Luận văn công nghệ kỹ thuật môi trường Ứng dụng chỉ số chất lượng nước trọng số entropy (ewqi) và gis phân vùng chất lượng tầng chứa nước pleistocen thị xã phú mỹ, tỉnh bà rịa – vũng tàu Luận văn công nghệ kỹ thuật môi trường Ứng dụng chỉ số chất lượng nước trọng số entropy (ewqi) và gis phân vùng chất lượng tầng chứa nước pleistocen thị xã phú mỹ, tỉnh bà rịa – vũng tàu Luận văn công nghệ kỹ thuật môi trường Ứng dụng chỉ số chất lượng nước trọng số entropy (ewqi) và gis phân vùng chất lượng tầng chứa nước pleistocen thị xã phú mỹ, tỉnh bà rịa – vũng tàu
Trang 1MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT ii
LỜI CAM ĐOAN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT x
CHƯƠNG: MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu nghiên cứu chính 2
2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể 2
3 Đối tượng và phạm vi giới hạn của đề tài 2
3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
3.2 Phạm vi của đề tài 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
4.1 Ý nghĩa khoa học 3
4.2 Ý nghĩa thực tiễn 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 5
1.1 Các khái niệm chính 5
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến nước dưới đất 6
1.2.1 Yếu tố tự nhiên 6
1.2.2 Yếu tố nhân tạo 8
1.3 Các nghiên cứu trong và ngoài nước 9
1.3.1 Các nghiên cứu ngoài nước 9
1.3.2 Các nghiên cứu trong nước 12
Trang 21.4 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 14
1.4.1 Vị trí địa lý 14
1.4.2 Địa hình, địa mạo 15
1.4.3 Khí hậu 16
1.4.4 Thủy văn 20
1.4.5 Nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt và tình hình khai thác nước dưới đất 22
1.4.6 Đặc điểm các tầng chứa nước dưới đất thị xã Phú Mỹ 23
1.4.7 Thông tin sơ lược về các giếng quan trắc 25
1.4.8 Điều kiện kinh tế - xã hội 30
CHƯƠNG 2: TÀI LIỆU TÍNH TOÁN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Tài liệu tính toán 34
2.2 Nội dung nghiên cứu 36
2.3 Phương pháp nghiên cứu 37
2.3.1 Sơ đồ hương pháp nghiên cứu 37
2.3.2 Phương pháp thu thập tài liệu 38
2.3.3 Phương pháp khảo sát thực địa 38
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 38
2.3.5 Phương pháp tính toán chỉ số chất lượng nước dưới đất bằng trọng số Entropy (EWQI) 38
2.3.6 Kỹ thuật GIS 42
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ - THẢO LUẬN 47
3.1 Đánh giá diễn biến chất lượng nước dưới đất tầng chứa nước Pleistocen thị xã Phú Mỹ tỉnh BR-VT năm 2017; 47
3.1.1 Thông số pH 47
3.1.2 Tổng độ cứng (TH) 47
3.1.3 Tổng chất rắn hòa tan (TDS) 48
3.1.4 Thông số Sulfate (SO42-) 49
Trang 33.1.5 Thông số Clorua (Cl-) 49
3.1.6 Các hợp chất của Nitơ (Nitrate (NO3--N), Amoni (NH4+-N)) 50
3.1.7 Thông số Flo (F-) 51
3.1.8 Thông số Chì (Pb2+) 52
3.1.9 Thông số Sắt (Fe2+) 53
3.2 Kết quả tính toán trọng số Entropy 55
3.2.1 Kết quả trọng số Entropy mùa khô 55
3.2.2 Kết quả trọng số Entropy mùa mưa: 58
3.3 Kết quả tính toán chỉ số EWQI 62
3.3.1 Kết quả tính toán chỉ số EWQI vào mùa khô 62
3.3.2 Kết quả tính toán chỉ số EWQI vào mùa mưa 63
3.4 Kết quả phân vùng chất lượng nước bằng phương pháp GIS 66
3.4.1 Kết quả phân vùng chất lượng nước dưới đất vào mùa khô 66
3.4.2 Kết quả phân vùng chất lượng nước dưới đất vào mùa mưa 67
CHƯƠNG: KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 68
1 Kết luận 68
2 Kiến nghị 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
PHỤ LỤC xi
PHỤ LỤC 1: TÍNH TOÁN CHỈ SỐ CHẤT LƯỢNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT BẰNG TRỌNG SỐ ENTROPY (EWQI) xii
PHỤ LỤC 2: HÌNH ẢNH KHẢO SÁT THỰC ĐỊA xv
PHỤ LỤC 3: CÁC BẢN VẼ CỦA ĐỒ ÁN xviii
PHỤ LỤC 4: THAM GIA CÔNG BỐ KHOA HỌC xx
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Hiện trạng khai thác sử dụng nước dưới đất Thị xã Phú Mỹ 23
Bảng 1.2 Các giếng quan trắc trong khu vực nghiên cứu 25
Bảng 1.3 Mô tả sơ bộ vị trí các giếng 27
Bảng 1.4 Diện tích và sản lượng cây trồng lương thực 30
Bảng 1.5 Diện tích và sản lượng cây lấy quả chứa dầu 30
Bảng 2.1 Bảng thống kê mô tả giá trị nồng độ các thông số chất lượng nước tầng chứa nước Pleistocen tại TX Phú Mỹ vào mùa khô 34
Bảng 2.2 Bảng thống kê mô tả giá trị nồng độ các thông số chất lượng nước tầng chứa nước Pleistocen tại TX Phú Mỹ vào mùa mưa 35
Bảng 2.3 Phân loại chất lượng nước dưới đất theo giá trị EWQI 42
Bảng 3.1 Chỉ số Entropy thông tin (ej) của các thông số chất lượng nước vào mùa khô 57
Bảng 3.2 Trọng số Entropy của các thông số chất lượng nước vào mùa khô 58
Bảng 3.3 Chỉ số Entropy thông tin (ej) của các thông số chất lượng nước vào mùa mưa 60
Bảng 3.4 Trọng số Entropy của các thông số chất lượng nước vào mùa mưa 60
Bảng 3.5 Phân loại chất lượng nước của các giếng vào mùa khô 62
Bảng 3.6 Phân loại chất lượng nước của các giếng vào mùa mưa 64
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Vị trí và phạm vi của khu vực nghiên cứu 3
Hình 1.1 Sơ đồ vị trí địa lý khu vực nghiên cứu 15
Hình 1.2 Nhiệt độ trung bình các tháng giai đoạn 2017 – 2018 17
Hình 1.3 Độ ẩm trung bình các tháng giai đoạn 2017 – 2018 17
Hình 1.4 Lượng mưa trung bình các tháng giai đoạn 2017 – 2018 18
Hình 1.5 Số giờ nắng của các tháng giai đoạn 2017 – 2018 19
Hình 1.6 Biểu đồ hoa gió vận tốc gió trung bình trong năm (m/s) 19
Hình 1.7 Sơ đồ mạng lưới sông, suối khu vực nghiên cứu 21
Hình 1.8 Hình ảnh thể hiện phân bố 17 của các điểm quan trắc 27
Hình 1.9 Sơ đồ địa chất thủy văn khu vực nghiên cứu 29
Hình 2.1 Sơ đồ phương pháp nghiên cứu và các bước thực hiện 37
Hình 2.2 Sơ đồ thành lập phân vùng khai thác nước dưới đất 43
Hình 2.3 Phương thức nội suy theo trọng số khoảng cách nghịch đảo (IDW) 44
Hình 2.4 Quy trình ứng dụng GIS và phương pháp nội suy IDW 46
Hình 3.1 Biểu đồ diễn biến giá trị pH tầng Pleistocen TX Phú Mỹ năm 2017 47
Hình 3.2 Biểu đồ diễn biến giá trị độ cứng tầng Pleistocen TX Phú Mỹ năm 2017 48
Hình 3.3 Biểu đồ diễn biến giá trị TDS tầng Pleistocen TX Phú Mỹ năm 2017 48
Hình 3.4 Biểu đồ diễn biến giá trị Sulfate (SO 4 2- ) tầng Pleistocen TX Phú Mỹ năm 2017 49
Hình 3.5 Biểu đồ diễn biến giá trị Clorua (Cl - ) tầng Pleistocen TX Phú Mỹ năm 2017 50
Hình 3.6 Biểu đồ diễn biến giá trị Natrate (NO 3 - ) tầng Pleistocen TX Phú Mỹ năm 2017 51
Hình 3.7 Biểu đồ diễn biến giá trị Amoni (NH 4 + ) tầng Pleistocen TX Phú Mỹ năm 2017 51
Hình 3.8 Biểu đồ diễn biến giá trị Flo (F - ) tầng Pleistocen TX Phú Mỹ năm 2017 52
Trang 6Hình 3.9 Biểu đồ diễn biến giá trị Chì (Pb 2+ ) tầng Pleistocen TX Phú Mỹ năm 2017 53 Hình 3.10 Biểu đồ diễn biến giá trị Sắt II (Fe 2+ ) tầng Pleistocen TX Phú Mỹ năm 2017
Trang 7EPA : The Environmental Protection Agency - Cơ quan bảo vệ môi trường
EWQI : Entropy Water Quality Index - Chỉ số chất lượng nước trọng số Entropy
GWQI : Groundwater Quality Index - Chỉ số chất lượng nước dưới đất
GIS : Geographic Information System - Hệ thống thông tin địa lý
IDW : Inverse Distance Weighting - Trọng số khoảng cách nghịch đảo
KCN : Khu Công Nghiệp
KTSD : Khai thác sử dụng
MCL : Maximum Contaminant Level - Mức độ ô nhiễm tối đa
NDĐ : Nước dưới đất
PCA : Principal Components Analysis - Phân tích thành phần chính
QCVN : Quy chuẩn Việt Nam
TPHCM : Thành Phố Hồ Chí Minh
WHO : World Health Organization - Tổ chức y tế thế giới
Trang 8CHƯƠNG: MỞ ĐẦU
