1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

SKKNMot so bien phap giup hoc sinh lop 7 khac phuc loi khi viet bai lam van

27 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 58,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề xuất nhằm khắc phục lỗi Như đã trình bày những nguyên nhân dẫn đến lỗi của học sinh khi viết bài kiểm tra văn, Tập làm văn nêu trên bản thân cá nhân tôi có một số đề xuất sau: - Đối v[r]

Trang 1

PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong nhà trường Trung học cơ sở việc viết các bài Tập làm văn và kiểmtra phần Văn bản đóng vai trò hết sức quan trọng (7 bài viết/năm và 2 bài kiểmtra phần Văn bản) Các bài viết Tập làm văn và kiểm tra văn bản không chỉ đánhgiá học sinh về những điểm số mà còn mục đích khác nữa như: rèn luyện tínhkiên nhẫn, cách hành văn và đặc biệt là bồi dưỡng tâm hồn cho học sinh

Hiện nay, đa số học sinh hết sức lơ là trong việc rèn luyện kĩ năng làm văndẫn đến chất lượng bài làm văn của học sinh ngày càng bị giảm xuống Tìnhtrạng phổ biến là học sinh yếu kĩ năng hành văn Hầu hết học sinh mắc lỗi trongviệc viết văn từ một đoạn văn ngắn cho đến một bài văn dài với rất nhiều kiểulỗi

Mặc dù giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn trong trường Trung học cơ sở đã

có cố gắng trong việc rèn luyện, chỉnh sửa lỗi chính tả, lỗi diễn đạt, lỗi kiến thứccũng như kĩ năng cho học sinh nhưng kết quả vẫn chưa được như mong đợi.Vậy chúng ta phải làm gì có thể củng cố, rèn luyện kĩ năng làm văn cho họcsinh? Tôi xin đưa ra một số kinh nghiệm mình đã tích lũy được qua quá trìnhdạy học môn Ngữ văn ở trường Trung học cơ sở

II MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Mục đích của tôi trong việc chọn đề tài này là chỉ ra một số lỗi về kĩ năng

chủ yếu mà học sinh thường mắc phải trong quá trình viết văn và xin nêu ra một

số biện pháp khắc phục những lỗi đó

III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 7 khắc phục lỗi khi viết bài làm văn” là sinh lớp 7A6 trường Trung học cơ sở

Vĩnh Phước 1

2 Phạm vi nghiện cứu

Trang 2

Tôi chỉ thực hiện đề tài này trong phạm vi những bài Tập làm văn và bàikiểm tra văn bản của học sinh lớp 7A6 trường Trung học cơ sở Vĩnh Phước 1.

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Kĩ năng làm văn của học sinh rất phong phú và đa dạng Tuy nhiên, đề tàichỉ dừng lại ở việc chỉ ra những lỗi viết văn mà học sinh mắc phải Tôi chỉ sửdụng một số biện pháp như: quan sát, phát vấn, tổ chức viết bài Tập làm văn, bàikiểm tra văn, điều tra và thể nghiệm bằng bài giảng

V TÍNH MỚI CỦA ĐỀ TÀI

Chỉ ra được các lỗi sai thường gặp đối với học sinh khi trình bày bài văn.Nhất là đối với các em vùng sâu, vùng xa thường xuyên sử dụng phương ngữ đểgiao tiếp

Giúp các em tự nhận ra được các lỗi trong quá trình làm bài Tập làm văn,bài kiểm tra văn

Hướng dẫn các em cách khắc phục các lỗi đó, bao gồm: lỗi chính tả, lỗidiễn đạt, lỗi kiến thức

