : Trường TH Nguyễn Văn Trỗi
Địa chỉ : Tổ dõn phố 3 - Thị trấn Cỏt Bà - Huyện Cỏt Hải - Hải Phũng
Điện thoại : 0313 887 269
A Mễ TẢ GIẢI PHÁP ĐÃ BIẾT
+ Giải phỏp:
Khi nghiờn cứu đề tài này, tụi đã tiến hành tỡm hiểu thực trạng của học sinh ở
lớp mỡnh, trường mỡnh tôi nhận thấy thụng thường giỏo viờn dạy mụn tiếng Việt
núi chung và phõn mụn Tập làm văn núi riờng đó chỳ ý đến việc phỏt hiện và chữa cõu sai trong cỏc bài văn của học sinh Tuy nhiờn cỏch thường làm của giỏo viờn là sau khi chấm bài văn viết của học sinh, thống kờ cỏc lỗi sai trong bài viết của học sinh trong đú cú lỗi sai về cõu Đến giờ văn trả bài, bờn cạnh việc chữa lỗi về chớnh
tả, dựng từ, giỏo viờn thường chọn một vài cõu sai điển hỡnh đó thống kờ từ bài viết của học sinh, ghi cõu sai lờn bảng lớp hoặc bảng phụ sau đú đặt cõu hỏi để học sinh trả lời: “Cõu văn bạn viết sai ở chỗ nào? Vỡ sao? Em hóy chữa lại cho đỳng?” Sau khi học sinh đó chỉ ra lỗi sai trong cõu văn giỏo viờn đưa ra, giỏo viờn thường gọi 1 – 2 em đứng lờn chữa trước lớp, cả lớp lắng nghe nhận xột xem bạn đó chữa lại cõu văn đỳng hay chưa, nếu đỳng thỡ thống nhất kết quả và chuyển sang chữa cõu khỏc
Trang 5hoặc nội dung khác Nếu học sinh không chữa được câu văn đó giáo viên đưa ra câu đúng của mình đế học sinh học tập
+ Ưu điểm:
Giáo viên đã chỉ ra được một số nguyên nhân dùng từ, viết câu sai của học
sinh như: không nắm chắc nghĩa của từ nên sai về dùng từ, sai do đặt câu và chấm
câu sai dẫn đến nội dung câu diễn đạt ý chưa trọn vẹn, hoặc học sinh viết câu chưa hay, thiếu tính lôgíc
Nhìn chung phần lớn học sinh đều đã nhận ra được lỗi sai của mình và sửa lại cho đúng Tiết dạy chỉ tập trung chữa các lỗi sai điển hình nên giáo viên không mất nhiều thời gian đánh giá, tìm lỗi sai của tất cả học sinh trong lớp
+ Hạn chế, bất cập :
Học sinh chỉ tập trung chữa những lỗi sai điển hình mà cô giáo đưa ra chứ chưa tự phát hiện ra lỗi sai của mình, chưa biết cách phân tích và chữa lại cho đúng, hay mà chỉ chữa bài theo yêu cầu của cô giáo
Những lỗi sai của học sinh chữa trước lớp còn chung chung chưa mang tính
cụ thể rõ ràng Số lượng câu, bài chữa được ít Việc phát hiện ra câu sai và sửa lại cho đúng thường chỉ tập trung ở những em có học lực khá giỏi
Chưa phát huy tốt năng lực viết câu của học sinh thông qua giờ văn trả bài
Nguyên nhân:
Giáo viên chỉ đề cập đến những lỗi sai điển hình của học sinh, vì sao sai và chữa lại cho đúng mà không có hoạt động hướng dẫn học sinh phân tích chữa câu sai một cách cụ thể, chưa kết hợp giữa phân tích và chữa câu sai, từ đó phát triển thành viết câu hay cho học sinh
Khi chấm bài giáo viên thường đọc chưa thật kỹ (chỉ chấm ý) nên việc thống
kê, phân tích câu sai của học sinh chưa sâu, chưa nhiều nên đôi khi bài văn của học
sinh chỉ đạt ở mức “ bài viết tạm được” mà toàn bài không có lấy một lỗi sai nào
về câu.Chính vì vậy mà việc phân tích và chữa câu sai trong giờ trả bài ít, thường được làm qua loa, hình thức
Trang 6Học sinh không có thói quen nhận bài sau khi cô trả, chưa có kĩ năng tự đọc phân tích và sửa chữa câu sai (vì lỗi sai thường được chữa trước lớp) Khi đưa ra chữa trước lớp thì những em khá giỏi, thông minh bao giờ cùng có ý kiến trước vậy là hết cơ hội cho những em tiếp thu chậm
Giáo viên chưa thật sự chú ý đến việc phát triển năng lực viết câu cho học sinh
