Tuy nhiên, trong thực tế, pháp luật về hoạt động quản lý ngoại hối còn tồn tại nhiều bất cập, chưa phù hợp với tình hình thực tế, công tác triển khai hoạt động quản lý ngoại hối còn chưa
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
————————
Tiểu luận cuối kỳ
Học phần: Luật ngân hàng
Mã học phần: BSL1005 (2 tín chỉ) Giảng viên: TS Nguyễn Vinh Hưng
Đề tài
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUẢN LÝ NGOẠI HỐI
Sinh viên thực hiện:
Họ và tên:
Ngày sinh:
MSSV:
Lớp: VB – LH
Hà Nội – 11/2021
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGOẠI HỐI 2
1.1 Khái niệm ngoại hối 3
1.2 Hoạt động ngoại hối và thị trường ngoại hối 4
1.3 Khái niệm pháp luật về ngoại hối 5
CHƯƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ NGOẠI HỐI 7
2.1 Quản lý Nhà nước về ngoại hối và đối tượng chịu sự quản lý Nhà nước về ngoại hối 7 2.2 Mở tài khoản, sử dụng ngoại tệ 8
2.3 Giao dịch vãng lai, giao dịch vốn 9
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ NGOẠI HỐI 11
3.1 Thực trạng của quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về ngoại hối 11
3.2 Đề xuất giải pháp, phương hướng hoàn thiện các quy định Việt Nam hiện hành về ngoại hối 13
PHẦN KẾT LUẬN 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
1
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh nền kinh tế mở cửa, thông thương quốc tế phát triển, đặc biệt là từ sau khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) thì nhu cầu ngoại thương và cơ chế thu hút vốn đầu từ nước ngoài vào Việt Nam dẫn đến nhu cầu huy động nguồn ngoại tệ ngày càng tăng Pháp luật Việt Nam đã kịp thời đưa ra những quy định về quản lý ngoại hối, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho Ngân hàng Nhà nước cũng như các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp thuận lợi tham gia vào các hoạt động thương mại quốc tế Tuy nhiên, trong thực tế, pháp luật về hoạt động quản lý ngoại hối còn tồn tại nhiều bất cập, chưa phù hợp với tình hình thực tế, công tác triển khai hoạt động quản lý ngoại hối còn chưa thực sự hiệu quả; chưa thống nhất đồng bộ hệ thống văn bản quản lý ngoại tệ, gây khó khăn cho công tác quản lý của Ngân hàng Nhà nước và hoạt động ngoại hối của các bên giao dịch Cùng xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý về quản lý ngoại hối là một yêu cầu cấp thiết
Mục đích nghiên cứu pháp luật về quản lý ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhằm xây dựng quan điểm lý luận về ngoại hối, chính sách quản lý ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước, từ đó có thể đánh giá được ưu, nhược điểm của pháp luật Việt Nam hiện hành quy định về vấn đề này Thông qua đó, có thể đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam, đảm bảo phát triển kinh tế ngoại thương và ổn định thị trường ngoại hối
Bài tiểu luận đi sâu, nghiên cứu các vấn đề lý luận chung, pháp luật và thực trạng pháp luật về hoạt động quản lý ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nội dung chính của bài tiểu luận gồm 3 phần:
- Chương 1: Tổng quan về ngoại hối
- Chương 2: Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về quản lý ngoại hối
- Chương 3: Thực trạng và phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về quản lý ngoại hối
2
Trang 4CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGOẠI HỐI 1.1 Khái niệm ngoại hối
Ngoại hối (foreign exchange) là một trong những thuật ngữ được sử dụng chỉ các phương tiện được dùng trong giao dịch quốc tế Ngày nay, pháp luật các quốc gia thường không đưa ra một định nghĩa có tính tổng quát về ngoại hối Tuy nhiên, các quốc gia đều thừa nhận các loại tài sản, quyền tài sản được cộng đồng quốc tế chấp nhận làm phương tiện thanh toán quốc tế là ngoại hối
Ngoại hối có những dấu hiệu sau: Tài sản, quyền tài sản có thể định giá và chuyển đổi thành tiền nước ngoài; về công dụng, tài sản, quyền tài sản có giá trị bằng tiền nước ngoài có thể dùng làm phương tiện thanh toán quốc tế mới được xem là ngoại hối.1
Ở Việt Nam, theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, ngoại hối bao gồm:
a) Đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực (sau đây gọi là ngoại tệ);
b) Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ, gồm séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và các phương tiện thanh toán khác;
c) Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty,
kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác;
d) Vàng thuộc Dự trữ ngoại hối nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú; vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam;