Trang 3

tác phẩm văn học “Cơ sở và xuất phát điểm của khoa học văn học là sự đốithoại với các văn bản văn học thông qua hoạt động đọc và hiểu chúng” Đâycũng là vấn đề được quan tâm, bởi vì thông qua nội dung, nghệ thuật và ý nghĩavăn bản học sinh áp dụng những kỹ năng đó vào bài làm của mình Đồng thờikết hợp với các bộ môn khác góp phần hình thành nhân cách học sinh, môn văntrong trường Trung học cơ sở có tầm quan trọng đặc biệt, tác động trực tiếp đếnphẩm chất, tư tưởng tình cảm học sinh Một bài thơ hay, một trích đoạn đặc sắckhắc họa sinh động hình tượng nhân vật, vào và đứng được trong tâm hồn họcsinh sẽ trở thành thành lũy, là ngọn hải đăng hướng đạo hành vi, thái độ sốngcác em.

Dạy Văn là một hoạt động thuộc phạm trù nghệ thuật, khám phá và chuyểntải cái hay, cái đẹp từ tác phẩm đến học sinh Mỗi tác phẩm, tùy thể loại, đượctuyển chọn trong chương trình sách giáo khoa đều toát lên vẻ đẹp riêng Tácphẩm văn học mang đặc trưng riêng của cấu trúc tác phẩm nghệ thuật ngôn từ

Đó là một chỉnh thể bao gồm các thành tố nhà văn - văn bản - người đọc tươngtác với nhau Nội dung thẩm mĩ của tác phẩm văn học gắn liền với tầm đón nhậncủa người đọc Tiếp nhận văn học tức là đọc hiểu để biến văn bản thành một thếgiới hình tượng sinh động và nắm bắt được ý nghĩa của nó

Cùng với quá trình Đọc - hiểu văn bản, ở cấp Trung học cơ sở học sinh cònphải viết các bài Tập làm văn theo quy định Việc viết bài của học sinh khôngchỉ kiểm tra xem các em lĩnh hội kiến thức, khả năng cảm nhận văn chương màcòn rèn khả năng ngôn ngữ, cách diễn đạt Thông qua các bài làm văn khả năngvận dụng và diễn đạt ngôn ngữ của các em được cải thiện rất nhiều Như vậy,trong trường Trung học cơ sở các bài Tập làm văn và kiểm tra văn giữ vị trí hếtsức quan trọng

2 Những yêu cầu của một bài văn đúng và hay

a Trước khi làm bài học sinh phải xác định được phần tìm hiểu đề

Xác định trọng tâm nội dung của đề

Trang 4

- Xác định các phương thức biểu đạt và nghệ thuật: tự sự, miêu tả, nghịluận; phân tích, so sánh, ví von, liên tưởng, lập luận chứng minh, giải thích…Xác định phạm vi đối tượng, tư liệu.

* Mở bài: Đây là bước đầu tiên có vai trò rất quan trọng đối với một bài

văn Mở bài đúng và hay sẽ khai thông được mạch văn cho toàn bài Ở phần mởbài người viết cần giới thiệu khái quát đối tượng (vấn đề) sẽ viết, nó sẽ dược làmsáng tỏ trong phần thân bài Để có được mở bài hay, người viết cần cần nêutrọng tâm và phạm vi đối tượng (vấn đề) sẽ tự sự (kể, tả, nhận xét, đánh giá),bàn bạc một cách ngắn gọn, viết tự nhiên, khúc chiết và mới mẻ

* Thân bài: Có nhiệm vụ làm sáng tỏ vấn đề mà mở bài đã nêu Thân bài

gồm nhiều đoạn Giữa các đoạn có câu hoặc từ chuyển tiếp

* Kết bài: Là phần kết thúc bài viết Vì vậy, nó tổng kết, thâu tóm lại vấn

đề đã đặt ra ở mở bài và giải quyết ở thân bài Một kết bài hay không chỉ làmnhiệm vụ “gói lại” mà còn phải khơi gợi suy nghĩ trong người đọc

c Riêng đối với bài văn nghị luận cần có:

- Trình bày dẫn chứng

+ Yêu cầu: khi sử dụng dẫn chứng phải nắm chắc nguyên tắc: lập luận baogiờ cũng quyết định dẫn chứng; dẫn chứng phải vừa đủ, không thừa, khôngthiếu, không quá dài, phải cân đối

Trang 5

+ Phương pháp lựa chọn dẫn chứng: dẫn chứng phải phù hợp với lời văn,song song với hệ thống ý.

