TIỂU LUẬN CUỐI KÌ LUẬT NGÂN HÀNGTên đề tài: PHÁP LUẬT VỀ BAO THANH TOÁN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG VIỆT NAM HIỆN NAY Họ và tên: Ngày sinh: Mã sinh viên: Lớp: Điện thoại liê
Trang 1TIỂU LUẬN CUỐI KÌ LUẬT NGÂN HÀNG
Tên đề tài:
PHÁP LUẬT VỀ BAO THANH TOÁN TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA
TỔ CHỨC TÍN DỤNG VIỆT NAM HIỆN NAY
Họ và tên:
Ngày sinh:
Mã sinh viên:
Lớp:
Điện thoại liên hệ:
Email:
Hà Nội, Tháng 11/2021
Trang 3Mục lục
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN NỘI DUNG 2
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BAO THANH TOÁN CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG 2
1.1 Một số định nghĩa về “Bao thanh toán” 2
1.2 Đặc điểm của hoạt động bao thanh toán 3
1.3 Phân loại phương thức bao thanh toán theo Pháp luật Việt Nam 4
Chương 2 PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG TẠI VIỆT NAM 5
2.1 Các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động bao thanh toán tại Việt Nam hiện nay 5
2.2 Chủ thể của quan hệ bao thanh toán 5
2.3 Hợp đồng bao thanh toán 7
2.4 Quyền, nghĩa vụ của các bên 8
2.4.1 Quyền, nghĩa vụ của tổ chức tín dụng thực hiện bao thanh toán 8
2.4.2 Quyền, nghĩa vụ của bên bán hàng (khách hàng sử dụng bao thanh toán) 9
2.4.3 Quyền và nghĩa vụ của bên mua hàng 10
Chương 3:QUAN ĐIỂM CÁ NHÂN VỀ THỰC TIỄN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ GỢI MỞ ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN TẠI VIỆT NAM 10
3.1 Một số ưu điểm đạt được kể từ khi có pháp luật điều chỉnh hoạt động bao thanh toán 10
3.2 Một số khó khăn từ thực tiễn áp dụng pháp luật về bao thanh toán tại Việt Nam hiện nay 12
3.3 Một số vấn đề gợi mở góp phần hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động bao thanh toán tại Việt Nam 13
PHẦN KẾT LUẬN 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
Sự phát triển của nền thị trường trong các hoạt động thương mại, đặc biệt là về kinh tế hàng hóa đã mở ra cho mọi người biết bao cơ hội phát triển và làm việc Không chỉ là cho mỗi cá nhân, mà các doanh nghiệp cũng nhờ vào yếu tố này để đẩy mạnh sự phát triển của mình trên thị trường Nhưng cũng chính từ sự phát triển của nền hàng hóa dịch vụ, đã tạo
ra một sự cạnh tranh gay gắt trong các doanh nghiệp, làm sao để đưa được hàng hóa của mình ra thị trường và bán được nhiều hàng hóa nhất
Thêm nữa, kể từ sau năm 1986, dấu mốc đánh dấu sự mở cửa của Việt Nam về kinh
tế và thị trường hay nói cách khác là chúng ta bước vào thời kỳ đổi mới Kể từ đó cho đến hiện nay đã thúc đẩy quá trình hội nhập với quốc tế về các lĩnh vực văn hóa, xã hội, … và đặc biệt là kinh tế Nhưng sự phát triển về kinh tế cũng đi kèm theo những khó khăn như còn nhiều hạn chế về tiềm lực vốn, nguồn nhân lực, thông tin thị trường, quản lý rủi ro, …
vì các doanh nghiệp Việt Nam chưa được tiếp cận cũng như chưa có kinh nghiệm khi tham gia vào các hoạt động kinh tế, đặc biệt là đối với nước ngoài
Trong thời kì phát triển và hội nhập đó, các tổ chức tín dụng (ngân hàng, …) luôn là một ngành đặc biệt quan trọng trong việc góp phần phát triển nền kinh tế của Việt Nam Các tổ chức tín dụng không chỉ là nơi lưu trữ các nguồn tiền, vàng, … mà còn trở thành một kênh trung gian để cung cấp các thông tin, dịch vụ cho các doanh nghiệp Một trong
số đó là dịch vụ bao thanh toán
Bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng cho bên bán hàng hóa Trên thế giới, hoạt động bao thanh toán đã diễn ra từ lâu, nhưng đối với Việt Nam, hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng Việt Nam vẫn còn khá mới mẻ, còn đem lại sự lạ lẫm cho các doanh nghiệp Hoạt động bao thanh toán xuất hiện tại Việt Nam từ đầu thập niên 90 nhưng cho đến năm 2004 khi có quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng nhà nước thì hoạt động bao thanh toán mới chính thức được hoạt động ở Việt Nam [1]
1 Phạm Thị Thu Trang (2014) Pháp luật về hoạt động bao thanh toán của tổ chức tín dụng ở Việt Nam hiện nay Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
1
Trang 5Chính vì sự mới mẻ của hoạt động bao thanh toán tại Việt Nam, chắc hẳn rằng các quy định của pháp luật về hoạt động bao thanh toán vẫn còn đang trong quá trình hoàn thiện, bên cạnh đó là việc hiểu và áp dụng pháp luật của các doanh nghiệp vào hoạt động kinh doanh của mình vẫn còn nhiều vướng mắc Chính vì thế, sinh viên đã lựa chọn đề tài
“Pháp luật về bao thanh toán trong hoạt động của tổ chức tín dụng ở Việt Nam hiện nay”
Trong phạm vi của bài tiểu luận này nhằm làm rõ các quy định của pháp luật về điều chỉnh hoạt động bao thanh toán như: chủ thể, đối tượng, phương thức xác lập, … cũng như quyền, nghĩa vụ của các bên khi sử dụng dịch vụ bao thanh toán
Với sự hiểu biết cũng như cách tiếp cận từ tư duy của một sinh viên Chắc hẳn rằng bài tiểu luận này vẫn sẽ có những thiếu xót, sai xót trong quá trình làm bài Sự góp ý, chỉnh sửa của giảng viên sẽ góp phần hoàn thiện bài nghiên cứu này Em xin chân thành cảm ơn
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BAO THANH TOÁN CỦA
TỔ CHỨC TÍN DỤNG I.1 Một số định nghĩa về “Bao thanh toán”
Trên thế giới
Theo tổ chức Bao thanh toán quốc tế - FCI: “Bao thanh toán là một dịch vụ tài chính trọn gói bao gồm sự kết hợp giữa tài trợ vốn hoạt động, phòng ngừa rủi ro tín dụng, theo dõi các khoản phải thu và dịch vụ thu hộ” [2]
Tại Việt Nam
Theo Quyết định số 1096/2004/QĐ- NHNN
Bao thanh toán được đánh dấu chính thức hoạt động tại Việt Nam từ năm 2004 tại Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN Theo Quyết định này, “Bao thanh toán trong nước:
là việc bao thanh toán dựa trên hợp đồng mua, bán hàng, trong đó bên bán hàng và bên
2 Khoa Luật (2018) Tài liệu học tập môn học Pháp luật Ngân hàng Học viện Ngân hàng Tr 206.
2
Trang 6mua hàng là người cư trú theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối” Tại quy định này chúng ta mới chỉ thấy được pháp luật có quy định về bao thanh toán trong nước, vì hoạt động này còn quá mới mẻ vào thời điểm bấy giờ Nhưng đó là tại thời điểm năm
2004
Còn hiện nay, pháp luật đã có các quy định mới về bao thanh toán, trong đó có quy định về bao thanh toán không chỉ gồm bao thanh toán trong nước, mà còn có bao thanh toán quốc tế
Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam 2010
“Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ.thương nhân được xác định, bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa và đại lý thương mại” [3]
Như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng bao thanh toán thực chất là việc doanh nghiệp bán lại quyền đòi nợ cho TCTD Và TCTD mua lại quyền đòi nợ của các doanh nghiệp trong các hợp đồng mua bán hàng hóa
I.2 Đặc điểm của hoạt động bao thanh toán
Sinh viên xin đưa ra một số đặc điểm sau về hoạt động bao thanh toán dựa trên cơ sở của các cách định nghĩa khác nhau về bao thanh toán
Bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng ngắn hạn của TCTD Khác với các hình
