1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận một số vấn đề pháp lý trong thành lập tổ chức tín dụng việt nam

12 75 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 57,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở các định nghĩa nêu trên và định nghĩa tại Khoản 1 Điều 4, các quy định của Luật các Tổ chức tín dụng 2010, có thể rút ra các đặc điểm cơ bản của tổ chức tín dụng: - Tổ chức tí

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

-o0o -TIỂU LUẬN CUỐI KÌ MÔN: LUẬT NGÂN HÀNG

Đề tài: MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ TRONG THÀNH LẬP

TỔ CHỨC TÍN DỤNG TẠI VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện:

Ngày sinh:

Giảng viên hướng dẫn:

Mã số sinh viên:

Lớp: – Luật học

Hà Nội, tháng 11 năm 2021

Trang 2

MỞ ĐẦU Nhằm đảm bảo trong hoạt động của các Tổ chức tín dụng hiện nay và qua đó

là sự an toàn của cả hệ thống các hoạt động ngân hàng, Luật các Tổ chức tín dụng

2010, sửa đổi bổ sung 2017 đã có những quy định riêng về hoạt động thành lập các

Tổ chức tín dụng Bởi lẽ, các Tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp đặc biệt, cần được điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật chuyên ngành, cơ chế tạo lập Tổ chức tín dụng cũng không giống như đối với các loại hình doanh nghiệp kinh doanh

ở các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Việc thành lập các Tổ chức tín dụng được thực hiện với trình tự khắt khe nhằm đảm bảo sự quản lý chặt chẽ của nhà nước đối với sự ra đời, hoạt động của Tổ chức tín dụng Dưới phạm vi là bài tiểu luận cuối kì, người viết đi vào phân tích một số vấn đề pháp lý của hoạt động thành lập Tổ chức tín dụng tại Việt Nam hiện nay

NỘI DUNG Chương 1: Cơ sở lý luận

1.1 Khái niệm tổ chức tín dụng

Khái niệm tổ chức tín dụng lần đầu tiên được sử dụng ở Việt Nam khi Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính được ban hành 23/05/1990 Trước thời điểm này, không có một khái niệm chung nhất được sử dụng để gọi tất

cả các tổ chức có hoạt động ngân hàng là hoạt động mang tính nghề nghiệp

Mặc dù xuất hiện từ năm 1990 nhưng phải đến năm 1997, khái niệm tổ chức tín dụng mới chính thức được làm rõ trong Luật Các tổ chức tín dụng 1997 (Khoản

1, Điều 20) và tiếp tục được hoàn thiện trong Luật các Tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi, bổ sung 2017) hiện nay Tại Khoản 1 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng 2010

(sửa đổi, bổ sung 2017): “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số

hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân” 1

1 Khoản 1 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi, bổ sung 2017)

Trang 3

Có thể thấy, cách giải thích về tổ chức tín dụng như trên chưa thực sự làm rõ được nội hàm của khái niệm này Thể hiện ở chỗ, nếu loại bỏ phần quy định về các loại hình tổ chức tín dụng thì cách hiểu về tổ chức tín dụng chưa thực sự rõ ràng khi

có nội hàm rộng, bao hàm cả tổ chức không phải là tổ chức tín dụng như công ty bảo hiểm, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ cầm đồ…(Các doanh nghiệp này cũng thực hiện hoạt động ngân hàng, các hoạt động này được quy định tại Khoản 2, Điều 14 Luật các tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi bổ sung 2017)

Trên cơ sở các định nghĩa nêu trên và định nghĩa tại Khoản 1 Điều 4, các quy định của Luật các Tổ chức tín dụng 2010, có thể rút ra các đặc điểm cơ bản của tổ chức tín dụng:

- Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của Pháp luật về Ngân hàng và quy định khác của Pháp luật có liên quan

- Tổ chức tín dụng là một loại hình doanh nghiệp có đối tượng kinh doanh trực tiếp là tiền tệ

