Theo Điều 113 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 thì hoạt động cho thuê tài chính là việc cấp tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính và phải có một trong các điều
Trang 1KHOA LUẬT
————————
Học phần: Luật Ngân hàng Giảng viên: TS Nguyễn Vĩnh Hưng
Đề tài: “Pháp luật về hoạt động cho thuê tài chính của công ty cho thuê tài
chính”
Sinh viên thực hiện:
Ngày sinh:
MSSV:
Lớp: Luật học – K
Hà Nội – 11/2021
Trang 2Mục lục
A MỞ BÀI 3
B NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHO THUÊ TÀI CHÍNH VÀ CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH 4
1 Khái quát về công ty cho thuê tài chính 4
2 Khái quát về hoạt động cho thuê tài chính của công ty cho thuê tài chính 5
CHƯƠNG II SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH 7
1 Hoạt động cho thuê tài chính của công ty tài chính 7
2 Sự phát triển của Pháp luật về hoạt động cho thuê tài chính của công ty cho thuê tài chính 9
CHƯƠNG III : THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM 10
1 Bên cho thuê ( công ty cho thuê tài chính 10
2 Bên thuê tài chính 12
3 Nội dung của hợp đồng cho thuê tài chính 13
4 Đối tượng của hợp đồng cho thuê tài chính ( tài sản cho thuê tài chính) 13
5 Chấm dứt hợp đồng cho thuê tài chính 13
CHƯƠNG IV: MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT 14
2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật 14
C KẾT LUẬN 15
Trang 3A MỞ BÀI
Cộng đồng người ngay từ khi còn ở hình thái sơ khai, nhưng xuất phát từ các nhu cầu gốc về sức mạnh, an toàn, thịnh vượng… của cả cộng đồng, là lý do để mọi người phải ưu tiên lợi ích chung của cộng đồng trước quyền lợi riêng cá nhân, để đồng thuận lập ra những cam kết chung Các cam kết này trở thành chuẩn mực, quy tắc để mọi thành viên dựa vào đó mà hành xử theo, tuân theo, đó chính là Pháp luật Từ xã hội sơ khai tới xã hội hiện đại, không có pháp luật hoàn chỉnh mà chỉ có pháp luật ở hình thái phù hợp với hình thái tổ chức của xã hội ở giai đoạn phát triển nhất định Xét về bản chất, cũng giống như đạo đức truyền thống, pháp luật là những chuẩn mực định hướng cho tư tưởng, hành vi, xử sự của các thành viên trong một cộng đồng người nhằm đạt các mục tiêu mà cộng đồng người đó mong muốn Trong xã hội con người, tính cách, tâm lý, nhu cầu, con người là đa dạng nên việc tuân thủ pháp luật của các thành viên xã hội cũng đa dạng: người tuân thủ đầy đủ, người tuân thủ ít, người không tuân thủ… đều có Nên có pháp luật rồi thì song hành cũng phải có cách để pháp luật được tuân thủ đầy đủ, lợi ích của cộng đồng phải được bảo vệ pháp luật đã ấn định Nhu cầu này làm nảy sinh nhu cầu của từng cá nhân trong cộng đồng muốn cắt cử, ủy thác cho cá nhân ưu tú nào đó mà cộng đồng lựa chọn để thay mặt cộng đồng thực hiện ý nguyện chung của cộng đồng, và một Ủy Ban đã ra đời - có thể là cá nhân hoặc
tổ chức Diễn giải theo cách hiện đại là cá nhân cộng đồng bầu trực tiếp hoặc qua đại diện tại Quốc hội, Nghị viện lập ra Ủy Ban (Chính Phủ) thay mặt mình thực thi hay giám sát việc tuân thủ pháp luật hay xét xử kẻ vi phạm pháp luật (Tòa án) Đại diện
đó là một tổ chức thừa hành của cộng đồng mà ta thường gọi là Nhà nước Từ đó có thể thấy Pháp luật và Nhà nước là kết quả của sự đồng thuận của các thành viên trong
xã hội (hay cộng đồng người) Pháp luật và Nhà nước là hai công cụ giúp thực thi những cam kết có lợi cho cộng đồng, cho thành viên và bảo vệ cộng đồng
Trang 4Trong thời đại ngày nay sự ổn định và phát triển của nền kinh tế ở mỗi quốc gia gắn liền với vai trò tác động tích cực của nhà nước Lĩnh vực ngân hàng là bộ phận hữu cơ của nền kinh tế và sự vận động của các quan hệ xã hội trong lĩnh vực này có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ nền kinh tế Bởi vì, lĩnh vực ngân hàng là nơi diễn ra quá trình tích tụ, điều hoà nhiều nguồn vốn, là nơi thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia Mặt khác, các quan hệ kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng phần lớn tiềm ẩn nguy cơ rủi
