1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tài liệu nâng cao chất lượng tín dụng pdf

26 327 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số vấn đề cơ bản về chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
Thể loại Giáo trình
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 391 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ1.1 Tổng quan về tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế 1.1.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ Qua

Trang 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

1.1 Tổng quan về tín dụng doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế

1.1.1 Doanh nghiệp vừa và nhỏ

Quan niệm DNV&N ở các nước tuy có sự khác nhau, song nhìn chung đều dựa vào hai tiêu chí cơ bản để phân định đó là số lượng lao động và quy mô vốn kinh doanh

Philipines < 200 lao động < 100 triệu pê-sô

Như vậy, việc quan niệm thế nào là một DNV&N chỉ mang tính tương đối và chủ yếu là căn cứ vào quy mô vốn và lao động của doanh nghiệp đó

Tại Việt Nam, theo Nghị định số 90/2001/NĐ-Chính phủ ngày 23-11-2001 thì DNV&N được hiểu như sau: “ DNV&N là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người Căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội cụ thể của từng ngành và từng địa phương mà có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai tiêu chí vốn

và lao động hoặc một trong hai tiêu chí nói trên”

Nhìn chung, DNV&N có những đặc điểm sau đây:

Một là, DNV&N có cơ cấu tổ chức nhỏ, gọn nhẹ, do vậy dễ thích nghi với sự thay đổi của môi trường kinh doanh Tuy nhiên, do quy mô nhỏ, làm ăn manh mún nên cũng chịu nhiều tác động khi thị trường có các biến động mạnh

Trang 2

Hai là, DNV&N có tốc độ thu hồi vốn nhanh do quy mô vốn sản xuất của doanh nghiệp không quá lớn, chu kỳ sản xuất thường ngắn nên vòng quay của mỗi đồng vốn nhanh Nhưng bên cạnh đó, quy mô vốn nhỏ cũng tạo ra khó khăn cho DNV&N trong việc vay vốn, vì không hội đủ điều kiện vay vốn như: không đủ vốn tự có tham gia, thiếu tài sản đảm bảo….

Ba là, DNV&N bị hạn chế về kỹ năng quản lý, khă năng thu hút nguồn lao động có trình

độ cao gặp khó khăn, hạn chế về kỹ thuật, khó tiếp cận với công nghệ tiên tiến, không ( hoặc thiếu ) điều kiện cập nhật thông tin thị trường…

Bốn là, DNV&N bị hạn chế về nguồn tài chính vì vốn chủ sở hữu nhỏ, giá trị tài sản nhỏ, giá trị tài sản thế chấp thấp Vì vậy đối với các DNV&N thì vay vốn ngân hàng là nguồn tài chính quan trọng

Vai trò của DNV&N

Thứ nhất, DNV&N góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động

Hiện nay, số người trong độ tuổi lao động ngày càng tăng, sự không cân bằng giữa cung cầu lao động có thể dẫn đến tình trạng thất nghiệp, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, gây mất trật tự xã hội Trong khi đó các doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước, những thành phố lớn Còn DNV&N lại có mặt ở khắp các địa phương, vì vậy DNV&N là phương tiện hiệu quả nhất để giải quyết vấn đề việc làm, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, đồng thời góp phần nâng cao chẩt lượng cuộc sống cho người lao động, do DNV&N chiếm một số lượng lớn, lĩnh vực hoạt động đa dạng, ở nhiều ngành nghề khác nhau, do đó DNV&N có khả năng tạo ra được khối công viêc làm lớn cho xã hội

Thứ hai, DNV&N góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Với số lượng động đảo, cung cấp ra thị trường một khối lượng lớn các sản phẩm dịch vụ

đa dạng, phong phú về mẫu mã chủng loại Hàng năm, DNV&N đóng góp cho nền kinh

tế khoảng 26% GDP, 31% giá trị tổng sản lượng công nghiệp

Thứ ba, DNV&N nâng cao hiệu quae sản xuất cho nền kinh tế, là thanh giảm sóc cho nêng kinh tế

DNV&N thường chuyên môn hoá vào các ngành sản xuất các sản phẩm phụ trợ, giúp giảm áp lực cho các doanh nghiệp lớn trong việc nhập khẩu các linh kiện hoặc sản phẩm

Trang 3

phụ Đồng thời, DNV&N tham gia kinh doanh các lĩnh vưc mà các doanh nghiệp lớn đang bỏ ngỏ, nâng cao hiệu quả sản xuất của nền kinh tế.