thức cấp tín dụng truyền thống khác như cho vay, bảo lãnh thì thời hạn do các bên được thỏa thuận, có thể là ngắn hạn, trung hạn, hoặc dài hạn theo quy định của pháp luật Thì bao thanh toán chỉ được chấp nhận trong thời hạn quy định Và theo pháp luật Việt Nam
“thời hạn bao thanh toán không vượt quá 60 ngày đối với bao thanh toán trong nước hoặc
120 ngày đối với bao thanh toán quốc tế” [4]
3 Khoản 17 Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2010
4 Khoản 1 Điều 15, Thông tư 02/2017/TT- NHNN Thông tư quy định về hoạt động bao thanh toán của tổ chức tín dụng chi nhánh ngân hàng nước ngoài
3
Trang 7Bao thanh toán sẽ bao gồm 3 bên chủ thể trong quan hệ bao thanh toán Bao gồm: (1)
Đơn vị bao thanh toán: ngân hàng, tổ chức tín dụng, … (2) người bán là người bán lại quyền đòi nợ; (3) người mua: người có nghĩa vụ phải trả nợ
Bao thanh toán dựa trên quan hệ về mua bán quyền tài sản là quyền đòi nợ Đặc điểm
này xuất phát từ chính bản chất cũng như thực tiễn hoạt động bao thanh toán Bao thanh toán, hiểu một cách đơn giản là việc doanh nghiệp bán lại quyền đòi nợ cho tổ chức tín dụng
Để lấy một ví dụ chúng ta sẽ hiểu được đặc điểm này: Một doanh nghiệp A bán sản phẩm của mình là bánh kẹo, kí hợp đồng với bên mua là B một số lượng bánh kẹo nhất định với giá trị là 1 tỷ đồng Nhưng trong hợp đồng hai bên thỏa thuận, bên mua hàng B đưa ra điều kiện là 60 ngày sau mới thanh toán được số tiền vốn này Để có nguồn vốn xoay vòng cho hoạt động đầu tư và sản xuất của mình, thì doanh nghiệp A tìm đến TCTD
C được phép thực hiện dịch vụ bao thanh toán Doanh nghiệp A sẽ được nhận về khoản tiền ứng trước của TCTD C dựa theo hợp đồng mua bán hàng hóa giữa doanh nghiệp A
và người mua hàng B (trừ đi khoản chi phí và lãi mà người bán phải chịu khi thực hiện
bao thanh toán) Khi đó, doanh nghiệp A sẽ không được đòi hay nhận lại số tiền vốn
trong hợp đồng mua bán, mà thay vào đó, bên C là TCTD sẽ có quyền này
I.3 Phân loại phương thức bao thanh toán theo Pháp luật Việt Nam.
Căn cứ quy định Điều 7, Thông tư số 02/2017/TT- NHNN quy định về hoạt động bao thanh toán của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
(1) Bao thanh toán từng lần: Mỗi lần bao thanh toán, đơn vị bao thanh toán và khách hàng
thực hiện thủ tục bao thanh toán và ký kết hợp đồng bao thanh toán
(2) Bao thanh toán theo hạn mức: Đơn vị bao thanh toán xác định và thỏa thuận với khách
hàng một mức nợ bao thanh toán tối đa được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định
và việc sử dụng hạn mức này Mỗi năm ít nhất một lần, đơn vị bao thanh toán xem xét xác định lại hạn mức và thời gian duy trì hạn mức này
4
Trang 8(3) Bao thanh toán hợp vốn: Hai hay nhiều đơn vị bao thanh toán cùng thực hiện bao thanh
toán đối với một hoặc một số khoản phải thu hoặc khoản phải trả của khách hàng, trong
đó một đơn vị bao thanh toán làm đầu mối thực hiện việc tổ chức bao thanh toán hợp vốn
Chương 2 PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN CỦA TỔ CHỨC
TÍN DỤNG TẠI VIỆT NAM.
2.1 Các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động bao thanh toán tại Việt Nam hiện nay
Bao thanh toán tại Việt Nam được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật như:
Quyết định số 1096/2004/QĐ- NHNN vê quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ
chức tín dụng
Quyết định số 30/2008/QĐ- NHNN của Thống đốc ngân hàng nhà nước về sửa đổi, bổ
sung một số điều của Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng
Luật số 47/2010/QH12 Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam 2010.