Trang 9CHƯƠNG: MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Thị xã Phú Mỹ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, hiện nay đã và đang trở thành một trong
ba địa phương có nền kinh tế phát triển bậc nhất tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, là nơi tập trung nhiều khu công nghiệp nhất của tỉnh Cùng với đó hàng loạt các khu đô thị lớn đã
và được hình thành Ngoài ra thị xã cũng là địa phương có ngành nông nghiệp phát triển với diện tích trồng lương thực là trên 3.000 ha, cây công nghiệp là trên 3.500 ha, chăn nuôi phát triển với tổng đàn gia cầm đứng đầu toàn tỉnh Do đó nhu cầu sử dụng nước trên địa bàn luôn là một trong những một vấn đề lớn của địa phương Trong khi các nguồn khai thác nước mặt từ sông hồ có giới hạn, thì nguồn nước dưới đất được xem là giải pháp hữu hiệu để giải quyết cho vấn đề trên Vì vậy việc quản lý và đánh giá mức
độ phù hợp của nguồn nước dưới đất cho mục đích cấp nước phục vụ các lĩnh vực sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, thương mại là cực kỳ cần thiết
Hiện nay để quản lý, đánh giá mức độ phù hợp của nguồn nước dưới đất cho mục đích cấp nước và nông nghiệp thì kỹ thuật đánh giá chất lượng nước dưới đất được sử dụng rộng rãi và hữu ích nhất là phương pháp chỉ số chất lượng nước dưới đất (GWQI
- Groundwater Quality Index)
“Phương pháp WQI có khả năng mô tả dữ liệu chất lượng nước cao bên cạnh việc
sử dụng các thông số hiệu quả trong đánh giá và quản lý chất lượng nước” (Gorgij, Kisi, Moghaddam, & Taghipour, 2017) Do đó WQI được sử dụng để đánh giá dữ liệu giám sát chất lượng nước và cho phép các nhà khoa học giải thích các kết quả giám sát đồng thời phân tích ý nghĩa về kết quả chất lượng nước, đặc biệt khi nồng độ các chỉ tiêu vượt mức tiêu chuẩn chất lượng nước WQI cũng hữu ích trong việc trình bày thông tin chất lượng nước theo cách dễ hiểu đối với công chúng (Berry, Steffy, & Shank, 2019) Vì vậy trong những năm gần đây, phương pháp chỉ số chất lượng nước đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới
Tuy nhiên trong phương pháp WQI việc lựa chọn trọng số của từng tham số thường được đưa ra bởi ý kiến cá nhân của chuyên gia đánh giá dựa trên kinh nghiệm thực tế của họ việc này làm tăng tính chủ quan vào quá trình đánh giá, điều này có thể dẫn đến sai lệch kết quả do trọng số tìm được phụ thuộc lớn vào mức độ chuyên môn của chuyên gia và đồng thời có nhiều dữ liệu có giá trị, có thể được áp dụng có nguy cơ sẽ bị mất (Amiri, Rezaei, & Sohrabi, 2014)
Trang 10Do đó, trong nghiên cứu này, chất lượng nước dưới đất được đánh giá bằng phương pháp WQI có trọng số Entropy (EWQI) để giảm thiểu mức độ sai lệch chủ quan Đồng thời kết quả chất lượng nước EWQI còn được nội suy và phân vùng chất lượng nước bằng phầm mềm ArcGIS Hệ thống thông tin địa lý (GIS – Geographic Information System) là một hệ thống thông tin được thiết kế để làm việc với các dữ liệu trong một
hệ tọa độ quy chiếu GIS bao gồm một hệ cơ sở dữ liệu và các phương thức để thao tác với dữ liệu đó Việc ứng dụng GIS góp phần phân vùng chất lượng nước dưới đất thị xã Phú Mỹ được đầy đủ và chính xác nhất
Việc xây dựng đề tài “Ứng dụng chỉ số chất lượng nước trọng số Entropy
(EWQI) và GIS phân vùng chất lượng tầng chứa nước Pleistocen thị xã Phú Mỹ, tỉnh
Bà Rịa – Vũng Tàu” là rất cần thiết để xác định sự phù hợp cho các mục đích sử dụng
khác nhau và bảo vệ sức khỏe người dân trong khu vực nói riêng Ngoài ra, kết quả đề tài còn cung cấp những thông tin cần thiết giúp cho các cơ quan có thẩm quyền đề ra các giải pháp quản lý và khai thác nước dưới đất một cách hợp lý
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu chính
Phân vùng chất lượng nước dưới đất tầng chứa nước Pleistocen thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu năm 2017 bằng cách ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) 2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
- Đánh giá được diễn biến các thông số chất lượng nước dưới đất tầng chứa nước Pleistocen thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu năm 2017;
- Sử dụng chỉ số Entropy thông tin để tính toán đưa ra trọng số tính toán EWQI cho từng thông số;
- Xây dựng bản đồ phân vùng chất lượng nước bằng cách ứng dụng công cụ GIS
3 Đối tượng và phạm vi giới hạn của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nước dưới đất thuộc tầng chứa nước Pleistocen thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Gồm 17 giếng quan trắc chất lượng nước dưới đất trên địa bàn thị xã Phú Mỹ vào mùa khô và mùa mưa năm 2017 (NB1B, NB2C, NB3A, NB3B, QT7B, NB1A, NB2A, NB2B, NB4, QT11, QT7A, VT2, QT5B, VT4B, VT6, QT5A, VT4A)
Trang 113.2 Phạm vi của đề tài
Khu vực nghiên cứu thuộc Thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, nằm phía tây của tỉnh BR-VT với tổng diện tích là 333.84 km2
Hình 1 Vị trí và phạm vi của khu vực nghiên cứu
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học
Đồ án này đã kết hợp ứng dụng chỉ số chất lượng nước dưới đất có trọng số Entropy và nội suy IDW của phần mềm GIS để phân vùng được chất lượng nước dưới đất tầng Pleistocen thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, đây là cơ sở cho việc quản
lý, nghiên cứu, bảo vệ và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên nước dưới đất trước tình trạng ô nhiễm môi trường đang ngày càng gia tăng do quá trình phát triển đô thị hóa,
Trang 124.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu cung cấp những thông tin cụ thể về chất lượng nước tầng Pleistocen cùng với sự thay đổi của các thông số chất lượng nước trong hai mùa trên khu vực nghiên cứu việc này giúp cho những nhà quản lý đưa ra các quyết định, giải pháp khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên nước dưới đất, giúp các cơ quan chức năng trong việc hoạch định các chiến lược thích hợp trong quản lý bền vững tài nguyên nước dưới đất
Trang 13CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN ĐỀ TÀI
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI
1.1 Các khái niệm chính
"Nước dưới đất" là nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới mặt đất (Khoảng
4, Điều 2, Chương 1, Luật Tài nguyên nước năm 2012)
Dựa trên tính chất chứa nước (trữ nước) và tính chuyển nước của đất đá có thể được phân các loại đất đá thành các tầng chứa nước sau:
Tầng chứa nước (aquifer): là một hệ địa chất trong đó nước có thể chứa và chuyển động, chẳng hạn cát, cuội sỏi, đá,… Hiện nay theo các nhà khoa học trên thế giới, một thành tạo địa chất ngoài việc chứa và chuyển nước thì chỉ được gọi là tầng chứa nước khi nước trong tầng được khai thác
Tầng thấm nước yếu (aquitard) là một hệ địa chất có tính chứa nước và dẫn nước kém Đất thịt, đất sét pha cát là loại đất chứa nước yếu
Tầng chứa nước nhưng không thấm nước (aquiclude) là một hệ địa chất có khả năng chứa nước mà không có khả năng dẫn nước Ví dụ: đất sét
Tầng cách nước (aquifuge) là một hệ địa chất không có khả năng chứa nước và cũng không có khả năng dẫn nước Ví dụ như các loại đá grante
Trong bốn loại trên, tầng chứa nước (aquifer) có ý nghĩa nhất đối với nước ngầm
Nó đóng vai trò như một kho chứa nước ngầm và điều tiết dần cho nước mặt (Cát & Quang, 2002)