Thứ tư, DNV&N góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng, lãnh thổ

Do phần lớn các doanh nghiệp lớn đều tập trung ở các thành phố, thị xá lớn nên đã gây ra tình trạng mất cân đối nghiêm trọng về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá xã hội giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng miền trong cả nước Sự ra đời và phát triển của các DNV&N khắc phục được tình trạng trên, tạo ra sự phát triển đồng đều về kinh tế giữa các vùng miền, thu hút lao động trong xã hội, hạn chế sự chuyển dịch lao động từ nông thôn

ra thành thị Hơn thế, các DNV&N còn góp phần vào việc duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống như mây tre đan, dệt, đồ gốm…

1.1.2 Tín dụng đối với các DNV&N

1.1.2.1 Những đặc trưng cơ bản về tín dụng DNV&N

Tín dụng ngân hàng được hiểu là quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với các chủ thể trong nền kinh tế như doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình…Trong đó, ngân hàng đóng vai trò

là trung gian tài chính thực hiện huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư để cho vay đối với nền kinh tế Các ngân hàng cung cấp nhiều loại hình tín dụng với các đặc trưng cơ bản khác nhau, trong đó tín dụng DNV&N có đặc trưng sau:

Thứ nhất, tín dụng DNV&N được coi là thị trường tiềm năng nhưng lại là thị trường có quá nhiều ngân hàng tham gia Nhu cầu về vốn của DNV&N không lớn như nhu cầu của các doanh nghiệp lớn, nên doanh thu từ cho vay DNV&N là không cao Trong khi đối tượng khách hàng đa dạng, thuộc nhiều nghành nghề kinh tế nên chi phí cho vay và kiểm soát từng khoản vay lại cao, việc quản lý cũng gặp nhiều khó khăn Do vậy, một khoản tín dụng DNV&N đem lại thu nhập thấp Tuy nhiên, do số lượng các DNV&N là rất lớn nên số lượng các món vay nhiều nên DNV&N vẫn được coi thị trường tiềm năng của các ngân hàng Bên cạnh đó, thị trường này đã có quá nhiều nhà cung cấp, do vậy để phát triển được thị trương này đòi hỏi các nhà ngân hàng phải có các thế mạnh của mình và có sức cạnh tranh tốt

Thứ hai, hồ sơ tín dụng DNV&N phức tạp: việc cho vay thường dựa trên các yếu tố như: nhu cầu vay của khách hàng, tài sản đảm bảo, vốn chủ sở hữu của khách hàng, khả năng đáp ứng của NH Trong đó, nhu cầu vay của DNV&N thường là nhu cầu vay vốn trung dài hạn để nâng cấp, cải tạo cơ sở vật chất kỹ thuật, đổi mới trang thiết bị… là những

Trang 4

nhu cầu vốn lớn Còn tài snr đảm bảo đa số là tài sản của doanh nghiệp ví dụ như: đất đai, máy móc, nhà xưởng đã cũ và lạc hậu nên có giá trị thấp, khó đáp ứng được nhu cầu về TSĐB, đồng thời cũng gây khó khăn cho NH khi định giá TSĐB Vốn chủ sở hữu của DNV&N cũng không lớn Mặt khác, các loại hồ sơ ngân hàng yêu cầu DNV&N đáp ứng không phải lúc nào cũng đầy đủ và có độ chính xác, tin cậy cao Đó không chỉ là hạn chế cho DN khi vay vốn NH mà còn là khó khăn cho ngân hàng trong việc đáp ứng nhu cầu của DNV&N