+ Phạm vi dẫn chứng: trong tác phẩm văn học hoặc từ đời sống xã hội.+ Cách sử dụng dẫn chứng:

Cách 1: Đưa dẫn chứng thành câu văn riêng biệt và trích xuống dòng,

thường được dùng cho những câu thơ, câu văn hay

Cách 2: Dùng một số chữ đặt ẩn trong câu văn:

Cách 3: Tóm tắt dẫn chứng thành lời văn của mình, thường dùng cho văn

xuôi và văn tự sự

- Cách chuyển ý trong bài làm văn

+ Nhiệm vụ

Đảm bảo bài văn có sự liên tục, chuyển ý phát triển tự nhiên

Xác định mối quan hệ chặt chẽ giữa các ý tạo nên bài văn

+ Cách chuyển ý

Cách 1: Chuyển ý bằng cách dùng các kết từ.

Cách 2: Chuyển ý bằng câu.

Nên chuyển ý linh hoạt để tạo sự hấp dẫn cho bài viết

- Cách hành văn trong bài làm văn

+ Khái niệm: Hành văn là cách diễn đạt ý (ý lớn, ý nhỏ), những cảm xúc,

suy nghĩ thành lời văn của người viết

II CƠ SỞ THỰC TIỄN

Trang 6

1 Thực trạng bài văn của học sinh

Hiện nay, xã hội ngày càng phát triển nhưng tình trạng học sinh các cấpviết sai lỗi chính tả, dùng sai từ, sai ngữ pháp đang lên đến mức báo động Thựctrạng này không chỉ xảy ra ở học sinh các cấp mà thậm chí ngay cả những ngườilàm công tác giảng dạy cũng có những lúc mắc phải Nhất là những ngườithường xuyên sử dụng phương ngữ Do sử dụng quá lâu nên đôi khi khó phânbiệt một số âm như: “L” hay “N”; “S” hay “X”; “R” hay “G”; “Tr” hay “Ch”;

“C” hay “T”…Vì thế khi viết hoặc đánh máy văn bản, giáo án thường nhầmlẫn các từ nêu trên

Vậy thì do đâu mà dẫn đến tình trạng trên ngày càng phổ biến? Trước hết là

do chính bản thân học sinh các cấp lười học, lười đọc sách báo, thiếu ý thức rènluyện ngôn ngữ tiếng Việt nên kiến thức và khả năng vận dụng ngôn từ của các

em còn yếu kém, mắc nhiều lỗi về chữ và nghĩa của câu

Có không ít học sinh khi kiểm tra đã quá ỷ lại vào sách hướng dẫn, sáchhọc tốt mà chép y nguyên câu trả lời, bài văn mẫu vào bài kiểm tra của mình màkhông cần phải động não nên không phát huy được tính tích cực của bản thân

Vì thế, khi tự viết một bài Tập làm văn thì mắc rất nhiều lỗi về chính tả, ngữpháp Do không được rèn luyện nên ngày càng có nhiều học sinh, sinh viên mắcphải các lỗi về chính tả, ngữ pháp Một nguyên nhân nữa dẫn đến tình trạng này

là do áp lực của tiết dạy, sự tích hợp quá nhiều phân môn trong một tiết khiếngiáo viên lo sợ không đủ thời gian cho việc truyền thụ kiến thức Từ đó, vô tình

đã đã tạo nên lơ là trong việc rèn luyện kỹ năng viết chính tả, cách diễn đạt củamột số giáo viên khi giảng dạy ở môn của mình