- Hoạt động kinh doanh chủ yếu và thường xuyên mang tính nghề nghiệp của tổ chức tín dụng là hoạt động ngân hàng,

- Tổ chức tín dụng chịu sự quản lý Nhà nước trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước

- Dạng tồn tại của tổ chức tín dụng trong thực tế buộc phải ở một trong bốn loại sau: Ngân hàng, tổ chức tín dụng phi Ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô hoặc quỹ tín dụng nhân dân

- Về hình thức pháp lý: Do là doanh nghiệp nên tổ chức tín dụng buộc phải tồn tải dưới một trong các hình thức pháp lý được quy định bởi pháp luật về doanh nghiệp Tuy nhiên, do những đặc thù của lĩnh vực kinh doanh, hình thức pháp

lý của tổ chức tín dụng chỉ có thể là Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần hoặc Hợp tác xã, sẽ không có tổ chức tín dụng tồn tại dưới hình thức pháp lý là doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh

1.2 Phân loại tổ chức tín dụng

Trang 4

Căn cứ vào phạm vi thực hiện nghiệp vụ kinh doanh, tổ chức tín dụng được chia thành bốn loại:

- Tổ chức tín dụng là Ngân hàng

- Tổ chức tín dụng phi Ngân hàng

- Tổ chức tài chính vi mô

- Quỹ tín dụng nhân dân

Căn cứ vào hình thức pháp lý, theo quy định tại Điều 6 Luật các Tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi bổ sung 2017 thì các tổ chức tín dụng ở Việt Nam tồn tại dưới các hình thức pháp lý sau đây:

- Tổ chức tín dụng được tổ chức dưới hình thức pháp lý là công ty cổ phần

- Tổ chức tín dụng được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, bao gồm: Công ty THHH một thành viên và Công ty TNHH hai thành viên trở lên

- Tổ chức tín dụng được thành lập và tổ chức dưới hình thức pháp lý là hợp tác xã

Căn cứ vào hình thức sở hữu đối với vốn điều lệ của tổ chức tín dụng, TCTD được chia thành bốn loại sau:

- TCTD Nhà nước là loại hình TCTD mà ở đó Nhà nước sở hữu một tỷ lệ vốn điều lệ nhất định Tỷ lệ này do pháp luật quy định trong từng thời kì

- TCTD có vốn đầu tư của các thành phần kinh tế trong nước

- TCTD có vốn đầu tư nước ngoài

- TCTD thuộc thành phần kinh tế tập thể

1.3 Thành lập tổ chức tín dụng

Tổ chức tín dụng tuy là loại hình doanh nghiệp nhưng cơ chế tạo lập một tổ chức tín dụng không giống như đối với các doanh nghiệp kinh doanh khác Theo quy định của pháp luật về ngân hàng, việc thành lập TCTD phải được thực hiện theo một trình tự khắt khe khe hơn nhằm đảm bảo sự quản lý nhà nước chặt chẽ hơn đối với sự ra đời của mỗi TCTD Việc ban hành quy trình này nhằm đảm bảo mỗi

Trang 5

TCTD khi ra đời đều có thể tồn tại và hoạt động hiệu quả, góp phần đảm bảo sự an toàn của hệ thống các TCTD, đảm bảo sự ổn định của xã hội

Thông qua các quy định của pháp luật về ngân hàng hiện hành, việc thành lập TCTD ở Việt Nam hiện nay trải qua hai gia đoạn:

(i) Nhận được giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng do cơ quan nhà

nước có thẩm quyền cấp

(ii) Thực hiện thủ tuc đăng ký doanh nghiệp như đòi hỏi của pháp luật về

doanh nghiệp

Hiện nay, Luật các Tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi bổ sung 2017 không quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thành lập TCTD mà trao cho Ngân hàng Nhà nước quy định về vấn đề này đối với từng loại hình TCTD cụ thể Có thể thấy, không một quy trình thành lập TCTD chung chung mà sẽ chỉ có quy trình thành lập từng loại hình TCTD cụ thể như: thành lập ngân hàng, thành lập công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính, thành lập ngân hàng hợp tác xã, thành lập tổ chức tổ chức vi mô

và thành lập quỹ tín dụng nhân dân

Chương 2: Cơ sở thực tiễn

2.1 Thẩm quyền cấp giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức tín dụng

Hiện nay, thẩm quyền cấp, thu hồi Giấy phép hoạt động của các tổ chức tín dụng được quy định tại Điều 18 Luật các tổ chức tín dụng 2010 với nội dung như sau: “Ngân hàng Nhà nước có thẩm quyền cấp, sửa đổi, bổ sung và thu hồi Giấy phép theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng 2010”.2 Cụ thể:

- Thống đống ngân hàng nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép cho các tổ chức tín dụng là ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng và tổ chức tín dụng vi mô

- Giám đốc ngân hàng nhà nước tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có thẩm quyền cấp giấy phép cho việc thành lập Quỹ tín dụng nhân dân

2 Điều 18, Luật các Tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi, bổ sung 2017).

Trang 6

Như vậy, ngân hàng nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép đối với tất cả các loại hình TCTD chứ không chỉ đối với một loại TCTD cụ thể nào

2.2 Điều kiện để được cấp giấy phép đối với tổ chức tín dụng

Để có thể được cấp giấy phép, các TCTD phải có đủ những điều kiện cụ thể theo quy định của pháp luật Mỗi loại hình TCTD có những điều kiện khác nhau dựa trên các điều kiện chung được quy định tại Điều 20, Luật các TCTD 2010 (sửa đổi,

bổ sung 2017)

Thứ nhất, về vốn pháp định của TCTD: Một trong các điều kiện đầu tiên mà các TCTD phải đáp ứng để được cấp phép là phải có mức vốn điều lệ không thấp hơn mức vốn pháp định Mức vốn pháp định của các TCTD được quy định tại Nghị định 86/2019/NĐ-CP, cụ thể như sau:

- Ngân hàng thương mại là 3.000 tỷ đồng;

- Ngân hàng chính sách là 5.000 tỷ đồng;

- Ngân hàng hợp tác xã là 3.000 tỷ đồng;

- Chi nhánh ngân hàng nước ngoài là 15 triệu đô la Mỹ (USD);

- Công ty tài chính là 500 tỷ đồng

Ngoài ra, mức vốn này của Công ty cho thuê tài chính là 150 tỷ đồng; Tổ chức tài chính vi mô là 5 tỷ đồng; Quỹ tín dụng nhân dân hoạt động trên địa bàn một xã, một thị trấn là 0,5 tỷ đồng; Quỹ tín dụng nhân dân hoạt động trên địa bàn một phường và quỹ tín dụng nhân dân hoạt động trên địa bàn liên xã, liên xã phường, liên phường là 1 tỷ đồng.3

Thứ hai, về tỷ lệ sở hữu vốn của nhà đầu tư tại TCTD: Nhằm tránh hiện tượng TCTD bị chi phối bởi một hay một vài nhà đầu tư qua đó ảnh hưởng đến sự an toàn của TCTD, pháp luật ngân hàng Việt Nam có những quy định giới hạn tỷ lệ sở hữu vốn của nhà đầu tư tại TCTD, cụ thể như sau:

 Đối với TCTD là công ty cổ phần:

3 Nghị định 86/2019/NĐ-CP, quy định mức vốn pháp định của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Trang 7

- Một cổ đông là cá nhân không được sở hữu vượt quá 5% vốn điều lệ của một TCTD

- Một cổ đông là tổ chức không được sở hữu vượt quá 15% vốn điều lệ của một TCTD, trừ các trường hợp: Cổ đông và người có liên quan của cổ đông đó không được sở hữu vượt quá 20% vốn điều lệ của một TCTD

 Đối với TCTD là công ty TNHH:

- Thành viên góp vốn của TCTD là công ty TNHH hai thành viên trở lên phải là pháp nhân, trừ trường hợp quy định tại Điều 88 Luật các TCTD 2010, sửa đổi

bổ sung 2017 Tổng số thành viên không được vượt quá 5 thành viên Tỷ lệ sở hữu tối đa của một thành viên và người có liên quan không được vượt quá 50% vốn điều lệ của TCTD

2.3 Thủ tục thành lập tổ chức tín dụng

Xuất phát từ lĩnh vực hoạt động của TCTD, các TCTD được thành lập ra để thực hiện hoạt động ngân hàng vì vậy thủ tục thành lập TCTD có những điểm đặc thù so với thủ tục thành lập một doanh nghiệp thông thường Việc kiểm soát các điều kiện thành lập và thủ tục thành lập đối với các TCTD là điều cần thiết Việc thành lập một TCTD cần trải qua nhiều công đoạn với các quy định chặt chẽ

TCTD muốn được cấp giấy phép thành lập và hoạt động thì phải gửi hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động đến NHNN Việt Nam Lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép, hồ sơ bao gồm những giấy tờ, tài liệu sau:

- Đơn xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động

- Dự thảo điều lệ

- Phương án hoạt động 3 năm đầu, trong đó nêu rõ hiệu quả và lợi ích kinh tế của hoạt động ngân hàng

- Danh sách, lý lịch, văn bằng chứng minh năng lực, trình độ chuyên môn của thành viên sáng lập, thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Tổng giám đốc (Giám đốc)

Trang 8

- Mức vốn góp, phương án góp vốn và danh sách những cá nhân, tổ chức góp vốn

- Tình hình tài chính và những thông tin liên quan khác về các cổ đông lớn

- Chấp thuận của UBND cấp có thẩm quyền về nơi đặt trụ sở của TCTD

Đối với TCTD có vốn nước ngoài: Theo Điều 108 Luật Các Tổ chức tín dụng quy định các loại giấy tờ cần thiết trong hồ sơ xin cấp giấy phép Tổ chức tín dụng

có vốn nước ngòai Trong đó có các giấy tờ yêu cầu chung đối với các Tổ chức tín dụng Việt Nam và các giấy tờ riêng biệt đòi hỏi chỉ loại hình Tổ chức tín dụng nước ngoài, ví dụ : điều lệ của tổ chức tín dụng nước ngoài; Hợp đồng liên doanh đối với tổ chức tín dụng liên doanh, bảng cân đối tài chính lỗ lãi đã được kiểm toán trong ba năm gần nhất của tổ chức tín dụng nước ngoài

Trong thời hạn 180 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ, Ngân hàng nhà nước phải nghiên cứu, thẩm tra, đối chiếu với những điều kiện đã quy định để cấp giấy phép hoặc từ chối cấp giấy phép cho những tổ chức có yêu cầu

Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Ngân hàng nhà nước cấp giấy phép hoặc từ chối cấp giấy phép cho văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng Trường hợp từ chối cấp giấy phép, Ngân hàng nhà nước phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lí do

Tổ chức được cấp giấy phép phải nộp một khoản lệ phí cấp giấy phép theo quy định, phải sử dụng đúng tên và hoạt động đúng nội dung ghi trong giấy phép, không được tẩy xoá, mua, bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho mượn giấy phép

Sau khi được cấp giấy phép, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải đăng kí kinh doanh; văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài,

tổ chức nước ngoài khác cỏ hoạt động ngân hàng phải đăng kí hoạt động theo quy định của pháp luật

2.4 Công bố thông tin

Điều 25, Luật các TCTD 2010, sửa đổi, bổ sung 2017 quy định:

Trang 9

Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng phải công bố trên phương tiện thông tin của Ngân hàng Nhà nước và trên một tờ báo viết hằng ngày trong 03 số liên tiếp hoặc báo điện tử của Việt Nam ít nhất 30 ngày trước ngày dự kiến khai trương hoạt động các thông tin sau đây:

- Tên, địa chỉ trụ sở chính của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng;

- Số, ngày cấp Giấy phép, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động và các hoạt động kinh doanh được phép thực hiện;

- Vốn điều lệ hoặc vốn được cấp;

- Người đại diện theo pháp luật của tổ chức tín dụng, Tổng giám đốc (Giám đốc) chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Trưởng văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài, tổ chức nước ngoài khác có hoạt động ngân hàng;

- Danh sách, tỷ lệ góp vốn tương ứng của cổ đông sáng lập hoặc thành viên góp vốn hoặc chủ sở hữu của tổ chức tín dụng;

- Ngày dự kiến khai trương hoạt động.4

2.5 Khai trương hoạt động

Thông thường, các doanh nghiệp có thể thực hiện hoạt động kinh doanh ngay khi nhận được giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp Tuy nhiên, các TCTD khi được cấp Giấy phép chỉ được tiến hành hoạt động kể từ ngày khai trương hoạt động, quy định cụ thể tại Điều 26, Luật các TCTD 2010, sửa đổi bổ sung 2017 Như vậy, kha trương hoạt động cũng được coi là một hoạt động mang tính thủ tục luật định để các TCTD chính thức có thể tiến hành được các hoạt động kinh doanh của mình

Để có thể tiến hành khai trương hoạt động, TCTD mới thành lập phải chuẩn bị các điều kiện cần thiết và chỉ khi áp dụng được đầy đủ các điều kiện quy định tại Khoản 2, Điều 26 Luật các TCTD 2010, sửa đổi bổ sung 2017 thì mới được phép

4 Điều 25, Luật các TCTD 2010, sửa đổi, bổ sung 2017

Trang 10

khai trương hoạt động Có thể thấy, mục đích của quy định này nhằm đảm bảo những nội dung khai báo trong hồ sơ đề nghị cấp phép là có thật và đã được triển khai trên thực tế, góp phần đảm bảo sự vận hành bình thường của chủ thể này Các điều kiện để khai trương hoạt động bao gồm:

- Đã đăng ký Điều lệ tại Ngân hàng Nhà nước;

- Có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, có đủ vốn điều lệ, vốn được cấp, có kho tiền đủ điều kiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, có trụ sở đủ điều kiện bảo đảm an toàn tài sản và phù hợp với yêu cầu hoạt động ngân hàng;

- Có cơ cấu tổ chức, bộ máy quản trị, điều hành, kiểm toán nội bộ, quản lý rủi

ro, hệ thống kiểm soát nội bộ phù hợp với loại hình hoạt động theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan;

- Có hệ thống công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu quản lý, quy mô hoạt động;

- Có quy chế quản lý nội bộ về tổ chức, hoạt động của Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), các phòng, ban chuyên môn nghiệp vụ tại trụ sở chính; quy chế nội bộ về quản lý rủi ro; quy chế về quản lý mạng lưới;

- Vốn điều lệ, vốn được cấp bằng đồng Việt Nam phải được gửi đầy đủ vào tài khoản phong tỏa không hưởng lãi mở tại Ngân hàng Nhà nước ít nhất 30 ngày trước ngày khai trương hoạt động Vốn điều lệ, vốn được cấp được giải tỏa khi

tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đã khai trương hoạt động

- Đã công bố thông tin hoạt động theo quy định tại Điều 25 của Luật các TCTD

2010.5

Bên cạnh đó, ít nhất trước khi khai trương hoạt động 15 ngày thì TCTD phải thông báo cho NHNN biết về các điều kiện khai trương hoạt động Trong trường hợp một số điều kiện không được thỏa mãn, việc khai trương hoạt động sẽ bị đình chỉ bởi NHNN

5 Khoản 2 Điều 26 Luật các TCTD 2010, sửa đổi bổ sung 2017.

Ngày đăng: 08/11/2021, 20:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w