Chỉ số chất lượng nước dưới đất (GWQI - Groundwater Quality Index) là kỹ thuật đánh giá, cung cấp sự ảnh hưởng tổng hợp của từng thông số chất lượng nước trên toàn
bộ chất lượng nước, được tính toán từ mục đích tiêu thụ của người dân (Desai & Desai, 2012) Mô tả định lượng về chất lượng nước và khả năng sử dụng, được biểu diễn qua thang điểm, là thông số quan trọng để phân vùng chất lượng nước dưới đất (Varol & Davraz, 2015)
Khái niệm trọng số entropy lần đầu tiên được đề xuất vào năm 1948 bởi (Shannon, 1948) Entropy là thước đo mức độ phân tán của dữ liệu đồng thời nó cũng có thể đo lường được mức độ hiệu quả của thông tin được cung cấp bởi dữ liệu Do đó, entropy
có thể được sử dụng để xác định trọng số Dựa vào mức độ chênh lệch của nguồn dữ liệu sẽ xác định chỉ số entropy, từ đó tìm ra trọng số của từng tham số Khi sự chênh lệch dữ liệu càng lớn thì chỉ số entropy sẽ càng nhỏ, dữ liệu cung cấp thông tin hiệu quả
vì vậy trọng số sẽ càng lớn và ngược lại Điều này chứng tỏ phương pháp trọng số
Trang 15Entropy là một phương pháp mang tính khách quan vì trọng số của từng thông số được tính toán dựa trên mức độ biến thiên của mỗi giá trị và phụ thuộc vào nguồn dữ liệu (Yan & Zou, 2014)
Phân vùng chất lượng nước là một bước quan trọng để nghiên cứu và đánh giá sự thay đổi chất lượng nước mặt cũng như nước ngầm theo không gian và thời gian Nó có thể cung cấp thông tin quan trọng để phát triển các chiến lược quản lý chất lượng nước hiệu quả Các phương pháp phổ biến nhất để phân vùng chất lượng nước hiện nay thường
ít xem xét các yếu tố bên ngoài, không liên quan đến hệ thống tài nguyên nước Ngoài
ra, các phương pháp này chỉ phân loại các trạm quan trắc chất lượng nước thành một số mức độ dựa trên chất lượng nước hiện có nhưng không cung cấp bất kỳ thông tin nào
về chất lượng nước được phân loại (Nikoo & Mahjouri, 2013)
Hệ thống thông tin địa lý (GIS – Geographic Information System) là một hệ thống thông tin được thiết kế để làm việc với các dữ liệu trong một hệ tọa độ quy chiếu GIS bao gồm một hệ cơ sở dữ liệu và các phương thức để thao tác với dữ liệu đó Việc ứng dụng GIS góp phần phân vùng chất lượng nước dưới đất thị xã Phú Mỹ được đầy đủ và chính xác nhất
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến nước dưới đất
Các nhân tố ảnh hưởng đến tài nguyên nước dưới đất bao gồm các nhân tố tự nhiên như khả năng chứa nước, khả năng lưu thông nước và các yếu tố khí hậu, thủy văn Các nhân tố nhân tạo có thể kể đến do hoạt động khai thác nước của con người, tưới tiêu,…
1.2.1 Yếu tố tự nhiên
Nhóm các nhân tố tự nhiên bao gồm: Khả năng chứa nước của đất đá, khả năng lưu thông nước, lượng mưa, lượng bốc hơi, độ ẩm không khí… trong đó quan trọng nhất
là khả năng chứa nước của đất đá
- Khả năng chứa nước của đất đá:
Khả năng chứa nước của đất đá là một yếu tố tự nhiên quan trọng nhất trong các yếu tố ảnh hưởng tới mực nước dưới đất, bởi vì điều cơ bản và đầu tiên là phải có môi trường chứa nước Khả năng chứa nước này phụ thuộc chủ yếu vào thành phần cấu tạo
và hệ số độ rỗng của lớp đất đá
- Khả năng lưu thông nước:
Khả năng lưu thông nước là khả năng tiếp nhận nước từ môi trường bên ngoài vào
Trang 16Nếu khả năng vận động của nước trong thể chứa nước chậm có thể làm giảm khả năng phục hồi và cân bằng nước, điều này có tác động khá lớn tới quá trình hình thành và biến đổi nước dưới đất
- Lượng mưa:
Nước mưa là một nhân tố cung cấp chủ yếu cho nước dưới đất, vì vậy nó là một trong những điều kiện chủ yếu hình thành tài nguyên nước dưới đất Điều này có thể được mình chứng cho việc dao động của mực nước ngầm có liên hệ chặt trẽ với chế độ
và lượng mưa Ngoài ra, thành phần hoá học của nước dưới đất cũng chịu tác động mạnh của quá trình khuếch tán do đó trong mùa mưa lượng cung cấp nước mưa cho nước dưới đất tăng, tốc độ thấm sẽ lớn hơn tốc độ khuếch tán dẫn đến sự giảm độ tổng khoáng hoá của nước dưới đất Điều này cho thấy lượng mưa là nguồn cung cấp và là nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến trữ lượng và chất lượng của nước dưới đất
- Lượng bốc hơi:
Bốc hơi là một trong những nguyên nhân làm hao hụt lượng nước, vì vậy nó được xem là một thành phần quan trọng của cán cân cân bằng nước và ảnh hưởng đến trữ lượng và chất lượng của nước dưới đất Do đó trong mùa khô, do tác động của nhân tố bốc hơi, trữ lượng nước dưới đất giảm đáng kể do bề dày tầng nước dưới đất giảm Mặc khác, lượng bốc hơi tăng làm cho tốc độ thấm nhỏ hơn tốc độ khuếch tán của nước đã dẫn đến tăng độ tổng khoáng hoá của nước dưới đất
Ảnh hưởng của lượng bốc hơi đến động thái nước dưới đất chỉ xảy ra mạnh mẽ ở những khu vực có chiều sâu mực nước ngầm nhỏ hơn 5 m Những vùng có chiều sâu mực nước ngầm lớn hơn 5m, mức độ ảnh hưởng của lượng bốc hơi đến mực nước ngầm không lớn
- Độ ẩm không khí:
Yếu tố độ ẩm cũng đóng vai trò nhất định Độ ẩm có tác động lớn đến khả năng hấp thụ nước thấm xuống các đới thông khí Những tháng độ ẩm cao thì lượng thấm xuống tầng xuống tầng chứa nước nhiều hơn
Những nơi chiều sâu mực nước ngầm nhỏ hơn 5 m thì mực nước dưới đất và độ
ẩm có mối tương quan chặt chẽ, những nơi chiều sâu mực nước ngầm lớn hơn 5 m thì mức độ tương quan kém hơn
Trang 171.2.2 Yếu tố nhân tạo
Nhóm các nhân tố nhân tạo ảnh hưởng đến động thái của nước dưới đất bao gồm: quá trình đô thị hóa, tưới tiêu, nuôi trồng thủy sản, xây dựng hồ đập
- Ảnh hưởng của sự đô thị hóa:
Quá trình đô thị hóa thường gây ra những sự thay đổi lớn cho mực nước ngầm do kết quả của việc làm giảm lượng nước bổ sung cho nước ngầm và tăng cường khai thác nước ngầm Ở những vùng nông thôn nước dùng thường được lấy từ các giếng nông, trong khi đó hầu hết các nước thải của đô thị trở lại đất thông qua các hổ chứa nước bẩn
Do vậy sự nhiễm bẩn tăng lên
- Tưới tiêu:
Trong quá trình phát triển nông nghiệp không thể thiếu sự có mặt của nguồn nước
Và nguồn nước ngầm là một trong những sự lưu chọn hàng đầu do trữ lượng lớn, dễ dàng có được và đặc biệt là hoàn toàn miễn phí Chính vì vậy nước dưới đất là sự lựa chọn hàng đầu đối với mục đích tươi tiêu Điều này có thể gây ảnh hưởng đến trữ lượng cũng như chất lượng nước dưới đất đặt biệt là vào mùa khô Cùng với đó việc sữ dụng các chế phẩm bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu diệt cỏ,… sử dụng các loại phân bón hóa học Các hóa chất có thể bị thâm xuống đất và xâm nhập vào nguồn nước dưới đất thông qua các thông qua dòng thấm và gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng nước dưới đất
- Nuôi trồng thủy sản:
Đây là nguồn lợi phục vụ cho sự phát triển kinh tế, tuy nhiên nó cũng có những tác động tiêu cực đáng kể đến nguồn nước dưới đất Các công trình nuôi thủy sản sử dụng nguồn nước có độ mặn làm biến đổi chất lượng nước dưới đất theo hướng tăng cao độ tổng khoáng hoá ở vùng nuôi và các vùng kế cận Ngoài tác dụng làm thay đổi chất lượng nước, việc nuôi thủy sản, nhất là nuôi trên cát với lớp phủ là vải địa kỹ thuật, đã làm giảm nguồn cung cấp cho nước dưới đất một cách đáng kể
- Ảnh hưởng của việc xây dựng các hồ đập:
Việc xây dựng các hồ đập phục vụ cho mục đích thủy điện hay chỉ đơn giản là để tích trữ nước ở mùa mưa để xả lũ, mùa khô để điều tiết nước tưới Cũng là nguyên nhân lớn gây ảnh hưởng đến lớn đến nguồn bổ cập của nguồn nước dưới đất
Trang 181.3 Các nghiên cứu trong và ngoài nước
1.3.1 Các nghiên cứu ngoài nước
Trong những năm gần đây, việc ứng dụng chỉ số chất lượng nước dưới đất có trọng
số Entropy (EWQI) được sử dụng rộng rãi nhằm phục vụ để quản lý, đánh giá diễn biến chất lượng nước dưới đất
Tại Băng-la-đét, nguồn cung cấp nước uống có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi các chất
ô nhiễm gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người Islam và cộng sự đã sử dụng thuyết entropy để mô tả chất lượng nước ngầm và sự biến đổi không gian của nó ở quận Sylhet Tổng cộng 91 mẫu đã được thu thập từ các giếng (ví dụ, giếng ống nông, trung gian và sâu ở độ sâu từ 15 - 300 m) từ khu vực nghiên cứu Kết quả cho thấy NO3 −, sau đó là
SO4 2− và các thông số đóng góp chủ yếu ảnh hưởng đến chất lượng nước ngầm theo lý thuyết entropy Phân tích thành phần chính (PCA) và hệ số tương quan cũng xác nhận kết quả của lý thuyết entropy Tuy nhiên, Na+ có độ tự tương quan không gian cao nhất
và trọng số cao entropy nhất, do đó ảnh hưởng đến chất lượng nước ngầm Dựa trên các chỉ số chất lượng nước theo trọng số entropy (EWQI) và phân loại chỉ số chất lượng nước ngầm (GWQI), cho thấy rằng 60,45% và 53,86% mẫu nước được phân loại là có chất lượng tuyệt vời, trong khi các mẫu còn lại thay đổi từ rất kém đến rất kém lĩnh vực chất lượng cho mục đích uống Hơn nữa, phân loại EWQI cung cấp kết quả hợp lý hơn
so với GWQI do tính đơn giản, chính xác và bỏ qua trọng số nhân tạo (Islam, Ahmed, Bodrud-Doza, & Chu, 2017)
Ở Đồng bằng Azarshahr ở Iran chất lượng nước ngầm dùng cho mục đích uống được đánh giá thông qua 21 mẫu nước ngầm bằng lý thuyết entropy Để ngăn các phán đoán của chuyên gia về trọng lượng tham số xảy ra khi sử dụng phương pháp Chỉ số chất lượng nước (WQI), phương pháp entropy đã được sử dụng Từ kết quả chỉ số chất lượng nước có trọng số entropy EWQI, chất lượng nước ngầm ở đây được phân thành năm loại: xuất sắc, tốt, trung bình, kém và cực kỳ kém (Gorgij et al., 2017)
Cùng với đó việc ứng dụng GIS để phân vùng chất lượng nước dưới đất cũng góp phần quan trọng trong việc quản lý nước dưới đất của nhà nước được dễ dàng và đơn giản hơn
Ở Iran, cùng với sự gia tăng dân số và thiếu nước ngọt trên toàn cầu, Afshin cùng các cộng sự đã đưa ra nghiên cứu sử dụng GIS cùng với GWQI để phân tích chất lượng nước ngầm trong hạt Marvdasht nằm ở khu vực bán khô hạn của Iran Nghiên cứu sử dụng số liệu trong 5 năm từ 2010 đến 2015 nhằm đưa ra phân tích chính xác nhất Áp
Trang 19dụng các thông số chất lượng nước dưới đất có ảnh hưởng nhất như tổng chất rắn hòa tan (TDS), độ dẫn điện (EC), và tổng độ cứng (TH) là các thông số quan trọng nhất vượt quá mức tối đa cho phép giới hạn của nước uống để thành lập bản đồ chỉ số GWQI từ
đó dựa vào tiêu chuẩn của WHO để so sánh, đưa ra giải pháp quản lý khai thác chất lượng nước dưới đất một cách tối ưu hiệu quả (Honarbakhsh et al., 2019)
Tại Iran, nhóm tác giả Reza A L đã nghiên cứu ứng dụng GIS để phân vùng nước dưới đất khu vực có thể ô nhiễm nitrite và nitrate, nghiên cứu được tiến hành ở thành phố Yard, kéo dài từ 31o58’ – 31o44’vĩ độ Bắc đến 54o15’ – 54o35’ kinh độ Đông, “Các nghiên cứu đã chứng minh rằng sự hiện diện của nitrat và nitrite trong nước uống có thể gây ra một số bệnh như ung thư và blu ở trẻ sơ sinh Cơ quan bảo vệ môi trường (EPA)
kể từ đó đã áp dụng tiêu chuẩn 10 mg/L là mức độ ô nhiễm tối đa (MCL) cho nitơ và 1 mg/L đối với nitrit-nitơ cho các hệ thống nước công cộng được quy định Đưa
nitrate-ra tầm quan trọng của nitnitrate-rat và nitrite trong nước uống cũng như khả năng của GIS trong phân tích không gian Các yếu tố trong nước ngầm, nghiên cứu này nhằm đánh giá nồng
độ nitrat và nitrite trong giếng nước uống của Yazd sử dụng hai mô hình IDW (Inverse distance weight) và Kriging Trong nghiên cứu mô tả này, dữ liệu ứng dụng về chất lượng nước của nước ngầm của Văn phòng y tế môi trường Yazd với chỉ số nitrate và nitrite trung bình hàng năm trong năm 2015 có liên quan đến 24 giếng trong khu vực nghiên cứu Tỷ lệ nitrat và nitrit trong nước ngầm trong giếng được so sánh với lượng tiêu chuẩn của Viện nghiên cứu tiêu chuẩn và công nghiệp và sau đó được phân tích qua ArcGis, Phần mềm GIS sử dụng phương pháp nội suy IDW và Kriging Nồng độ trung bình của nitrat là 17,62 ± 3,08 mg/l và đối với nitrite là 0,011 ± 0,003 mg/l trong giếng”, lấy nước trong 3 giai đoạn ở mỗi năm tại 24 giếng quan trắc khắp thành phố, sau đó phân tích mẫu và ứng dụng Arcgis kết hợp phương pháp nội suy Kriging từ đó khoanh vùng được khu vực nước dưới đất ô nhiễm nitrate và nitrite tại thành phố (Fallahzadeh
et al., 2016)
Tại Nhật, việc đánh giá chất lượng nước ngầm là rất quan trọng để đảm bảo sử dụng an toàn bền vững tài nguyên của nước này Tuy nhiên, việc mô tả tình trạng chất lượng nước nói chung là khó khăn do sự thay đổi không gian của nhiều chất gây ô nhiễm
và một loạt các chỉ số (hóa học, vật lý và sinh học) có thể được đo Đóng góp này đề xuất một nền tảng dựa trên GIS, chỉ số chất lượng nước ngầm (GWQI) tổng hợp dữ liệu chất lượng nước có sẵn khác nhau bằng cách lập chỉ mục chúng theo số lượng tương ứng với Tổ chức Sức khỏe Thế giới-tiêu chuẩn nization (WHO) Ngoài ra, giới thiệu một quy trình khách quan để chọn tối ưu các tham số để tính toán GWQI, kết hợp khía
Trang 20cạnh của biến đổi thời gian để giải quyết mức độ bền vững của việc sử dụng nước và kiểm tra độ nhạy của mô hình đề xuất GWQI chỉ ra rằng chất lượng nước ngầm trong lưu vực Nasuno, tỉnh Tochigi, Nhật Bản, nói chung là cao (GWQI > 90) Nó cũng đã hiển thị tự nhiên (độ sâu của nước ngầm bảng, cấu trúc địa mạo) và / hoặc nhân tạo (sử dụng đất và mật độ dân số) kiểm soát sự thay đổi không gian của chất lượng nước ngầm trong lưu vực Tạm thời, mặt đất - chất lượng nước thay đổi nhiều hơn ở phần trên và phần dưới của lưu vực (biến thể, V , 15 - 30%) so với phần giữa ( V , < 15%) có lẽ được quy cho tính thời vụ của lượng mưa và tưới lúa Ở phía đông nam của lưu vực Nasuno
và vùng lân cận của Sông Naka và Houki việc sử dụng nước ngầm bền vững bị hạn chế bởi mức độ tương đối thấp và chất lượng nước ngầm thay đổi Phân tích độ nhạy mô hình chỉ ra rằng các tham số phản ánh chất lượng nước tương đối thấp hơn (giá trị xếp hạng trung bình cao) và đáng kể biến đổi không gian ngụ ý tác động lớn hơn đến GWQI
và phải cẩn thận và chính xác ánh xạ Kỹ thuật chỉ số tối ưu cho phép lựa chọn kết hợp tốt nhất các thông số chỉ ra sự thay đổi của chất lượng nước ngầm và cho phép một mục tiêu và công bằng đại diện cho chất lượng nước ngầm nói chung (Babiker, Mohamed,
& Hiyama, 2007)
Việc ứng dụng GIS phân tích độ nhạy của mô hình chỉ ra rằng các tham số phản ánh tương đối thấp hơn chất lượng nước (giá trị trung bình cao) và những biến động không gian quan trọng có nghĩa là lớn hơn tác động đến GWQI và phải được lập bản đồ cẩn thận và chính xác Tuy nhiên, GWQI là được tìm thấy thay vì không nhạy cảm với việc loại bỏ bất kỳ bản đồ tham số đầu vào nào có thể bởi vì chỉ số được tạo ra bằng cách tính trung bình Điều này đảm bảo sự ổn định của chỉ số và so sánh kết quả từ các