Thứ ba, trong tín dụng đối với DNV&N, ngân hàng cần tư vấn cho DN để hiệu quả sử dụng vốn vay cao hơn Do DNV&N thường bị hạn chế về kỹ thuật, nguồn tài chính và khả năng quản lý

Thứ tư, tín dụng DNV&N có nhiều rủi ro, do quy mô nhỏ nên trước các biến động của thị trường DNV&N là các đối tượng chịu ảnh hưởng đầu tiên Ngoài ra còn chịu rủi ro do những hạn chế về trình độ cũng như khả năng quản lý

1.1.2.2 Các hình thức tín dụng DNV&N

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng rất đa dạng và phong phú với nhiều hình thức khác nhau Người ta phân loại tín dụng dựa trên nhiều tiêu thức vì:

- Thứ nhất: Phân loại tín dụng để sử dụng quản lý tín dụng có hiệu quả

- Thứ hai: Để đảm bảo an toàn vốn trong kinh doanh thì việc cấp tín dụng phải gắn liền với đối tượng vay, nhằm tạo điều kiện cho sự vận động của vốn phù hợp vời sự vận động của hàng hoá

Thứ ba: Nguồn vốn của ngân hàng bao gồm nhiều loại: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi kỳ hạn, phát hành các công cụ nợ … Do đó phải tiến hành phân loại tín dụng để thực hiện cân đối giữa vốn và sử dụng vốn trong ngân hàng Thương Mại, giúp cho nhà quản lý điều hành ngày càng có hiệu quả

Căn cứ vào một số tiêu thức phân chia, ngân hàng cung cấp DNV&N các loại hình thức tín dụng sau:

Căn cứ vào thời hạn cho vay:

• Cho vay ngắn hạn: Loại cho vay này có thời hạn hết 12 thàng và được sử dụng để

bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp

• Cho vay trung hạn: Có thời hạn từ 12 tháng đến 5 năm Tín dụng hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, mở rộng sản xuất kinh doanh,

Trang 5

xây dựng các dự án có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh… Bên cạnh đầu tư cho tài sản cố định, cho vay trung hạn còn là nguồn hình thành vốn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp mới thành lập.

• Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm và thời hạn tối đa có thể lên đến 50 năm Tín dụng dài hạn là loại tín dụng được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu như xây dựng nhà xưởng, xí nghiệp, mua sắm các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn

Căn cứ vào mức độ tín nhiệm:

• Cho vay có đảm bảo: là hình thức cấp tín dụng có tài sản hoặc người bảo lãnh đứng ra làm bảo đảm cho khoản nợ vay Hình thức này áp dụng đối với khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phái có sự đảm bảo Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có them một nguồn thu thứ hai bổ xung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn

• Cho vay không bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng, khách hàng vay không có bảo đảm sẽ nhận được khoản vay khi hội tụ đầy đủ các yếu tố sau: có tín nhiệm đối với tổ chức tín dụng cho vay, có dự án đầu tư, hoặc phương

án sản xuất kinh doanh dịch vụ khả thi, có khả năng hoàn trả nợ, có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ…

Căn cứ vào phương thức cho vay:

• Cho vay từng lần: mỗi lần vay vốn doanh nghiệp và ngân hàng thực hiện các thủ tục vay vốn và ký kết hợp đồng tín dụng

• Cho vay theo hạn mức tín dụng: ngân hàng cấp tín cho doanh nghiệp theo một hạn mức nhất định, dư nợ cho vay không được vượt quá hạn mức này

• Cho vay theo hạn mức thấu chi: ngân hang chấp nhận cho doanh nghiệp chi vượt

có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của ngân hàng

Căn cứ vào đối tượng tín dụng:

• Tín dụng vốn lưu động: là hình thức cấp tín dụng có thời hạn ngắn thường dười 1 năm Được sử dụng để hình thành vốn lưu động của các tổ chức kinh tế, có nghĩa

là cho vay bù đắp vốn lưu động thiếu hụt tạm thời, bao gồm cho vay dự trữ hàng

Trang 6

hoá, cho vay chi phí sản xuất, cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới hình thức chiết khấu kỳ phiếu….