Ngoài ra, sự phát triển về công nghệ thông tin đã sản sinh một thứ “ngônngữ” mới ra đời Đó là “ngôn ngữ mạng”, loại ngôn ngữ này là những kí hiệuđược quy ước với nhau để trao đổi thông tin mà không có tính chuẩn mực vănhóa Nhưng khi trình bày văn bản các em vẫn chêm xen vào hoặc một số trườnghợp do thói quen sử dụng phương ngữ nên không biệt đâu là từ toàn dân Vì thếkhi hành văn thì các em cứ nói sao viết vậy làm cho bài văn khó hiểu

Trang 7

Trong bài kiểm tra (Viết bài Tập làm văn số 1 và bài kiểm tra văn) năm học

2016 - 2017:

Kết quả khảo sát lần thứ nhất

Kết quả này được thống kê dựa trên bài viết Tập làm văn số 1 (văn Tự sự)

và bài kiểm tra văn của học sinh lớp 7A6

Sĩ số lớp thời điểm này là 27 học sinh:

mắc lỗi

Lỗi chính

tả

Lỗi viết hoa Viết hoa sai quy định chính tả 15/27

Lỗi viết tắt Viết tắt sai quy định chính tả 8/27

Lỗi dùng số vàchữ biểu thị số

Không phân biệt được khi nàoviết chữ, khi nào viết số 4/27

Lỗi chính tả âmvị

Lỗi chính tả âm vị siêu đoạn

Lỗi dựng đoạn Viết lan man, không dấu câu,

Lỗi bố cục bàivăn

Chỉ chép lại dàn ý thay cho bài

Không biết phân biệt đoạn văn

(Cả bài chỉ có một hoặc haiđoạn)

7/27

Gạch đầu dòng khi làm bài

(Đánh dấu, MB, TB, KB) 4/27

Trang 8

Lỗi sai kiến

2 Nguyên nhân mắc lỗi

Theo suy nghĩ và kinh nghiệm của một giáo viên dạy môn Ngữ văn, tôi xinmạnh dạn nêu lên một số nguyên nhân sau:

Thứ nhất, ảnh hưởng từ công nghệ thông tin (Internet) Sự phát triển củamạng xã hội, phần lớn học sinh biết và sử dụng được Internet Thế nhưng, các

em rất ít biết khai thác, tận dụng để học tập mà phần lớn chỉ để chơi game vàchat chít Khi “chát” các em hầu hết sử dụng “ngôn ngữ mạng” tiếng Việt khôngdấu hoặc những kí hiệu và dùng cách diễn đạt rất ngắn gọn bằng những từ ngữ

“chuyên dụng” của giới trẻ, và theo quan niệm của họ như thế mới được cholà…sành điệu Ngôn ngữ phản ánh tư duy Việc thường xuyên sử dụng ngônngữ bất thường, cụt ngủn như thế sẽ góp phần làm “cùn” đi tính thẩm mỹ và tinh

tế vốn có của ngôn ngữ truyền thống, còn gây khó khăn cho việc rèn luyện tưduy sâu sắc

Thứ hai, do ảnh hưởng của phim ảnh Ngày nay truyền hình, phim ảnh pháttriển đến chóng mặt Có nhiều kênh chiếu những phim hấp dẫn với mật độ dàyđặc khiến cho thiếu niên ngoài giờ đến trường chỉ “mê mẩn” với phim ảnh Việcxem phim nhiều khiến các em lười đọc sách Nếu có đọc thì đó cũng chỉ là cáctruyện tranh hình nhiều mà chữ ít Có rất nhiều em đọc và bị ảnh hưởng bởingôn ngữ trong các câu truyện đó

Thứ ba, ảnh hưởng của âm nhạc “thị trường” Ngày nay có một bộ phậnkhá đông giới trẻ mê nhạc “thị trường” với những ca từ giai điệu mà khi hát lênnhư… đọc, như nói Lời lẽ rất cộc cằn và thô thiển, thiếu tính triết lý Nhữngngôn từ đó ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển ngôn ngữ của học sinh