vị trí khác nhau bằng cách sử dụng các bộ dữ liệu khác nhau Nói chung, chỉ số chất lượng nước ngầm được đề xuất có thể cung cấp một đánh giá tương đối về sự thay đổi của chất lượng nước dựa trên dữ liệu chất lượng nước ngầm thường có (ví dụ, các anion chính và cation) Tuy nhiên, các chỉ tiêu chất lượng nước đặc biệt quan trọng đối với môi trường địa phương luôn luôn có thể được kết hợp để giải quyết vấn đề chất lượng nước ngầm của bất kỳ khu vực nào Hơn nữa, việc lựa chọn kết hợp tối ưu các tham số khả dụng để ra lệnh sự thay đổi của chất lượng nước ngầm cho phép thể hiện khách quan
và công bằng chất lượng nước ngầm nói chung (Babiker et al., 2007)
Từ những nghiên cứu trên cho thấy ứng dụng chỉ số chất lượng nước có trọng số Entropy kết hợp GIS trong phân vùng chất lượng nước dưới đất là rất hữu ích, hiệu quả trong việc ứng dụng trong khu vực nghiên cứu
Trang 211.3.2 Các nghiên cứu trong nước
Năm 2019, Chỉ số chất lượng nước WQI được ứng dụng để đánh giá nguy cơ tiềm ẩn ở Xã Vĩnh Quỳnh, huyện Thanh Trì, Hà Nội nổi tiếng là một trong những nơi cung cấp nhiều rau cho người dân Hà Nội, nhưng các loại rau trồng gần khu vực nghĩa trang Trong nghiên cứu này người ta đã thu thập 12 mẫu nước mặt để phân tích pH, TSS, COD, NO2-, Fe, NH4+, PO43-, NO3-, 10 mẫu nước ngầm để phân tích pH, NO2-, Fe,
NH4+, PO43- và NO3- và 16 mẫu rau (10 mẫu rau muống, 3 mẫu cải xoong và 3 mẫu rau cần) đã được thu thập, sử dụng phương pháp chiết và lên màu hóa học để phân tích nồng
độ nitrat và nitrit trong rau Kết quả cho thấy chỉ số WQI của nước ngầm được đánh giá
ở mức rất kém là 208,5 Kết quả trên đã phản ánh đúng tình trạng ô nhiễm ở khu vực này bằng chứng là các mẫu rau muống và rau rau cần nằm gần nghĩa trang nhất có hàm lượng NO3- cao nhất lần lượt là 742 và 728 mg/kg tươi, vượt gấp 2,5 lần ngưỡng an toàn của WHO và EC (Dung, Quynh, Linh, & Phuc, 2019)
Năm 2018, Phương pháp chỉ số chất lượng nước (GWQI) và phân tích thành phần chính (PCA) được ứng dụng cho việc đánh giá mức độ ô nhiễm và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước tầng chứa nước Pleistocen khu vực huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Các mẫu nước dưới đất được thu thập từ 17 giếng quan trắc vào tháng 4 (mùa khô) và tháng 10 (mùa mưa) trong giai đoạn 2012-2017 Chín thông số chất lượng nước (pH, TDS, độ cứng, Cl-, F-, NO3-, SO42-, Cu2+ và Fe2+) được lựa chọn để phân tích, đánh giá trong nghiên cứu này Kết quả tính toán GWQI của 17 giếng vào mùa khô có chất lượng nước từ tốt đến rất tốt (chiếm 82%) và 17 giếng vào mùa mưa có chất lượng
từ rất tốt đến trung bình (chiếm 94%) Lượng giếng quan trắc có chất lượng nước xấu – rất xấu cũng có sự thay đổi giữa mùa khô và mùa mưa PCA đã chỉ ra được hai nhân tố đặc trưng gây ảnh hưởng đến chất lượng nước khu vực nghiên cứu Hai thành phần chính gồm sự tương tác của các thành phần hóa học trong trầm tích sông và đặc điểm thạch học tầng chứa nước hay hoạt động nhân sinh đã giải thích được 65,555% (mùa khô) và 61,562% (mùa mưa) biến thiên phương sai của tập mẫu (Âu et al., 2018)
Năm 2014, trước tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng của sông Đồng Nai do nguồn phát thải từ các khu đô thị, khu công nghiệp Nhóm tác giả Trân, Lý, Thân đã đưa ra bài báo “So sánh kết quả đánh giá chất lượng nước bằng đánh giá toàn diện mờ và chỉ số
Trang 22chất lượng nước: trường hợp nghiên cứu sông Đồng Nai” Trong bài báo này đã ứng dụng trọng số Entropy để tính chỉ số chất lượng nước Sông Đồng Nai góp phần hỗ trợ đánh giá, quản lý chất lượng nước (Le, Che, & Nguyen, 2014)
Năm 2012, Việc đô thị hóa và tăng nhanh các khu công nghiệp và dân cư ở các quận Tp.HCM đã khiến cho việc khai thác nước ngầm và các công trình xây dựng ngày càng tăng, rõ ràng đã có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình biến dạng lún xuống của thành phố, tuy chỉ là kết quả sơ bộ ban đầu nhưng đã cho thầy quan hệ mật thiết giữa đô thị hóa và khai thác nước ngầm, do đó tác giả Lê Văn Trung đã đưa ra bài báo “Giải pháp GIS trong quản lý nước dưới đất khu vực Thành phố Hồ Chí Minh” góp phần hỗ trợ công tác thành lập bản đồ các vùng bị ảnh hưởng bởi công trình khai thác nước dưới đất, nhằm phục vụ quản lý khai thác nước dưới đất một cách bền vững Bài báo đưa ra cho phép sử dụng công cụ phân tích và thống kê của GIS đánh giá được thực trạng lún mặt đất do ảnh hưởng của khai thác nước dưới đất khu vực Tp.HCM (Trung, 2012)
Năm 2009, tác giả Trần Ngọc Anh đã đưa ra nghiên cứu “Khả năng áp dụng mô hình MODFLOW tính toán và dự báo trữ lượng NDĐ miền đồng bằng tỉnh Quảng Trị” giúp đánh giá động thái NDĐ thông qua mô hình MODFLOW, khu vực miền đồng bằng tỉnh Quảng Trị có giá trị rời rạc, hóa thành các ô lưới tính toán để tích phân hệ phương trình cơ bản áp dụng mô hình MODFLOW nhằm mô tả quá trình động thái NDĐ, việc
áp dụng và hiệu chỉnh mô hình MODFLOW cho miền đồng bằng tỉnh Quảng Trị cho thấy sự phù hợp khác tốt giữa kết quả tính toán và thực đo cả trong hai trường hợp chạy
ổn định và không ổn định Kết quả tính toán sơ bộ trữ lượng tĩnh và trữ lượng động thiên nhiên cho vùng nghiên cứu khá phù hợp với các nghiên cứu trước đây “Mô hình MODFLOW với các số liệu hiện có về địa chất thủy văn và các số liệu hiệu chỉnh cho phép tính toán cho không chỉ một tầng chứa nước Holocen mà cả tầng Pleistocen và Neogen vốn đóng vai trò khác quan trọng trong việc khai thác sử dụng nước dưới đất đồng thời cũng là đối tượng ưu tiên cần được bảo vệ do tính khó phục hồi của chúng (Anh, Hoàng, Sơn, & Giang, 2009)
Việc nghiên cứu ứng dụng mô hình MODFLOW cho miền đồng bằng tỉnh Quảng Trị cho thấy rằng, mặc dù với số liệu hạn chế, đặc biệt là các tài liệu lỗ khoan dò NDĐ, nhưng kết quả tính toán của mô hình đã thể hiện độ tin cậy, khẳng định được tính
Trang 23ứng dụng cao của mô hình trong khu vực nghiên cứu cũng như ở các khu vực tương tự Việc ứng dụng mô hình với nhiều mô đun trích xuất số liệu khác nhau là điều kiện thuận lợi để xây dựng các bản đồ mô đun dòng ngầm ứng với các thời kỳ khác nhau” (Anh et al., 2009)
Nhìn chung, một số các ứng dụng về EWQI và GIS để phân vùng chất lượng nước dưới đất vẫn còn rất hạn chế Do đó, việc ứng dụng EWQI và GIS nhằm phân vùng chất lượng nước dưới đất cần được tiếp tục thực hiện nhằm đưa ra một cái nhìn mới hơn,
cụ thể hơn về chất lượng nước dưới đất, giúp các nhà quản lý có các giải pháp quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả
1.4 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
1.4.1 Vị trí địa lý
- Thị xã Phú Mỹ nằm ở phía Tây tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, có vị trí địa lý: Trong phạm vi địa lý từ 106°59'40" đến 107°10'24" kinh độ Đông và từ 10°27'52" đến 10°43' 9" vĩ độ Bắc
+ Phía Đông giáp huyện Châu Đức
+ Phía Đông Nam giáp thành phố Bà Rịa
+ Phía Tây giáp huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh với ranh giới là sông Thị Vải
+ Phía Nam giáp thành phố Vũng Tàu
+ Phía Bắc giáp huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai
+ Phía Tây Bắc giáp huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai
- Thị xã Phú Mỹ có diện tích tự nhiên là 333,84 km², dân số năm 2019 là 221.030 người
- Thị xã nằm dọc theo quốc lộ 51, cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 60 km, cách thành phố Vũng Tàu khoảng 40 km và cách thành phố Bà Rịa khoảng 20 km
Trang 24Hình 1.1 Sơ đồ vị trí địa lý khu vực nghiên cứu
- Hành chính
Ngày 12 tháng 4 năm 2018, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 492/NQ-UBTVQH14 Theo đó: Thành lập thị xã Phú Mỹ trên cơ sở toàn bộ diện tích
và dân số của huyện Tân Thành
Thị xã Phú Mỹ có 10 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 5 phường: Hắc Dịch, Mỹ Xuân, Phú Mỹ, Phước Hòa, Tân Phước và 5 xã: Châu Pha, Sông Xoài, Tân Hải, Tân Hòa, Tóc Tiên
1.4.2 Địa hình, địa mạo
Khu vực nghiên cứu có địa hình vùng đồng bằng và bình nguyên với những núi sót rải rác, có xu hướng thấp dần theo hướng Bắc – Nam Có thể phân biệt thành 3 dạng địa hình chính như sau:
- Địa hình đồng bằng
Địa hình đồng bằng thềm thấp có độ cao từ 5 m đến 10 m hoặc có nơi chỉ cao từ 2
m đến 5 m dọc theo các sông và địa hình trũng trên trầm tích sông biển, đầm lầy biển
Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Trang 25với độ cao từ 0,3 m đến 2 m, có chỗ thấp hơn mực nước biển Dạng địa hình này phân
bố dọc theo các sông lớn và ven biển, tạo thành một dải kéo dài từ tây sang đông dọc theo bờ biển
Địa hình đồng bằng thềm cao có độ cao địa hình từ 10m đến 50m, bề mặt tương đối bằng phẳng, phân bố thành dải theo chân đồi núi thấp phía tây và đông tỉnh
- Địa hình đồi lượn sóng
Là dạng địa hình cao nguyên núi lửa nằm ở phía bắc và đông bắc tỉnh, đây chính
là phần rìa của cao nguyên bazan Xuân Lộc với bề mặt san bằng khá lớn, cao độ biến đổi từ 50 m đến 200 m, độ dốc từ 3º đến 8º, rìa ngoài của chúng có độ dốc lớn
- Địa hình đồi núi thấp
Địa hình đồi núi thấp bao gồm các núi sót rải rác và là phần cuối cùng của dãy Trường Sơn với độ cao biến đổi lớn từ 30 m đến 500 m, trung bình là 200 m Độ dốc cao từ 20º đến 30º, đỉnh thường bị bào mòn mạnh Thành phần chủ yếu là đá granit
1.4.3 Khí hậu
Thị xã Phú Mỹ nằm trong vùng đồng bằng Nam Bộ có khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, với khí hậu ôn hòa, ít chịu ảnh hưởng của thiên tai và chịu ảnh hưởng chủ yếu từ gió mùa Đông Bắc và Tây Nam Một năm có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Theo số liệu quan trắc (2017 – 2018) tại trạm khí tượng thành phố Vũng tàu, đặc điểm khí hậu – khí tượng có những đặc điểm sau:
- Nhiệt độ
Nhiệt độ (oC) bình quân trong năm biến thiên từ 26,1oC – 29,8oC Nhiệt độ bình quân tháng thấp nhất (tháng 2/2018) 26,3oC Nhiệt độ bình quân tháng cao nhất (tháng 5/2017) 29,8oC Nhìn chung, biên độ nhiệt qua các tháng không lớn (Hình 1.2)
Trang 26Hình 1.2 Nhiệt độ trung bình các tháng giai đoạn 2017 – 2018
(Nguồn: Niên giám thông kế năm 2018 - Cục Thống kê tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu)
- Độ ẩm
Do chế độ mưa theo mùa nên biên độ dao động về độ ẩm không khí giữa mùa mưa
và mùa khô khá lớn Độ ẩm hàng năm trong vùng nghiên cứu dao động trong khoảng 71,8 – 82,1% Độ ẩm thường cao trong mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11/2017, cao nhất đạt 82,1% (Hình 1.3)
Hình 1.3 Độ ẩm trung bình các tháng giai đoạn 2017 – 2018 (Nguồn: Niên giám thông kế năm 2018 - Cục Thống kê tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu)
Trang 27Trong khu vực nghiên cứu lượng mưa bình quân giai đoạn 2017 – 2018 tại trạm Vũng Tàu dao động từ 1.738 – 1.394 mm/năm (Hình 1.4) Mùa mưa diễn ra từ tháng 5 – 10/2017, chiếm 89% tổng lượng mưa cả năm, tháng có lượng mưa trung bình lớn nhất 362,2 mm/tháng (tháng 10/2017) Mùa khô từ cuối tháng 11/2017 đến đầu tháng 4/2018, lượng mưa chỉ chiếm khoảng 11% tổng lượng mưa cả năm, tháng có lượng mưa ít nhất
là tháng 2, 3/2018
Hình 1.4 Lượng mưa trung bình các tháng giai đoạn 2017 – 2018
(Nguồn: Niên giám thông kế năm 2018 - Cục Thống kê tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu)
- Số giờ nắng
Trong vùng nghiên cứu, Tổng số giờ nắng trong năm 2017-2018 là 2.571-2.561 giờ Trung bình tháng thay đổi từ 149,4 giờ/tháng vào tháng 12 đến 293 giờ/tháng trong tháng 3 với giá trị trung bình là 219 giờ/ngày Số giờ nắng phân bố tương đối đều ở các tháng trong năm
Trang 28Hình 1.5 Số giờ nắng của các tháng giai đoạn 2017 – 2018 (Nguồn: Niên giám thông kế năm 2018 - Cục Thống kê tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu)
- Gió và hướng gió
Gió và hướng gió: Gió chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa Tốc độ gió và hướng gió thay đổi theo mùa Các hướng gió chính của khu vực như sau:
Thời kỳ gió mùa Đông Bắc khống chế là mùa khô (từ tháng 11 tới tháng 4 năm sau), vận tốc gió trung bình trong khoảng 2,4-3,6m/s, lớn nhất đạt 7,6-10,4m/s
Thời kỳ gió mùa Tây Nam bắt đầu từ tháng 5 tới tháng 10 của mùa mưa, vận tốc gió trung bình trong khoảng 2,6-2,8m/s, lớn nhất 8,6-12m/s
Hình 1.6 Biểu đồ hoa gió vận tốc gió trung bình trong năm (m/s)
(Nguồn: Niên giám thông kế năm 2018 - Cục Thống kê tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu)
4,00 N
NE
E
ESS
SWWNW
Trang 29- Các hiện tượng thời tiết đặc biệt khác
Nằm ở vùng biển Đông Nam Bộ, thị xã Phú Mỹ tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu còn có những đặc điểm thời tiết đáng chú ý như các cơn mưa dầm, những cơn gió thổi mạnh từ biển vào và những cơn dông lớn, những đợt nắng nóng kéo dài kèm theo gió khô thổi tới
+ Mưa dầm: Những cơn mưa dầm kèm theo gió mạnh thường xảy ra vào những tháng mùa mưa nhất là vào những ngày biển động thì gió rất mạnh
+ Gió: Gió mạnh và nắng nóng vào mùa hè làm nhiệt độ tăng lên rất cao, không khí ngột ngạt Gió mạnh làm cuộn lên những cơn lốc ảnh hưởng tiêu cực rất lớn đến môi trường không khí
+ Dông: Mùa dông ở Bà Rịa -Vũng Tàu thường bắt đầu vào cuối mùa khô (tháng 4) và kết thúc vào tháng 11 Trong mùa dông mỗi tháng trung bình có khoảng 2-6 ngày dông Trung bình trong năm có trên 30 ngày dông
1.4.4 Thủy văn
- Sông, suối
Trên địa bàn thị xã Phú Mỹ có hệ thống sông Thị Vải, bắt nguồn từ khu vực xã Long Thọ, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai (nối tiếp Suối Cả) chảy qua địa bàn thị xã Phú Mỹ (BR - VT) và huyện Cần Giờ (TPHCM) trước khi đổ ra biển Đông qua vịnh Gành Rái Ở phía hạ lưu sông có các nhánh nối liền với hệ thống sông Đồng Nai Sông Thị vải dài khoảng 76 km, chiều rộng trung bình 400 – 650 m, độ sâu trung bình 22 m, nơi sâu nhất 60 m Toàn bộ lưu vực sông có địa hình trũng thấp tạo thành khu chứa nước mặn rộng lớn khi triều cường Vì thế, sông Thị Vải mang tính chất của một vũng biển hay một phần vịnh Gành Rái ăn sâu vào đất liền Do chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế
độ bán nhật triều không đều của biển Đông nên nước sông Thị Vải bị mặn gần như quanh năm, không có giá trị về mặt cấp nước Phía thượng lưu sông Thị Vải gồm suối
Cả (41 km), suối Le (19 km) và nhiều kênh rạch, suối nhỏ xen kẻ với các thảm rừng ngập mặn Nguồn nước ngọt từ phía thượng lưu bổ sung cho sông Thị Vải rất ít, do đó khả năng tự làm sạch của sông rất kém