đ) Đồng tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp
chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanh toán quốc tế.2
1 TS Lê Thị Thu Thuỷ, Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2005, tr 307, 308.
2 Khoản 2, Điều 6, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010.
3
Trang 51.2 Hoạt động ngoại hối và thị trường ngoại hối
Dưới góc độ khoa học pháp lý, hoạt động ngoại hối là tổng hợp các hành vi pháp lý
do các chủ thể khác nhau thực hiện trong quá trình chiếm hữu sử dụng và định đoạt các tài sản được coi là ngoại hối.3 Các hành vi này có thể là hành vi pháp lý hoặc hành vi thương mại phụ thuộc vào việc sử dụng chúng vì nhu cầu dân sự hay thương mại Như vậy, hoạt động mua bán, chuyển đổi, chuyển nhượng ngoại hối gọi là hoạt động ngoại hối Trên thực tế, hoạt động ngoại hối phổ biến được thực hiện thông qua các hình thức như đầu tư, tín dụng, bảo lãnh, mua bán
Theo Pháp lệnh ngoại hối 2005: “Hoạt động ngoại hối là hoạt động của người cư trú, người không cư trú trong giao dịch vãng lai, giao dịch vốn, sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam, hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối và các giao dịch khác liên quan đến ngoại hối.”4 Hoạt động ngoại hối có đối tượng chính là các ngoại hối đã được pháp luật Việt Nam quy định, cho phép lưu thông và các dịch vụ ngoại hối Nội dung của hoạt động ngoại hối bao gồm các giao dịch vãng lai, giao dịch vốn, các hành vi sử dụng ngoại hối hay cung ứng dịch vụ về ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam
Một trong những thị trường lớn nhất thế giới là thị trường ngoại hối, đó là một điểm đến của rất nhiều nhà đầu tư Hiện nay, sự phát triển thị trường ngoại hối diễn ra rất nhanh chóng và mở rộng, góp phần tạo cơ hội cho người tham gia trong mọi thời điểm giao dịch Đây là một thị trường giao dịch sôi động với giá trị giao dịch hằng ngày lên đến hơn 4 nghìn tỷ USD.5 Hoạt động ngoại hối của tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế hình thành nên thị trường ngoại hối Thị trường ngoại hối ở các nước thường gồm hai bộ phận hợp thành, đó là Thị trường ngoại hối tập trung và thị trường ngoại hối phi tập trung.6
Hầu hết các nước trên thế giới đều có đồng tiền riêng của mình Các nước có áp dụng đồng tiền khu vực cũng được hiểu tương tự Giao lưu kinh tế giữa các nước hoặc vùng lãnh thổ dẫn đến việc trao đổi các đồng tiền khác nhau Việc mua bán tiền và tiền gửi ghi bằng những đồng tiền riêng biệt hình thành thị trường ngoại hối Thị trường ngoại hối là
3 TS Võ Đình Toàn (Chủ biên), Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam, Nxb CAND, Hà Nội, 2017, tr 379.
4 Khoản 8 Điều 4 Pháp lệnh ngoại hối 2005.
5 luatduonggta.vn/quy định của pháp luật Việt Nam về ngoại hối.
6 TS Lê Thị Thu Thuỷ, Giáo trình Luật Ngân hàng Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2005, tr 309.
4
Trang 6nơi diễn ra việc mua, bán các đồng tiền khác nhau Trong thực tế, do hoạt động mua bán tiền tệ xảy ra chủ yếu giữa các ngân hàng (85% tổng doanh số giao dịch), nên theo nghĩa hẹp, thị trường ngoại hối là nơi mua bán ngoại tệ giữa các ngân hàng, tức thị trường Interbank
Thị trường ngoại hối có các đặc trưng cơ bản sau đây: Thị trường ngoại hối hoạt động liên tục suốt 24/24 trên phạm vi toàn cầu; Thị trường ngoại hối là thị trường giao dịch mang tính chất quốc tế; Đối tượng chủ yếu được mua bán trên thị trường ngoại hối là các khoản tiền gửi ghi bằng ngoại tệ tại các ngân hàng, ngoại tệ hiện hữu và các loại tài sản khác có thể chuyển đổi thành ngoại tệ mạnh; Thị trường ngoại hối ở một quốc gia bao giờ cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước và quốc tế
Theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, Ngân hàng nhà nước Việt Nam tham gia vào hoạt động ngoại hối trên thị trường Ở nước ta, Nhà nước thực hiện kiểm soát hoạt động ngoại hối trên thị trường thông qua cơ quan chức năng của Chính phủ là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về ngoại hối trong nước và quốc tế với hai tư cách: Là người tổ chức, quản lý, điều hành thị trường ngoại hối trong nước; là người trực tiếp tham gia giao dịch mua, bán ngoại hối trên thị trường trong nước và quốc tế nhằm thực thi chính sách tiền tệ quốc gia
1.3 Khái niệm pháp luật về ngoại hối