Thứ tư, những năm học gần đây việc áp dụng hình thức thi trắc nghiệm vớiviệc lựa chọn các phương án hoặc A, hoặc B, hoặc C, hoặc D cũng góp phầnlàm “cùn” tư duy cũng như cách diễn đạt của học sinh

Trang 9

Thứ năm, ngày nay do áp lực công việc, nặng về các loại báo cáo nên giáoviên ít quan tâm đến việc dạy cho học sinh kỹ năng trình bày đoạn văn hoànchỉnh (dù cho đó là môn khác) Ngoài việc giáo viên dạy Văn khi chấm bài cósửa lỗi cho học sinh về chính tả, câu cú, diễn đạt, còn đa số giáo viên không sửalỗi cho học sinh khiến cho các em không biết mình mắc lỗi gì để khắc phục, đểlần sau sẽ tiến bộ Thực tế có những bài văn, bài lịch sử, bài Giáo dục Côngdân học sinh viết cả một đoạn dài mà không có dấu chấm, dấu phẩy nhưnggiáo viên vẫn cho đủ điểm (điểm theo quy định của câu) mà không bị trừ

Thứ sáu là việc trên thị trường tràn ngập các bài văn mẫu Học sinh khôngcần phải học, suy nghĩ mà cứ thuộc bài văn mẫu để chép lại khi làm bài

Nhưng theo tôi nguyên nhân cốt lõi nhất vẫn là do thầy và trò, dạy - họcvăn để đối phó với kiểm tra, thi cử Từ những năm học cấp tiểu học, học sinh đãhọc thuộc lòng bài văn mẫu Lên đến cấp Trung học cơ sở các em với suy nghĩxưa cũ, học cứ học khi nào kiểm tra thầy cũng cho đề và bài văn mẫu về đọcthuộc

Một nguyên nhân quan trọng nữa là ý thức học văn của học sinh chưa tốt.Nhiều em lười học môn Văn, khi viết bài thì không đầu tư thời gian Các em viếttheo kiểu đối phó Cá biệt có em cho bài về nhà cũng không làm Khi viết thì kệ,chính tả muốn sai thế nào cũng được Viết bài không cần chấm câu, không chú ýdùng từ Phần lớn học sinh thiếu kiên nhẫn luyện viết Các em chưa hiểu đượctầm quan trọng của chữ viết

Đối với học sinh những lớp tôi dạy ở trường Trung học cơ sở Vĩnh Phước 1còn một nguyên nhân nữa là phần lớn các em học sinh đều thuộc vùng sâu, vùng

xa hầu hết sử dụng phương ngữ để giao tiếp Vì thế phát âm từ toàn dân khôngchuẩn; phát âm như thế nào thì viết như thế đó nên sai rất nhiều

III CÁC GIẢI PHÁP

Việc rèn kĩ năng cho học sinh là một vấn đề nan giải đã làm đau đầu nhiềuthầy cô giáo và cán bộ quản lí giáo dục Đã có rất nhiều Hội thảo được tổ chức

Trang 10

đề nhằm nâng cao trình độ làm văn của học sinh Sau đây người viết bài này xinđưa ra một số kinh nghiệm mà mình đã áp dụng:

1 Tạo hứng thú để cho học sinh yêu thích văn chương

Để học sinh yêu thích môn mình dạy -có yêu thích thì các em mới học- mỗigiáo viên có những cách riêng: một trong những cách được nhiều giáo viên ápdụng là quan tâm đến học sinh; đặc biệt chú ý đến những học sinh yếu nhưngcũng không nên tạo áp lực nhiều quá khiến các em sợ Khen thưởng kịp thời khihọc sinh học yếu có cố gắng Khen thưởng bằng nhiều hình thức: tặng quà, cộngđiểm khuyến khích… Còn có giáo viên hướng các em tới thế giới mà các tácphẩm văn chương đã tạo ra Học sinh thường rất thích thú khi giáo viên kểtruyện hoặc bình những câu văn, câu thơ hay Đặc biệt, giáo viên phải hết sứcnhiệt tình truyền đạt cho các em cái hay cái đẹp của văn chương