Sông tuy ngắn, gần vịnh và lưu vực nhỏ nhưng lại nằm trong khu vực được quy hoạch phát triển công nghiệp nặng Phía tả ngạn sông hiện có các KCN đang hoạt động như Vedan, Gò Dầu, Mỹ Xuân A, Mỹ Xuân A2, Mỹ Xuân B1, Phú Mỹ 1, Cái Mép Phía hữu ngạn là các bãi sú vẹt và lệch về phía thượng nguồn là các KCN Nhơn Trạch
Trang 301, 2, 3, 4, của tỉnh Đồng Nai Sông Thị Vải là nơi tiếp nhận nước thải của các KCN nói trên, đồng thời còn tiếp nhận nước thải sinh hoạt và các hoạt động khác trên lưu vực Sông Thị Vải chịu ảnh hưởng của biển, là nơi thoát của các dòng mặt thuộc hệ thống sông trên cũng như của nước ngầm Sự xâm nhập của biển trải hết toàn khu vực này Độ khoáng hóa cao từ vài g/l đến hàng chục g/l, loại hình nước hóa học chủ yếu là Clorur natri Sông Thị Vải bị nhiễm mặn và không thể sử dụng cho các hoạt động sản xuất, tuy nhiên vẫn có ý nghĩa về giao thông rất lớn
Hình 1.7 Sơ đồ mạng lưới sông, suối khu vực nghiên cứu
- Biển
Biển Đông bao bọc toàn bộ ranh giới phía nam và đông nam tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu với hơn 200 km bờ biển trong đó có thị xã Phú Mỹ, do đó toàn bộ mạng lưới thủy văn ở phía tây và nam giáp biển đều chịu ảnh hưởng lớn của triều Biển Đông và theo sông vào sâu trong đất liền Triều Biển Đông có chế độ bán nhật triều, ngày đêm có 2 đỉnh và 2 chân triều, mỗi tháng có 2 chu kỳ triều Biên độ dao động triều tương đối lớn,
từ 3 - 4m tùy theo thời gian trong năm
Trang 31Trong năm, thủy triều biến động hình thành một thời kỳ nước cao, vào khoảng tháng 12 đến tháng 2 năm sau và một thời kỳ nước thấp vào khoảng tháng 6 đến tháng
8 Tuy là chế độ bán nhật triều nhưng không đều, 2 đỉnh triều đạt xấp xỉ nhau nhưng 2 chân triều chênh lệch nhau khá lớn Thời gian giữa 2 đỉnh và 2 chân vào khoảng 12,5 giờ và thời gian chu kỳ triều ngày là 24,83 giờ Độ cao của mỗi đỉnh và chân triều biến đổi từ ngày này sang ngày khác trong 1 chu kỳ triều là 15 ngày
Chế độ triều Biển Đông ảnh hưởng trực tiếp đến mạng thủy văn trong vùng, nước biển xâm nhập vào sát chân các địa hình cao, làm ngập hầu hết các đồng bằng thấp và bãi lầy tạo thành rừng ngập mặn
1.4.5 Nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt và tình hình khai thác nước dưới đất
Thị xã Phú Mỹ là một trong những địa phương đóng góp quan trọng vào tốc độ phát triển cho cả tỉnh, tạo tỷ trọng thu ngân sách lớn cho tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Cùng với sự phát triển đó, nhu cầu về nước sạch phục vụ các lĩnh vực sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và công cộng là vô cùng to lớn và ngày càng gia tăng Bên cạnh nguồn tài nguyên nước mặt, tài nguyên nước dưới đất đóng vai trò rất lớn trong nguồn cấp nước của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu:
Trong đó nói chung tổng lượng khai thác nước dưới đất (trừ huyện Côn Đảo) là: Tổng lưu lượng khai thác nước dưới đất là 200.616 m3/ngày:
+ Sử dụng cho ăn uống, sinh hoạt là 114.820 m3/ngày
+ Sử dụng cho sản xuất là 85.801 m3/ngày
Còn riêng đối với Thị xã Phú Mỹ cũng đứng ở vị trí thứ 3 trong các khu vực khai thác nước dưới đất lớn nhất của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (sau Huyện Châu Đức tổng lưu lượng khai thác nước dưới đất là 59.189 m3/ngày, Huyện Xuyên Mộc tổng lưu lượng khai thác nước dưới đất là 53.067 m3/ngày)
Nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt Thị xã Phú Mỹ là:
Tổng lưu lượng khai thác nước dưới đất là 50.982 m3/ngày, trong đó:
+ Sử dụng cho ăn uống, sinh hoạt là 36.094 m3/ngày
+ Sử dụng cho sản xuất là 14.888 m3/ngày
Mức độ khai thác nước dưới đất :
Trang 32Một số xã, phường có mức độ khai thác >100 và <200 m3/ngày/km2 là xã Tân Hải,
xã Sông Xoài, phường Mỹ Xuân và phường Hắc Dịch Các xã, phường còn lại có mức
độ khai thác < 100m3/ngày/km2
- Tình hình khai thác sử dụng:
Trên địa bàn thị xã Phú Mỹ, tổng lưu lượng nước dưới dất đang được khai thác sử dụng được tổng hợp trong bảng 1.1, chiếm tỷ lệ 16,84% so với lưu lượng nước dưới đất toàn tỉnh, trong đó nước sử dụng cho sinh hoạt chiếm 31,44% và nước sử dụng cho các hoạt động sản xuất chiếm 17,35%
Bảng 1.1 Hiện trạng khai thác sử dụng nước dưới đất Thị xã Phú Mỹ
Đơn vị Diện tích
(km2)
Lưu lượng khai thác (m3/ngày)
Mật độ (m3/ngày/km2) Tổng Sinh hoạt Sản xuất
Thị xã Phú Mỹ có 3 tầng chứa nước lỗ hổng chính, gồm Pleistocen trên (qp3) (gồm các giếng QT5B, VT4B, VT6, NB1B, NB2C, NB3A, NB3B, QT7B) có độ sâu từ 14-30m; Pleistocen giữa-trên (qp2-3) (gồm các giếng QT5A, VT4A, NB1A, NB2A, NB2B, NB4, QT7A QT11, VT2B) sâu từ 5-38m và Pleistocen dưới (qp1) Trong đó, 2 tầng chứa nước lỗ hổng trầm tích Pleistocen trên (qp3) và Pleistocen giữa-trên (qp2-3) có diện phân bố trải rộng toàn thị xã với mức độ giàu nước lớn, được khai thác để cung cấp chính cho các giếng cấp công nghiệp quy mô từ trung bình đến lớn (Phú Mỹ - Mỹ Xuân – Tóc Tiên) và nhỏ lẻ trong khu vực Tầng chứa nước lỗ hổng Pleistocen được tạo thành
từ đất đá hạt thô nằm dưới hệ tầng Củ Chi, hệ tầng Thủ Đức và hệ tầng Trảng Bom với các khoáng vật chính: Fluorit-apatit, felspat, thạch cao, turmalin, montmorilonit, ilmenit
và một số tạp chất khác (Âu, Ngân, Thủy, & Ngọc, 2017; Âu et al., 2018; Ngọc, Thủy,
& Âu, 2017)
Trang 33Trong các tầng chứa nước này có 2 tầng chứa tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pleistocen trên, tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pleistocen giữa-trên chịu tác động lớn bởi các hoạt động kinh tế - xã hội khu vực và quá trình biên mặn lấn sâu vào đất liền Một số đặc điểm chính các tầng chứa nước bao gồm:
- Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pleistocen trên (qp3)
Tầng chứa nước Pleistocen trên phân bố thành một dải dài từ tây sang đông dọc theo ranh giới phía nam của tỉnh từ Thị xã Phú Mỹ xuống Bà Rịa, Vũng Tàu qua Long Điền, Đất Đỏ đến Xuyên Mộc, đôi chỗ bị gián đoạn bởi các núi sót nằm rải rác hoặc bị bào mòn Phần lớn bị phủ bởi thành tạo rất nghèo nước Holocen (Q2) và Pleistocen trên (Q1 ), một vài nơi lộ trực tiếp trên mặt Các trầm tích này phủ trực tiếp lên trên thành tạo rất nghèo nước Pleistocen giữa-trên (Q12-3) và bề mặt phong hóa của các đá Mesozoi Thành phần thạch học gồm chủ yếu là cát hạt mịn đến trung thô chứa sạn sỏi, có nơi lẫn sét bột hoặc xen kẹp các thấu kính mỏng sét bột, bột cát mịn Loại hình hóa học nước chủ yếu là Clorua Natri, Clorur-Bicarbonat Natri, Bicarbonat-Clorur Natri-Calci Đặc điểm khoáng hóa tầng chứa nước bao gồm sạn, cuội, cát và sét kaolin, thạch anh (Si: 40,7% + nhiều khoáng vật khác), Manhetit (Fe3O4), Mg, Fe, Al…Ngoài ra còn đặc biệt chứa các khoáng vật nhóm sulphua (pyrit, chancopirit, feomango piroluzit) dẫn đến việc hàm lượng Fe và Mn ở khu vực này khá cao
Nguồn cung cấp chính cho tầng là nước mưa và nước mặt thấm trực tiếp từ trên xuống, miền thoát hướng ra biển và các sông rạch trũng thấp Hướng vận động của nước khá phức tạp, phụ thuộc vào dạng địa hình nhưng nhìn chung nước vận động từ đỉnh phân thủy xuống các thung lũng sông suối, từ nơi có địa hình cao xuống nơi có địa hình thấp
Tóm lại, tầng chứa nước Pleistocen trên có diện phân bố rộng, chiều dày trung bình, mức độ giàu nước từ nghèo đến trung bình, nước nhạt, thích hợp với các giếng khoan nhỏ lẻ qui mô hộ gia đình hoặc các giếng khoan khai thác cấp công nghiệp qui
mô trung bình
- Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pleistocen giữa - trên (qp2-3)
Tầng chứa nước Pleistocen giữa-trên có diện phân bố rộng từ tây sang đông dọc theo ranh giới phía nam của tỉnh, đôi chỗ bị gián đoạn bởi các núi sót nằm rải rác, diện phân bố lớn hơn tầng chứa nước Pleistocen trên Tầng chứa nước này lộ rải rác trên mặt
Trang 34ở huyện Xuyên Mộc, phần còn lại bị phủ trực tiếp bởi các thành tạo rất nghèo nước Pleistocen giữa-trên (Q12-3) và phủ trực tiếp lên thành tạo rất nghèo nước
Thành phần thạch học gồm chủ yếu là cát hạt mịn đến trung thô chứa sạn sỏi, có nơi lẫn sét bột hoặc xen kẹp các thấu kính mỏng sét bột, bột cát mịn Loại hình hóa học nước chủ yếu là Clorur Natri, Bicarbonat Natri, Bicarbonat-Clorur Natri-Calci, Bicarbonat-Clorur Calci
Nguồn cung cấp chính cho tầng là nước mưa và nước mặt thấm trực tiếp ở những vùng lộ và thấm xuyên từ các tầng chứa nước bên trên, miền thoát hướng ra biển và các sông rạch trũng thấp Hướng vận động của nước khá phức tạp, phụ thuộc vào dạng địa hình nhưng nhìn chung nước vận động từ đỉnh phân thủy xuống các thung lũng sông suối, từ nơi có địa hình cao xuống nơi có địa hình thấp
Tóm lại, tầng chứa nước Pleistocen giữa-trên có diện phân bố rộng, chiều dày biến đổi lớn, mức độ giàu nước từ nghèo đến giàu, nước nhạt, thích hợp với các giếng khoan nhỏ lẻ qui mô hộ gia đình hoặc các giếng khoan khai thác cấp công nghiệp qui mô trung bình và lớn tại các khu vực giàu nước
1.4.7 Thông tin sơ lược về các giếng quan trắc
Tại khu vực nghiên cứu có 17 giếng quan trắc chất lượng nước thuộc hai tầng chứa nước dưới đất là: Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pleistocen trên (qp3) và tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pleistocen giữa - trên (qp2-3) được thể hiện ở Bảng 1.4
Bảng 1.2 Các giếng quan trắc trong khu vực nghiên cứu
Trang 35STT Tầng chứa nước Kí hiệu giếng Chiều sâu (m)
Trang 36Hình 1.8 Hình ảnh thể hiện phân bố 17 của các điểm quan trắc
Bảng 1.3 Mô tả sơ bộ vị trí các giếng
NB1A, NB1B Gần các công ty như: Công ty TNHH Anchor Fasteners Việt
Nam (Sản xuất sản phẩm khác bằng kim loại), Công Ty Kim Loại Quần Phong và Công Ty TNHH Prime Asia (Thuộc, sơ chế da; sơ chế và nhuộm da lông thú)
NB2A, NB2B, NB2C Nằm giữa các công ty như: Công ty TNHH Gốm Bạch Mã,
Công ty TNHH Gạch Men Nhà Ý, Công ty TNHH Xay Lúa
Khu xử lý chất thải Tóc Tiên
Khu công nghiệp
Các công ty
Nhà máy thép Vina Kyoei, Pomina 2
Khu Công Nghiệp
Phú Mỹ I
Trang 37Giếng Mô tả xung quanh giếng
Mì Việt Nam, Công ty Giấy Sài Gòn và Nhà Máy Gạch Men Hoàng Gia
QT5A, QT5B Gần các nhà máy như: Nhà máy thép Vina Kyoei, Pomina 2
(của Khu Công Nghiệp Phú Mỹ I)
QT7A, QT7B Nằm trong Khu Công Nghiệp Phú Mỹ I (gần các Công Ty Cp
Bao Bì Đạm Phú Mỹ, Công ty phân bón Hóa Mỹ, Nhà máy Đạm Phú Mỹ) và Khu đất canh tác nông nghiệp
VT4A,VT4B Nằm gần Khu Công Nghiệp Phú Mỹ 3
VT2, QT11 Gần Khu công nghiệp Mỹ Xuân B1
VT6 Nằm trong khu vực khu dân cư và gần Khu Công Nghiệp Phú
Mỹ 3
NB4 Nằm trong Khu xử lý chất thải Tóc Tiên
Trang 38Trích: Phụ lục 1 Hình 1.9 Sơ đồ địa chất thủy văn khu vực nghiên cứu
Ngoài ra các giếng VT4A, VT4B, QT5A, QT5B còn nằm trong vùng ảnh hưởng triều Các giếng NB3A, NB3B, QT7A, QT7B, VT4A, VT4B, VT6 nằm trên ranh mặn của khu vực
Trang 39Kết quả quan trắc chất lượng nước dưới đất tầng chứa nước Pleistocen TX Phú Mỹ được thừa kế từ đề tài KH-CN loại C năm 2019 Đề tài: “Ứng dụng chỉ số chất lượng nước dưới đất, phân tích cụm đánh giá chất lượng nước dưới đất tầng chứa nước Pleistocen địa bàn thị xã Phú Mỹ, Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” Được Môi trường và Tài nguyên thực hiện năm 2020
1.4.8 Điều kiện kinh tế - xã hội
- Dân cư
Theo kết quả thống kê năm 2019, dân số trung bình của thị xã là 221.030 người người trong đó thành thị khoảng 155.114 người và ở nông thôn là 65.916 người Mật độ dân số thị xã chỉ vào khoảng 720 người/km2 Dân cư chủ yếu là người Kinh, ngoài ra còn có người Hoa, Châu Ro, Khmer, Mường và Tày
- Nông nghiệp:
+ Trồng trọt:
Tổng diện tích đất toàn thị xã là 33.384 ha Bao gồm: Đất sản xuất nông nghiệp rộng 11.851 ha (chiếm khoảng 35,5%) , đất lâm nghiệp có rừng rộng 5.243 ha (chiếm khoảng 15,7%), đất chuyển dùng 10.677 (chiếm khoảng 32%), đất ở (chiếm khoảng 4,8%) Với 16 trang trại trồng trọt đang hoạt động Tổng diện tích đất trồng cây lương thực như lúa, ngô, khoai, sắn là 3.074,95 ha Với tổng sản lượng đạt 46.288,82 tấn Tổng diện tích đất trồng cây lấy quả chứa dầu như cao su, cà phê, hồ tiêu, điều là 3.641 ha Tổng diện tích cho sản phẩm là 3.520 ha Với tổng sản lượng đạt 4.778 tấn
Bảng 1.4 Diện tích và sản lượng cây trồng lương thực
Lúa Ngô Khoai Lang Sắn Tổng cộng Diện tích trồng (ha) 865 800 6,95 1.403 3.074,95 Sản lượng nông sản ( tấn) 4.019 4.701 29,82 37.539 46.288,82
(Nguồn: Niên giám thông kế năm 2018 - Cục Thống kê tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu)
Bảng 1.5 Diện tích và sản lượng cây lấy quả chứa dầu
Cao su Cà phê Hồ tiêu Điều Tổng cộng
Trang 40Diện tích cho sản phẩm (ha) 341 700 528 1.951 3.520 Sản lượng nông sản ( tấn) 598 1.308 1.145 1.727 4.778
(Nguồn: Niên giám thông kế năm 2018 - Cục Thống kê tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu)
+ Chăn nuôi:
Trên địa bàn Thị xã Phú Mỹ có tổng cổng 90 trang trại chăn nuôi đang hoạt động Chiếm 46,4 % tổng số trang trại của tỉnh và đây cũng là địa phương có số trang trại chăn nuôi đứng đầu nhất của tỉnh Trong đó có: 299 con trâu, 6.252 con bò, 45.941 con lợn, 4.854 con dê và đặc biệt là gia cầm với 1.524 nghìn con
- Nuôi trồng thủy sản:
Là địa phương có diện tích nuôi trồng thủy sản đứng thứ hai toàn tỉnh với tổng diện tích là 1.061,3 ha (chiếm 15,44 % tổng diện tích nuôi trong toàn tỉnh) chỉ đứng sau Thành phố Vũng tàu (1.952,9 ha) Với tổng sản lượng được ghi đạt 3.325 tấn năm 2018
- Kinh tế
Về phát triển kinh tế, sự hình thành các khu công nghiệp tập trung, các cụm công nghiệp đã tạo ra những tác động mang tính đột phá mạnh mẽ, đánh thức những tiềm năng kinh tế của thị xã Phú Mỹ Trên địa bàn thị xã đã hình thành 09/10 khu công nghiệp
và 03/05 cụm công nghiệp đang hoạt động với quy mô gần 5000ha, tổng số dự án đầu
tư còn hiệu lực hoạt động trong khu công nghiệp đến nay là 215 dự án, với tổng số vốn đầu tư đăng ký hơn 13 tỷ USD, trong đó có 116 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), với tổng số vốn hơn 8 tỷ USD và 99 dự án đầu tư trong nước với tổng số vốn hơn 5,4 tỷ USD
Thị xã Phú Mỹ cũng là nơi tập trung nhiều khu công nghiệp nhất của tỉnh Hàng loạt các nhà máy lớn đã xây dựng như: nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ 2 – 1, Phú Mỹ 1, Phú Mỹ 2, Phú Mỹ 3, Phú Mỹ 4, nhà máy thép VINA-KYOEI, nhà máy thép Pomina 2, nhà máy luyện phôi thép Pomina 3, nhà máy phân bón NPK, nhà máy gạch men Mỹ Đức, nhà máy sản xuất thùng phuy, các nhà máy xay lúa mì, bột mì, sản xuất hạt nhựa PVC, sản xuất nhựa đường, sản xuất ống thép, cốt thép, chế biến thực phẩm và thức ăn gia súc
Thị xã tập trung các khu công nghiệp nặng và năng lượng lớn như khu công nghiệp khí – điện – đạm Phú Mỹ có tổng mức đầu tư hơn 6 tỷ USD với các nhà máy điện có tổng công suất lên đến 3.900 MW, chiếm gần 40% tổng công suất điện năng của các