Thông tư số 02/2017/TT- NHNN quy định về hoạt động bao thanh toán của tổ chức tín
dụng, chinh nhánh ngân hàng nước ngoài
Hiện nay, việc áp dụng pháp luật điều chỉnh hoạt động bao thanh toán chủ yếu dựa trên Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2010; và Thông tư 02/2017/TT- NHNN điều chỉnh và quy định chi tiết hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng và chi nhánh của ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam
2.2 Chủ thể của quan hệ bao thanh toán
Trong quan hệ bao thanh toán, chúng ta luôn thấy được sự xuất hiện của ba chủ thể trong quan hệ này Đó chính là bên mua hàng, bên bán hàng và đơn vị bao thanh toán
Cần phải khẳng định một điều rằng, không phải tổ chức tín dụng nào cũng được phép mở dịch vụ bao thanh toán và hoạt động bao thanh toán Qua việc tổng hợp các quy
5
Trang 9định trong Luật các tổ chức tín dụng 2010, và Thông tư 02/2017/TT- NHNN sinh viên tổng hợp được các tổ chức tín dụng sau được phép thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán
- Ngân hàng thương mại (điểm đ, khoản 2 Điều 98)
- Công ty tài chính (điểm g, khoản 1 Điều 108)
- Chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép hoạt động bao thanh toán [5]
Như vậy, bao gồm 3 hình thức tổ chức tín dụng được phép hoạt động nghiệp vụ bao thanh toán Còn các hình thức tổ chức tín dụng khác như Công ty cho thuê tài chính,
tổ chức Tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân thì không được phép thực hiện nghiệp
vụ này Tại sao các hình thức tổ chức tín dụng còn lại lại không được phép thực hiện nghiệp vụ này thì cũng bởi căn cứ vào những đặc điểm, cũng như tính chất của các hình thức này Nhưng với phạm vi nghiên cứu của đề tài này thì sinh viên sẽ không phân tích ở đây Nếu có cơ hội nghiên cứu thì sinh viên sẽ trình bày ở một đề tài khác
2.2.2 Bên bán hàng – khách hàng sử dụng bao thanh toán của TCTD
Bên bán hàng đối với quan hệ bao thanh toán được pháp luật xác định như sau: Bên bán hàng bao gồm người cư trú và người không cư trú Với 2 nhóm người này pháp luật
về bao thanh toán lại có các quy định cụ thể riêng nhằm đáp ứng các điều kiện, khi đáp ứng đủ các điều kiện thì sẽ được tổ chức tín dụng chấp nhận cho sử dụng dịch vụ bao thanh toán [6]
Và theo Khoản 1, Điều 3 Thông tư 02/2017/TT- NHNN thì “Bên bán hàng (bao
gồm cả bên xuất khẩu) là bên bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và có quyền lợi hợp pháp
đối với các khoản phải thu theo thỏa thuận tại hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ”
2.2.3 Bên mua hàng (đối tượng nợ của tổ chức tín dụng bao thanh toán)
“Bên mua hàng (bao gồm cả bên nhập khẩu) là bên mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ và có
khoản phải trả theo thỏa thuận tại hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ”
5 Xem Thông tư 02/2017/TT- NHNN quy định về hoạt động bao thanh toán của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
6 Điều 11, Thông tư 02/2017/TT- NHNN.
6
Trang 10Như vậy, có thể khẳng định rằng, hoạt động bao thanh toán chỉ có thể được áp dụng khi tồn tại một hợp đồng mua bán hàng hóa giữa hai bên chủ thể Trong đó, việc xác lập nghĩa vụ trả tiền theo số lượng hàng hóa mà bên mua hàng đã mua được xác lập bằng việc trả sau trong một khoảng thời gian nhất định Thì từ đó sẽ làm phát sinh ra hợp đồng bao thanh toán giữa bên bán hàng và đơn vị bao thanh toán
2.3 Hợp đồng bao thanh toán
Để được xác lập hợp đồng bao thanh toán, khách hàng muốn sử dụng dịch vụ bao thanh toán trước tiên phải đáp ứng được các điều kiện cơ bản, cũng như điều kiện về chủ thể của quan hệ bao thanh toán như: năng lực pháp luật, năng lực hành vi, … và gửi hồ sơ
đề nghị bao thanh toán đến tổ chức tín dụng Việc gửi hồ sơ trước khi thực hiện hợp đồng thanh toán nhằm mục đích để bên bao thanh toán thực hiện việc xác minh về các điều kiện của khách hàng, việc xác minh này là rất quan trọng bởi nếu không được xác minh một cách cụ thể và chính xác, thì tổ chức tín dụng thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán có khả năng sẽ phải chịu những rủi ro rất cao bởi thực tiễn các khách hàng có thể khai các hợp đồng khống, không có thật Chính thì thế, việc xác minh các điều kiện của khách hàng đã trở thành một bước không thể thiếu trong việc xác lập hợp đồng bao thanh toán
Điều 14, Thông tư 02/2017/TT- NHNN quy định về hợp đồng bao thanh toán Trong các quy định của Điều này, chúng ta sẽ thấy được trong hợp đồng cần thể hiện những điểm cơ bản sau:
Về hình thức của hợp đồng, các hợp đồng thương mại, dân sự nói chung có thể
được xác lập bằng văn bản hoặc bằng lời nói hoặc bằng hình thức khác theo quy định của pháp luật Nhưng đối với dịch vụ bao thanh toán thì hợp đồng phải được xác lập bằng văn bản Từ “phải” đã thể hiện một sự chặt chẽ trong việc xác lập hợp đồng bao thanh toán Điều này cũng là hợp lý bởi để đảm bảo những rủi ro sảy đến đối với tổ chức tín dụng
Về nội dung của hợp đồng, Trong hợp đồng bao thanh toán cần thể hiện được các
nội dung tối thiểu theo quy định của Khoản 1, Điều 14 Thông tư 02/2017/TT- NHNN Với yêu cầu về mặt hình thức của tiểu luận nên sinh viên không thể trích dẫn tất cả các
7