• Tín dụng vốn cố định: là hình thức đầu tư vốn của ngân hàng mà chi phí đầu tư gắn liền với TSCĐ, có nghĩa là đầu tư để mua sắm TSCĐ, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rông sản xuất, xây dựng các xí nghệp và các công trình mới

1.2 Chất lượng tín dụng DNV&N

1.2.1 Quan niệm về chất lượng tín dụng DNV&N

Chất lượng tín dụng là một phạm trù rộng , có thể hiểu về chất lượng tín dụng như sau: Chất lượng của một sản phẩm hay dịch vụ đều được biểu hiện ở mức đọ thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng và lợi ích tài chính cho người cung cấp Theo đó, chất lượng tín dụng được hiểu ở sự thoả mãn nhu cầu vay vốn của khách hàng, sự phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội đồng thời đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng Chất lượng tín dụng còn là khả năng thu hồi đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi theo đúng dự định Theo

đó, hiệu quả và khả năng thu hồi nợ càng lớn thì chất lượng tín dụng càng cao và ngược lại

Từ cách hiểu trên, chất lượng tín dụng được thể hiện trên ba góc độ: khách hàng, nền kinh tế và ngân hàng

• Về thời hạn trả nợ: NH tính toán và thoả thuận thời hạn trả nợ với khách hàng dựa vào chu kỳ sản xuất kinh doanh,chu kỳ luân chuyển vốn … của khách hàng Từ

đó tạo điều kiện cho khách hàng có khả năng tạo nguồn trả nợ theo đúng thời hạn

Trang 7

trong hợp đồng, hướng khách hàng vào việc sử dụng vốn vay đúng mục đích Tuy nhiên tất cả chỉ là số liệu được tính toán dựa trên kế hoạch Trong bối cảnh thị trường đầy biến động, NH cần phải có những phản ứng phù hợp với lợi ích của doanh nghiệp cũng như NH.

• Về tài sản đảm bảo: Trong quan hệ tín dụng, bộ phận lớn khách hàng phải có tài sản đảm bảo mới được cấp tín dụng Việc này là cần thiết để giảm thiểu rủi roc ho

NH nhưng ngân hàng cũng nên xử lý linh hoạt, không nên đánh giá tài sản đảm bảo quá cao nhưng cũng không nên đánh giá quá khắt khe

• Về chi phí cấp tín dụng: bao gồm lãi suất và các khoản phí mà khách hàng phải chịu trong quan hệ tín dụng Chi phí càng thấp thì gánh nặng về trả nợ lãi của khách hàng càng thấp, chính vì vậy mà khách hàng luôn tìm đến các khoản tín dụng với lãi suất thấp hơn để vay Do vậy, để cạnh tranh được với các NH khác, đòi hỏi các ngân hàng phải có mức lãi suất hợp lý

• Khả năng đáp ứng nhu cầu về vốn của NH đối với khách hàng: Với phương án,

dự án kinh doanh của mình, ngoài nguồn vốn tự có và các nguồn vốn khác, DN luôn mong muốn được ngân hàng đáp ứng toàn bộ lượng vốn thiếu hụt cần thiết cho dự án Theo quyết định 457/2005/QĐ-NHNN về tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của các TCTD, tổng dư nợ cho vay và bảo lãnh tối đa đối với một khách hàng không được vượt quá 25% vốn tự có của TCTD đó, tổng dư nợ cho vay và bảo lãnh tối đa đối với một nhóm khách hàng không vượt quá 60% vốn tự

có của TCTD đó Việc ngân hàng có khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng hay không cho thấy quy mô, tiềm lực tài chính của NH hay cũng như vị thế của