Các cơ quan quản lý nhà nước về ngoại hối bao gồm: Chính phủ, Ngân hàng nhà nước Việt Nam, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh Các cơ quan sẽ quản lý các hoạt động ngoại hối thông qua các hình thức: Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối: do Ngân hàng Nhà nước ban hành; Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật
về ngoại hối: do Ngân hàng Nhà nước đảm nhiệm nhiệm vụ quản lý nhà nước về tiền tệ; Cấp, thu hồi giấy phép hoạt động ngoại hối; Hoạt động quản lý ngoại hối khác: điều chỉnh
tỷ giá, chính sách…
Để điều chỉnh những mặt hạn chế và phát huy những thành tựu của các hoạt động ngoại hối, Nhà nước đã ban hành những quy định pháp luật về ngoại hối Những quy định 5
Trang 7về ngoại hối được quy định trong các văn bản pháp luật như Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật các tổ chức tín dụng, các Thông tư,Nghị định liên quan… Các quy phạm pháp luật được Nhà nước ban hành để quy định chế độ quản lý nhà nước về ngoại hối và hoạt động ngoại hối của các tổ chức, cá nhân Việt nam trên lãnh thổ Việt Nam và ở nước ngoài, của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam
Do ngoại hối là phương tiện thanh toán quốc tế nên thị trường ngoại hối cũng mang tính quốc tế Nội dung pháp luật về ngoại hối tại các nước cũng bị ảnh hưởng để
phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, ví dụ: Nghị định 70/2014/NĐ-CP Quy định chi tiết
thi hành một số điều của Pháp lệnh ngoại hối và pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ngoại hối đã quy định về việc áp dụng pháp luật về ngoại hối, điều ước
quốc tế, pháp luật nước ngoài, tập quán quốc tế Những chuẩn mực chung, những quy tắc được ghi nhận trong Điều ước quốc tế về giao dịch ngoại hối trên cộng động quốc tế cũng
có thể được “nội luật hóa”, như hợp đồng hối đoái giao ngay (scpt transaction) và hợp đồng hối đoái có kỳ hạn (Outright, Sawp) trong Quy chế tổ chức và hoạt động của thị trường ngoại tệ liên ngân hàng Đối với các giao dịch ngoại hối ngoài lãnh thổ quốc gia thì pháp luật của từng quốc gia đóng vai trò không lớn Lúc này, pháp luật quốc tế đóng vai trò là một nguồn luật điều chỉnh các giao dịch ngoại hối
Như vậy, pháp luật về ngoại hối là tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quản lý nhà nước về ngoại hối và trong hoạt động ngoại hối của các chủ thể
6
Trang 8CHƯƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ
NGOẠI HỐI 2.1 Quản lý Nhà nước về ngoại hối, đối tượng chịu sự quản lý Nhà nước về ngoại hối
Quản lý ngoại hối là hệ thống các biện pháp mà Nhà nước sử dụng để kiểm soát các giao dịch bằng ngoại tệ và vàng Nhà nước quản lý, kiểm soát luồng ngoại hối nhập hoặc chuyển ra khỏi đất nước để đảm bảo cán cân thanh toán quốc tế Trong quản lý kinh tế, Nhà nước kiểm soát ngoại hối nhằm thực hiện các chính sách phát triển của quốc gia như khơi thông hoặc hạn chế luồng ngoại hối để điều chỉnh tỷ giá
Nhà nước thực hiện việc quản lý ngoại hối và hoạt động ngoại hối bằng phương thức chủ yếu là sử dụng pháp luật để quy định thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trong quản lý ngoại hối; quy định những hành vi pháp lý cụ thể mà các chủ thể có hoạt động ngoại hối phải thực hiện (với tư cách là nghĩa vụ) hoặc có thể thực hiện (với tư cách là quyền); quy định các chế tài áp dụng đối với người vi phạm pháp luật về ngoại hối
Để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực Quản lý Nhà nước Hệ thống các văn bản hiện hành bao gồm: Pháp lệnh ngoại hối năm 2005; Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối 2013; Nghị định số 70/2014/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối và pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối (thay thế Nghị định số 160/2006/NĐ – CP); Thông tư số 16/2014/TT-NHNN Hướng dẫn sử dụng tài khoản ngoại tệ, tài khoản đồng Việt Nam của NCT, NKCT tại ngân hàng được phép; Thông tư số 21/2014/TT-NHNN Hướng dẫn về phạm vi hoạt động ngoại hối, điều kiện, trình tự, thủ tục chấp thuận hoạt động ngoại hối của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.Và các văn bản pháp luật liên quan khác…
Theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010, Nghị định số
70/2014/NĐ-CP ngày 17/7/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối, Ngân hàng
7