2 Rèn chính tả và chữ viết cho học sinh

Nhiều học sinh nói như thế nào thì viết như vậy Vì thế, là một giáo viêndạy văn thì cần chú ý rèn cách phát âm cho học sinh khi các em nói, đọc chưachuẩn Những lớp tôi dạy ở trường Trung học cơ sở Vĩnh Phước 1, tôi luôn tậptrung vào uốn nắn học sinh mắc những lỗi về phát âm như:

Chưa chuẩn “r” và “ g”, “ x” và “s”; “v” và “d”;“ ch” và tr”; “t” và “c”Học sinh ngọng dấu ngã, nói “ gỗ” thành “ gố” “ mỡ” thành “ mớ”… Cóthể đưa ra các từ, các câu có dấu ngã để học sinh luyện

Giáo viên rèn cho học sinh các phân biệt phụ âm đầu, các âm đệm, âmchính, âm cuối

Luyện phát âm:

Muốn học sinh viết đúng chính tả, giáo viên phải chú ý luyện phát âm đúngcho học sinh để phân biệt các thanh, các âm đầu, âm chính, âm cuối vì chữ quốcngữ là chữ ghi âm - âm thế nào, chữ ghi lại thế ấy

Trang 11

Ghi nhớ mẹo chính tả, giải nghĩa từ Trong Hán Việt các từ có âm: M, NH,

N, V, L, D, NG, thì viết bằng dấu ngã Để dễ nhớ có thể đọc thuộc lòng câu:mình (m) nhớ (nh) nên (n) viết (v) là (l) dấu (d) ngã (ng)

VD: -M: Mĩ mãn, mãng xà, miễn dịch, mã lực, kiểu mẫu, mãn khóa,…

-NH: Nhũng nhiễu, nhã nhặt, nhẫn nại, nhiễm độc, nhãn hiệu,…

-N: trung não, trí não, nam nữ, nỗ lực,…

-V: vũ lực, vãng lai, vãn cảnh, vĩ tuyến, hùng vĩ, vũ đạo,…

-L: Phụ lão, kết liễu, lữ khách, lẫm liệt, lãng phí, lễ độ,…

-D: Dã man, dũng cảm, dưỡng sinh, dĩ nhiên, diễm lệ, diễn viên,…

-NG: ngỡ ngàng, ngỗ ngược, ngũ ngôn, ngã ngửa

Giáo viên phải đặc biệt chú ý rèn chữ cho học sinh Yêu cầu những em chữxấu, viết ẩu phải có vở tập viết Giáo viên thường xuyên giao bài và kiểm tra.Khen thưởng kịp thời những em có tiến bộ

3 Rèn kĩ năng dùng từ cho học sinh

Đây là một kĩ năng khó đòi hỏi người dạy và người học phải kiên trì Giáoviên sửa cách dùng từ cho học sinh khi ở trên lớp trả lời bài và sửa trong bài làmvăn của học sinh Khi chấm bài làm văn của các em, giáo viên đánh dấu nhữnglỗi dùng từ Sau đó yêu cầu học sinh sửa lại trong vở sửa lỗi Có thể đưa ranhững tình huống để học sinh tìm từ phù hợp Các em cũng có thể học cáchdùng từ của những bạn học tốt

4 Rèn cách viết câu cho học sinh

Đây là công việc của người thầy Học sinh ngày nay chịu ảnh hưởng rấtnhiều từ xã hội Các em thường nói những câu cụt ý, thiếu chủ ngữ hay vị ngữ