NH trên thị trường Từ đó ảnh hưởng rất lớn tới quyết định lựa chọn NH

b Đối với nền kinh tế: Chất lượng tín dụng pahỉ góp phần phục vụ sản xuất lưu thông hàng hoá, thực hiện các chính sách vĩ mô của nhà nước trong từng thời kỳ, góp phần tăng trưởng kinh tế, hội nhập quốc tế… Chất lượng tín dụng trên phương diện nền kinh tế thể hiện qua những nội dung sau:

• Góp phần thực hiện chính sách tiền tệ: tín dụng ngân hàng được coi là chất lượng khi nó thực thi chính sách tiền tệ quốc gia trong từng thời kỳ nhằm ổn định giá trịi tiền tệ, kiểm soát lạm phát…

Trang 8

• Đáp ứng nhu cầu vốn cần thiết cho sản xuất kinh doanh, góp phần giúp nền kinh

tế tăng trưởng và phát triển bền vững Với vai trò huy động vốn để cho vay và đầu tư,các ngân hàng đóng vai trò là người cung cấp vốn chủ yếu cho nền kinh tế, phục vụ quá trình kinh doanh, khai thác triệt để tiềm năng phát triển kinh tế, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho người lao động

• Góp phần phát triển các ngành nghề, lĩnh vực mũi nhọn của nền kinh tế theo định hướng của chính phủ, chấp hành tốt các quy định về an toàn trong hoạt động NH, không bất chấp rủi ro chạy theo lợi nhuận gây ảnh hưởng tới hệ thống ngân hàng

c Đối với ngân hàng thương mại: Chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp vời năng lực của bản thân ngân hàng và đảm bảo tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi Chất lượng tín dụng trên phương diện NHTM thể hiện qua những nội dung sau:

• Quy trình tín dụng: là trình tự các bước mà NH phải thực hiện khi cấp tín dụng cho khách hàn Quy trình phản ánh nguyên tắc cho vay, phương pháp cho vay, trình tự giải quyết các công việc, thủ tục hành chính và thẩm quyền giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động tín dụng Quy trình tín dụng là quy định bắt buộc đối với bất kỳ một ngân hàng nào và thường được in thành văn bản hay sổ tay hướng dẫn cán bộ tín dụng trong việc thực hiện thống nhất nghiệp vụ tín dụng Quy trình tín dụng có ý nghĩa rất lớn quyết định chất lượng tín dụng, là cơ sở để NH kiểm soát quá trình cấp tín dụng, đảm bảo cho các khoản tín dụng và là căn cứ điều chỉnh các chính sách tín dụng cho hợp lý với tình hình thực tiễn Một ngân hàng có quy trình tín dụng đơn giản hợp lý

sẽ tiết kiệm được thời gia, chi phí lại vừa đảm bảo được chất lượng tín dụng

và đem lại sự thuận tiện cho khách hàng

• Hiệu quả hoạt động tín dụng: Trong thực tiễn, hoạt động tín dụng có chất lượng cao đồng nghĩa với việc doanh thu từ hoạt động đó phải cao, đem lại lợi nhuận lớn, chi phí thấp… Chi phí thấp đồng nghĩa với việc NH phải đơn giản hoá các thủ tục, gọn nhẹ các khâu, bộ phân không cần thiết để tinh giảm bộ máy quản lý…

• Khả năng thu hồi các khoản nợ khi đến hạn: là một chỉ tiêu rất quan trọng phản ánh mức độ an toàn của các khoản tín dụng.Khả năng thu hồi nợ càng

Trang 9

cao, tỷ lệ xử lý tài sản đảm bảo càng thấp, rủi ro tín dụng thấp chứng tỏ chất lượng tín dụng cao.