Nhằm phát huy những ưu điểm và hạn chế những bất cập, hạn chế trên tôi đã
nghiên cứu và đưa ra giải pháp về việc “ Nâng cao năng lực viết câu cho học sinh
lớp 5 thông qua việc phân tích và chữa câu sai trong giờ văn trả bài ” cho học sinh
lớp 5a2 trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi - Huyện Cát Hải - Thành phố Hải Phòng với nội dung như sau:
B NỘI DUNG GIẢI PHÁP ĐỀ NGHỊ CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
I NỘI DUNG GIẢI PHÁP MÀ TÁC GIẢ ĐỀ XUẤT
1 Đọc thật kỹ bài văn của học sinh, ghi tỉ mỉ từng lỗi sai và dự án trước các phương án chữa câu sai cho học sinh trên lớp.
Mục đích của giải pháp : Tránh việc chữa qua loa trên lớp, tạo cơ hội cho tất
cả học sinh trong lớp đều được cô nghiên cứu chữa bài (những bài văn đã hay thì hay hơn còn những bài viết chưa được học sinh sẽ biết cách sửa lại để bài văn hoàn thiện hơn)
Cách tiến hành: Bao giờ cùng vậy trước khi có tiết văn trả bài tôi cũng giành
một khoảng thời gian khá nhiều cho việc chấm chữa bài văn tiết trước mà học sinh
đã viết Tôi đọc thật kỹ từng bài ghi tỉ mỉ từng lỗi sai theo từng loại: sai về chính
tả, sai về diễn đạt, sai về dùng từ đặt câu, tôi đặc biệt quan tâm các lỗi sai về câu
Để hoạt động chữa câu trên lớp cho học sinh có hiệu quả tích cực với số đông học sinh, tôi đã chọn phân tích và dự kiến thao t¸c ch÷a c©u theo c¸c bíc chñ yÕu sau:
* Bíc 1: Phát hiện và phân tích lỗi sai
Tôi cho học sinh tìm các thành phần chính, phụ trong câu, xem câu đó có đúng cấu tạo hay không, phân tích xem nội dung câu có tường minh và logic không, có gắn với mục đích nói, phù hợp với tình huống giao tiếp không?
Trang 7* Bíc 2: Phỏng đoán nguyên nhân gây ra lỗi:
Tôi nhận thấy có rất nhiều nguyên nhân gây ra lỗi sai Có thể do học sinh nhầm lẫn các thành phÇn câu, do không hiểu nghĩa của từ, do không nắm được cấu trúc câu, do đưa cách nói khẩu ngữ vào văn viết, do không dùng dấu câu hay dùng dấu câu không đúng quy tắc,
* Bíc 3: Ch÷a sai
Căn cứ vào nguyên nhân gây ra lỗi để chữa câu sao cho vừa bám sát nội dung và cấu trúc cũ, vừa đảm bảo liên kết với các câu khác trong bài, vừa tiết kiệm từ
2 Hướng dẫn học sinh phân tích và chữa câu sai
Mục đích của giải pháp: Giúp học sinh tự nhận ra được bài văn của mình còn
lỗi ở điểm nào? Câu nào mình viết chưa hay, chưa được? Vì sao chưa được và cách sửa lại như thế nào Giúp học sinh tự tìm ra nguyên nhân sai và đưa ra biện pháp khắc phục những lỗi sai về câu trong bài văn
Cách tiến hành: Ở giải pháp này tôi thường thực hiện vào những tiết đầu của
giờ văn trả bài Sau khi đã hình thành được cho học sinh thói quen mỗi cá nhân khi nhận bài văn trả về tự đọc, tự phát hiện lỗi sai trong bài văn của mình và tự nghiên cứu, đề xuất phương án khắc phục sửa chữa thì từ những giờ học về sau học sinh chỉ việc thực hiện theo tuần tự các bước mà giáo viên hướng dẫn Giáo viên chỉ
quan sát giúp đỡ với cá nhân học sinh và tổ chức chia sẻ trước lớp (nếu cần )
Sau đây là một số lỗi về câu và hướng khắc phục mà tôi đã hướng dẫn học sinh cách phân tích và chữa trong giờ văn trả bài:
2.1 Câu sai do thiếu thành phần
Ví dụ : Trong bài văn nói về Ông Bạch Thái Bưởi có câu học sinh viết: Qua câu chuyện “Vua tàu thủy” Bạch Thái Bưởi cho ta thấy nghị lực phấn đấu, lòng yêu nước và tài năng kinh doanh của ông.