Trang 9Nhà nước là cơ quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về ngoại hối, hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng, cụ thể:
- Quản lý ngoại hối và hoạt động ngoại hối đối với các giao dịch vãng lai, sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam; hoạt động kinh doanh cung ứng dịch vụ ngoại hối và các giao dịch khác liên quan đến ngoại hối; hoạt động ngoại hối khu vực biên giới theo quy định của pháp luật;
- Quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước theo quy định của pháp luật; mua, bán ngoại hối trên thị trường trong nước vì mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia; mua, bán ngoại hối với ngân sách, các tổ chức tín dụng (TCTD) quốc tế và các nguồn khác; mua, bán ngoại hối trên thị trường quốc tế và thực hiện giao dịch ngoại hối khác theo quy định của pháp luật;
- Công bố tỷ giá hối đoái, quyết định chế độ tỷ giá hối đoái, cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái; quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài theo quy định của pháp luật;
- Quản lý hoạt động kinh doanh vàng, xuất nhập khẩu vàng, ngoại hối, phương án sản xuất vàng miếng của NHNN trong từng thời kỳ và các hoạt động khác liên quan đến vàng khi được Chính phủ giao…
Tại điều 2 Văn bản hợp nhất số 07/VBHN-VPQH về Pháp lệnh ngoại hối, đối tượng
quản lý nhà nước về ngoại hối gồm: Tổ chức, cá nhân là người cư trú, người không cư trú
có hoạt động ngoại hối tại Việt Nam và các đối tượng khác có liên quan đến hoạt động ngoại hối Những dấu hiệu thể hiện những đối tượng nêu trên thuộc sự quản lý của Nhà nước về hoạt động ngoại hối là: Tổ chức, cá nhân phải là người cư trú, người không cư trú đúng theo quy định của pháp luật Việt Nam và những chủ thể này tham gia vào hoạt động ngoại hối tại Việt Nam
2.2 Mở tài khoản, sử dụng ngoại tệ
Tài khoản thanh toán ngoại tệ là tài khoản tiền gửi không kỳ hạn tại ngân hàng và không sử dụng đồng tiền Việt Nam, được sử dụng để thực hiện các giao dịch liên quan đến hoạt động tài chính của khách hàng bao gồm gửi tiền, rút tiền, chuyển khoản Đồng 8
Trang 10tiền sử dụng là ngoại tệ bao gồm: USD, EURO, AUD, GBP, CHF… Hiện nay, cá nhân được quyền mở tài khoản ngoại tệ theo quy định tại Khoản 3 Điều 2 Thông tư
16/2014/TT-NHNN và được sử dụng tài khoản ngoại tệ tại ngân hàng được phép để thực hiện các giao dịch thu, chi theo quy định tại Điều 4 đối với cá nhân là người cư trú, Điều
6 Thông tư 16/2014/TT-NHNN đối với cá nhân là người không cư trú
Mở và sử dụng tài khoản ngoại tệ được quy định tại Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một
số điều của Pháp lệnh ngoại hối năm 2013, cụ thể như sau: Người cư trú, người không cư trú được mở tài khoản ngoại tệ tại tổ chức tín dụng được phép Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định việc sử dụng tài khoản ngoại tệ của các đối tượng quy định tại khoản này Người cư trú là tổ chức tín dụng được phép được mở và sử dụng tài khoản ngoại tệ ở nước ngoài để thực hiện các hoạt động ngoại hối ở nước ngoài theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam…7
2.3 Giao dịch vãng lai, giao dịch vốn
Giao dịch vãng lai là giao dịch giữa người cư trú và người không cư trú không vì
mục đích chuyển vốn8 Pháp luật quy định tất cả các giao dịch thanh toán và chuyển tiền đối với giao dịch vãng lai giữa người cư trú và người không cư trú được tự do thực hiện, tuy nhiên không được trái với quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về kiểm soát ngoại hối
Nghị định số 70/2014/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối và pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối (thay thế Nghị định số 160/2006/NĐ-CP) quy định về việc tự do hóa giao dịch vãng lai Tuy nhiên Nghị định này không quy định cụ thể giao dịch vãng lai bao gồm những giao dịch nào Đây có thể xem là một điểm chưa hợp lí của Nghị định số 70/2014/NĐ-CP vì chính điều này sẽ dẫn đến những khó khăn trong việc xác định đâu là giao dịch vãng lai và đâu là giao dịch vốn để từ đó áp dụng pháp luật cho phù hợp và chính xác Có thể nhận thấy mặc
dù Nghị định số 70/2014/NĐ-CP không quy định cụ thể giao dịch vãng lai bao gồm
7 Khoản 14 Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi Pháp lệnh ngoại hối năm 2013.
8 Khoản 5 Điều 4 Pháp lệnh về ngoại hối năm 2005
9