• Khả năng cạnh tranh: của một NH cao hay thấp cho thấy phần nào chất lượng tín dụng của NH đó Sở dĩ như vậy bởi vì tín dụng là hoạt động kinh doanh chủ yếu, đem lại nguồn thu nhập chính cho NH Một NH có khả năng cạnh tranh cao nghĩa là khả năng thu hút khách hàng tốt, khả năng huy đông vốn cao, khả năng quản lý rủi ro tốt, chất lượng phục vụ tốt…thì hoạt động tín dụng của NH đó sẽ được khách hàng đánh giá là có chất lượng hơn

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng đối với DNV&N

1.2.2.1 Các chỉ tiêu định tính

a Đảm bảo nguyên tắc cho vay

Đây là một nguyên tắc rất quan trọng đối với Ngân Hàng Để đánh giá chất lượng một khoản vay đầu tiên phải xem xét khoản vay đó có đảm bảo nguyên tắc cho vay không Ba nguyên tắc cơ bản của cho vay là:

- Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng

- Hoàn trả nợ gốc và tiền lãi vay đúng hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng

- Vốn vay phải được đảm bảo bằng tài sản tương đương

b Cho vay đảm bảo có điều kiện

Các điều kiện để một khách hàng được vay vốn tại Ngân hàng

- Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật

- Mục đích sử dụng vốn hợp pháp

- Có khả năng tài chính bảo đảm trả nợ trong thời hạn cam kết

- Có dự án đầu tư, phương án SXKD khả thi

- Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định cuả chính phủ , của NHNN

c Quy trình thẩm định

Quy trình thẩm định là chỉ tiêu định tính quan trọng nhất quyết định tới chất lượng khoản vay vì thông qua quá trình thẩm định Ngân hàng có thể nắm bắt được thông tin về tình hình tài chính, khả năng trả nợ của khách hàng từ đó đưa ra quyết định cho vay hay không Vì thế một khoản vay có chất lượng là khoản vay đã được thẩm định theo đúng quy trình của ngân hàng

Trang 10

d Mức độ đáp ứng nhu cầu của khách hàng

Chất lượng tín dụng được đánh giá là tốt khi các doanh nghiệp quan hệ tín dụng với ngân hàng được đáp ứng tốt nhu cầu của họ Khách hàng nói chung và DNV&N nói riêng luôn mong muốn một quy trình thủ tục tín dụng đơn giản, gọn nhẹ,khoa học, thuận tiện và thật

sự khách quan trong thái độ làm việc của nhân viên Ngân hàng Tất nhiên dù gọn nhẹ tới mấy vẫn phải tuân theo nguyên tắc tín dụng, các nguyên tắc đảm bảo an toán khác Doanh nghiệp được cung cấp vốn nhanh chóng, kịp thời sẽ giúp quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra ổn định, nắm bắt được các cơ hội kinh doanh và giảm được một phần chi phí vốn vay

1.2.2.2 Các chỉ tiêu về mặt định lượng

a Doanh số cho vay

Doanh số cho vay là tổng số tiền mà ngân hàng đã thực sự giải ngân cho khách hàng được tính trong một khoản thời gian nhất định Nếu một ngân hàng có doanh số cho vay càng lớn cho thấy mối quan hệ tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng càng nhiều, khả năng đáp ứng tạo ra lợi nhuận lớn từ hoạt động tín dụng Nhưng không phải khi chỉ tiêu này lớn thì chất lượng tín dụng cũng tốt mà còn phụ thuộc vào các rủi ro khác mà hoạt động tín dụng gặp phải

Để dánh giá doanh số cho vay đối với DNV&N qua từng thời kỳ có thể xác định các chỉ tiêu như sau:

Mức tăng DSCV DNV&N = Tổng DSCV đối với DNV&N năm(t) – năm(t-1)

Mức tăng doanh số cho vay đối với DNV&N thay đổi phán ánh sự thay đổi về quy mô tín dụng đối với DNV&N