Trang 8Khi chữa những câu sai như vậy, để học sinh dễ phát hiện lỗi, giáo viên nên yêu cầu các em phải xác định thành phần chính và thành phần phụ của câu bằng cách đưa ra các câu hỏi gợi ý : Em hãy tìm chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ trong câu?
Để có câu đủ thành phần, cần bổ sung chủ ngữ Ở ví dụ này em có thể chữa theo những cách nào? Vì sao?
Từ đó các em sẽ phát hiện ra cái sai của câu về cấu tạo: thiếu chủ ngữ - chỉ có trạng ngữ và vị ngữ
Dự kiến 2 cách chữa:
Cách 1: Chuyển trạng ngữ thành chủ ngữ bằng việc gạch bỏ từ “qua”.
Cách 2: Tạo cho câu một nòng cốt mới bằng cách thay từ “cho” bằng dấu phẩy,
bổ sung chủ ngữ
Như vậy, với câu sai trên, ta có thể chữa thành các câu đúng sau:
Qua câu chuyện “ Vua tàu thủy” Bạch Thái Bưởi, tác giả cho ta thấy nghị lực phấn đấu, lòng yêu nước và tài năng kinh doanh của ông (bổ sung chủ ngữ)
Câu chuyện “Vua tàu thủy” Bạch Thái Bưởi cho em thấy nghị lực phấn đấu, lòng yêu nước và tài năng kinh doanh của ông (chuyển trạng ngữ thành chủ ngữ)
Một ví dụ khác: Học sinh viết câu như sau
Mẹ em, người bạn lớn mà vô cùng thân thiết đối với em.
Đây cũng là câu thiếu thành phần, nhưng trong ví dụ này thuộc dạng lỗi khác
và có nguyên nhân khác Cái sai của câu bắt nguồn từ việc học sinh mang lối nói không chuẩn mực của khẩu ngữ vào cách viết Về nguyên tắc, các câu giới thiệu, nhận định có mô hình Danh 1 là Danh 2 (kiểu Ai là gì?) phải có vị ngữ mở đầu
bằng từ “là” Câu này sai do thiếu từ “là” trước cụm từ “người bạn lớn”
Tôi đã dự kiến các câu hỏi để các em phát hiện lỗi sai như sau:
Câu văn “Mẹ em, người bạn lớn mà vô cùng thân thiết đối với em.” thuộc kiểu câu gì? Câu văn đó thuộc kiểu câu kể, câu cảm hay câu khiến?
Câu văn đó thuộc kiểu câu kể nào? Câu kể đó có đặc điểm như thế nào? Dựa vào đặc điểm của câu kể đã nêu, em chữa lại câu văn sai của em bằng cách nào?
Trang 9Câu văn này còn có cách chữa nào khác? (Đây là câu hỏi giúp học sinh có thể tìm ra nhiều cách chữa câu sai khác nhau, học sinh có thể tương tác câu hỏi này trong nhóm, hoặc trong lớp)
Từ đó việc phân tích lỗi sai bằng cách đưa ra câu hỏi phân tích phù hợp với đối tượng học sinh, học sinh dễ dàng nhận xét và phát hiện ra lỗi sai, giáo viên
hướng dẫn để học sinh chữa câu Cách chữa đơn giản nhất là thêm từ “là” vào trước cụm từ “người bạn lớn” để có câu đúng.