Và điều này cũng được thể hiện trong các bài văn Giáo viên phải kiên trì uốnnắn cho học sinh khi các em trả lời bài và sửa trên bài kiểm tra, sau đó yêu cầucác em viết lại Khi chấm bài, giáo viên cần chỉ ra những lối viết câu mà họcsinh mắc phải và yêu cầu học sinh sửa Giáo viên có thể yêu cầu học sinh viếtcâu theo suy nghĩ ra giấy, sau đó sửa lại

Trang 12

5 Rèn cách viết đoạn văn

Cho học sinh ghi nhớ về nội dung và hình thức của đoạn văn Luôn nhắccác em thuộc trước khi làm bài

Về nội dung: đoạn văn là một ý hoàn chỉnh ở một mức độ nhất định nào đó

về logic ngữ nghĩa Mỗi đoạn văn diễn đạt một ý, các ý có mối liên quan chặtchẽ với nhau trên cơ sở chung là chủ đề của văn bản

Về hình thức: đoạn văn luôn luôn hoàn chỉnh, mỗi đoạn văn gồm nhiềucâu tạo thành, bắt đầu bằng chữ cái đầu đoạn được viết hoa và lùi vào đầu dòng

so với các chữ khác trong đoạn Các câu văn có sử dụng phép liên kết

Sau mỗi tiết học về phần Tập làm văn, giáo viên ra đề và phân công chomỗi tổ thực hiện các yêu cầu như: viết đoạn mở bài, viết đoạn thân bài hay kếtbài Ở các tiết học tiếp theo giáo viên cho các tổ trình bày, các tổ khác thay nhaunhận xét và bổ sung Như thế các em được khắc sâu về kỹ năng viết đoạn vàcách diễn đạt

7 Chấm và trả bài cho học sinh

Chấm và trả bài kịp thời tạo sự tin tưởng cho học sinh Các em luôn có tâmtrạng hồi hộp, chờ đợi xem bài của mình làm đúng-sai chỗ nào? Được bao nhiêuđiểm? Và thầy, cô giáo phê gì? Vì thế khi chấm và trả bài giáo viên cần lưuý:

Trang 13

- Trong quá trình chấm bài, cách đánh giá của giáo viên qua lời phê rấtquan trọng Lời phê sẽ khuyến khích tinh thần, tạo sự hưng phấn yêu thích họctập của học sinh.

- Chấm bài nhất thiết phải có nhận xét, nhưng tránh nhận xét chung chungchỉ bằng một vài từ ngữ: “được”, “chưa được”, “bài yếu”, “bài viết sơ sài”,

“không hiểu đề”, “xa đề”, “lạc đề”…

- Lời nhận xét của giáo viên thể hiện trên hai phương diện: Đạt yêu cầu vàchưa đạt về nội dung lẫn hình thức Qua lời phê, học sinh sẽ nhận thấy khiếmkhuyết của bản thân để khắc phục, phát huy những mặt đạt được

- Muốn có lời nhận xét đúng đắn với từng bài viết, đòi hỏi giáo viên phảithực hiện nghiêm túc, có trách nhiệm cao trong việc chấm bài Bởi chấm bài làmột khâu rất quan trọng trong chu trình chấm - trả bài tác động mạnh mẽ, tíchcực đến quá trình dạy và học bộ môn

IV THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM

em sai chính tả rất nhiều Cụ thể là một số lối sau:

- Lỗi viết hoa.

Lỗi viết hoa là một trong những loại lỗi chính tả xuất hiện rất nhiều trongbài viết của học sinh Lỗi viết hoa bao gồm hai kiểu lỗi nhỏ: viết hoa sai quyđịnh chính tả và viết hoa tùy tiện

Viết hoa sai quy định chính tả

Viết hoa sai quy định chính tả là viết hoa hay không viết hoa theo đúng quyđịnh chính tả về viết hoa Chẳng hạn như học sinh không viết hoa chữ cái mở

Ngày đăng: 09/11/2021, 01:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w