Tỷ lệ tăng DSCV DNNV&N = Mức tăng DSCV đối với DNV&N

Tổng DSCV đối với DNV&N năm(t-1)Chỉ tiêu này thay đổi phản ánh tốc độ thay đổi của doanh số cho vay năm nay so với năm trước là bao nhiêu, từ đó cho biết xu hướng đầu tư vào DNV&N là mở rộng hay thu hẹp

Tỷ trọng DSCV DNV&N = Tổng DSCV đối với DNV&N

Tổng DSCV của hoạt động tín dụng

Trang 11

Có thể sử dụng các chỉ tiêu để đánh giá DSTN đối với DNV&N trong từng thời kỳ như sau:

Mức tăng DSTN DNV&N = Tổng DSTN đối với DNV&N năm(t) – năm (t-1)

Chỉ tiêu này tăng hay giảm phản ánh được công tác tổ chức, quản lý khoản vay cũng như công tác thu nợ của ngân hàng là tốt hay không

Tỷ lệ tăng DSTN DNNV&N = Mức tăng DSTN đối với DNV&N

Tổng DSTN đối với DNV&N năm(t-1)

Chỉ tiêu này thay đổi phản ánh tốc độ thay đổi của doanh số thu nợ đối với DNV&N năm nay so với năm trước là bao nhiêu

Chỉ tiêu này thay đổi phản ánh sự thay đổi của doanh số thu nợ đối với DNV&N trên tổng doanh số thu nợ của hoạt động tín dụng

Tỷ trọng DSTN DNV&N = Tổng DSTN đối với DNV&N

Tổng DSTN của hoạt động tín dụng

Trang 12

c Dư nợ tín dụng

Dư nợ tín dụng đối với DNV&N là số tiền mà ngân hàng hiện đang còn cho doanh nghiệp vay tại một thời điểm nhất định ( hay là lượng vốn mà DNV&N còn nợ ngân hàng tại một thời điểm cụ thể) được tính bằng số dư cuối kỳ trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng

Chỉ tiêu này cho biết dư nợ cho vay DNV&N chiếm bao nhiêu phần trăm trên tổng dư nợ cho vay Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ ngân hàng đang ngày càng tập trung quan hệ tín dụng với các DNV&N, song cũng có thể là do việc thu nợ không được thực hiên tốt nên

tỷ trọng dư nợ của DNV&N cao Vì vậy, khi đánh giá chỉ tiêu này phải đặt điều kiện tỷ trọng tăng dư nợ cho vay phải tương xứng với tỷ trọng tăng của doanh số cho vay và doanh số thu nợ

Chỉ tiêu này thay đổi phản ánh tốc độ thay đổi của dư nợ tín dụng đối với DNV&N năm nay so với năm trước là bao nhiêu

d Tỷ trọng dư nợ có tài sản đảm bảo

Tỷ trọng dư nợ cho vay DNV&N = Dư nợ cho vay DNV&N

Tổng dư nợ cho vay

Tốc độ tăng trưởng dư nợ TD = Mức tăng dư nợ đối với DNV&N

Dư nợ đối với DNV&N năm (t-1)

Trang 13

Chỉ tiêu này phản ánh dư nợ có tài sản đảm bảo chiếm bao nhiêu phần trăm tổng dư nợ Chỉ tiêu này càng lớn thì chất lượng tín dụng càng cao, rủi ro càng được giảm thiểu cho ngân hàng

f Hệ số sử dụng vốn vay

Tỷ trọng dư nợ có TSĐB = Dư nợ có tài sản đảm bảo

Tổng dư nợ

Vòng quay vốn tín dụng = Doanh số thu nợ đối với DNV&N

Dư nợ bình quan DNV&N

Hệ số sử dụng vốn vay = Tổng dư nợ đối với DNV&N

Tổng vốn huy động

Ngày đăng: 19/01/2014, 12:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w