Song cũng có thể cho rằng nguyên nhân tạo ra câu sai là do các em nhầm thành phần chú thích (người bạn lớn) của chủ ngữ (mẹ em) là vị ngữ của câu Theo cách phân tích này, câu trong ví dụ 2 chưa có vị ngữ và việc học sinh cần làm để
có câu đúng là thêm cho câu sai (vốn mới chỉ là chủ ngữ) một vị ngữ thích hợp Như vậy chúng ta có thể chữa câu sai này thành câu đúng tương tự như 2 câu sau:
Mẹ em là người bạn lớn mà vô cùng thân thiết đối với em.
Mẹ em, người bạn lớn mà vô cùng thân thiết đối với em luôn chỉ bảo cho em những điều hay lẽ phải.
Sự phân tích trên cho thấy, việc xác định nguyên nhân gây sai chi phối việc lựa chọn cách chữa câu Khi chữa một câu, ta chỉ phỏng đoán nguyên nhân gây sai
và chữa theo nguyên nhân đó xác định Càng phỏng đoán nhiều nguyên nhân bao nhiêu thí cách chữa càng phong phú bấy nhiêu (lí do chủ yếu của việc có thể xác định nhiều nguyên nhân và nhiều cách chữa chính cho một câu sai là do câu được xem xét tách khỏi hoạt động Nếu phân tích câu gắn với ngữ cảnh thì việc phỏng đoán nguyên nhân gây sai sẽ chính xác hơn, do vậy cách chữa câu sai cũng dễ dàng xác định hơn
Từ việc phân tích hai câu sai trên, có thể rút ra kết luận: Muốn chữa câu sai cần phải “ thêm” thành phần còn thiếu cho câu Ở đây cần hiểu thao tác
“thêm” theo nghĩa rộng có thể là bổ sung thành phần còn thiếu hoặc cải tiến một
thành phần câu vốn giữ chức năng khác thành thành phần còn thiếu trong câu
Trang 102.2 Câu thừa thành phần
Loại câu này không phổ biến bằng câu thiếu thành phần nhưng câu thừa thành phần cũng không hiếm gặp trong bài viết của học sinh
Nguyên nhân chủ yếu gây ra loại lỗi này cũng là do các em mang thói quen
của lời nói miệng vào bài viết Ví dụ : Trong bài văn tả của học sinh có câu sau:
Ông nội gia đình em là người em yêu nhất Em sẽ cố gắng học tập thật tốt để ông vui lòng.
Lỗi sai câu trên là do “thừa chủ ngữ” học sinh đã đưa các từ ngữ là trạng
ngữ “gia đình em” đứng sau chủ ngữ “ông nội” để trở thành chủ ngữ của câu Để học sinh thấy rõ cái sai trong câu, giáo viên cần cho các em phân tích cấu tạo ngữ pháp, bắt đầu bằng việc chỉ ra chủ ngữ, vị ngữ của câu Sau khi phân tích các em
sẽ thấy hai cụm từ không thể đứng cạnh nhau để làm chủ ngữ được vì chúng hoàn toàn khác nhau về chức năng ngữ pháp, về ý nghĩa Chữa câu thừa thành phần tương tự như chữa câu thiếu thành phần, nhưng quy trình ngược lại: cần phải gạch
bỏ thành phần thừa hoặc chuyển bớt một thành phần thừa sang chức năng khác Do vậy, câu sai trong ví dụ trên có ít nhất 3 cách chữa:
Cách 1: Gạch bỏ “ gia đình em”, câu mới sẽ là:
Ông nội là người em yêu nhất.
Cách 2: Chuyển cụm từ “gia đình em” về đầu câu, thêm từ “trong” để làm chức
năng trạng ngữ, câu mới sẽ là:
Trong gia đình em, ông nội là người em yêu nhất.
Cách 3: Chuyển vị ngữ “người em yêu nhất” lên đứng trước cụm từ “trong gia đình” về đầu câu, còn chủ ngữ “ông nội” về cuối câu (đảo CN – VN)
Người em yêu nhất trong gia đình là ông nội em.
Như vậy, với mỗi câu sai, ta có thể chữa bằng nhiều cách khác nhau Sau khi chữa xong cần hướng dẫn học sinh tìm ra câu mới có nội dung và cấu tạo gần với câu ban đầu (câu sai) nhất, có mối liên hệ chặt chẽ với các câu khác trong bài nhất (nếu ta biết các câu ấy), từ đó chọn cách chữa tốt nhất trong hoàn cảnh cụ thể