ro cao và liên quan đến lợi ích của nhiều loại chủ thể trong nền kinh tế Pháp luật được nhà nước sử dụng làm công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực ngân hàng, tạo lập những chuẩn mực chọ việc tổ chức và hoạt động của hệ thống ngân hàng, các tổ chức tín dụng
Trong khoảng 20 năm trở lại đây chúng ta có một hình thức cấp tín dụng mới đó
là cho thuê tài chính Đây là một hoạt động cấp tín dụng trung và dài hạn hết sức mới
mẻ, tuy nhiên có thể thấy nhu cầu kinh tế nước ta đối với hoạt động này là rất lớn Nhưng trên thực tế cho thấy, hoạt động cho thuê tài chính vẫn chưa phát triển đúng với vai trò, của nó trong nền kinh tế Việt Nam Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng này đó là do hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động cho thuê tài chính còn lỏng lẻo, nhiều quy định chưa thống nhất, chưa phù hợp với thực tế
B NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHO THUÊ TÀI CHÍNH VÀ CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH
1 Khái quát về công ty cho thuê tài chính
Theo quy định tại Điều 4 của Luật các Tổ chức tín dụng 2010 thì cho thuê tài chính là một Tổ chức tín dụng phi ngân hàng Như vậy, nó sẽ mang đầy đủ các đặc điểm của một Tổ chức tín dụng phi ngân hàng cùng với nó là các đặc điểm riêng biệt : + Là một pháp nhân kinh doanh trên thị trường tài chính, hạch toán độc lập, được thành lập theo quy định của pháp luật về ngân hàng và các quy định khác có liên quan + Hoạt động dựa trên sự quản lý của Ngân hàng nhà nước Việt Nam
Trang 5+ Được thực hiện các hoạt động : Nhận tiền gửi của tổ chức, Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn của tổ chức, vay vốn của tổ chức tín dụng, , và đặc biệt là hoạt động cho thuê tài chính
Vậy ta có thể kết luận, Công ty cho thuê tài chính là một tổ chức tín dụng phi ngân hàng, thực hiện hoạt động cho thuê máy móc, thiết bị, và các hoạt động khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê và bên thuê
2 Khái quát về hoạt động cho thuê tài chính của công ty cho thuê tài chính 2.1 Khái niệm cho thuê tài chính
Bộ luật thống nhất thương mại Hoa Kì cho thuê tài chính là loại hình cho thuê trong đó : “Người cho thuê không chọn nhà sản xuất hay cung ứng hàng; người cho thuê thu nhận hàng và sử dụng hàng liên quan đến việc cho thuê, ” Hay theo định nghĩa của ủy ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế (IASC): “Cho thuê tài chính là loại cho thuê có khả năng dịch chuyển căn bản tất cả các rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản Quyền sở hữu đó cuối cùng có thể được chuyển giao hoặc không được chuyển giao”
Như vậy, pháp luật trên thế giới đều lựa chọn cách đưa ra khái niệm cho thuê tài chính bằng cách nêu ra các đặc trưng của nó Theo Điều 113 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 thì hoạt động cho thuê tài chính là việc cấp tín dụng trung hạn, dài hạn trên
cơ sở hợp đồng cho thuê tài chính và phải có một trong các điều kiện sau đây:
1 Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được nhận chuyển quyền sở hữu tài sản cho thuê hoặc tiếp tục thuê theo thỏa thuận của hai bên;
2 Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền ưu tiên mua tài sản cho thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản cho thuê tại thời điểm mua lại;
3 Thời hạn cho thuê một tài sản phải ít nhất bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản cho thuê đó;
4 Tổng số tiền thuê một tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính ít nhất phải bằng giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng
Trang 62.2 Đặc điểm của cho thuê tài chính
+ Cho thuê tài chính là một hình thức cấp tín trung và dài hạn ( >1 năm) “ Việc Cho thuê tài chính đối với tổ chức, cá nhân được thực hiện thông qua công ty cho thuê tài chính nhằm mục đích kiếm lợi nhuận, còn việc bên thuê sử dụng tài sản thuê thực chất là sử dụng vốn của bên cho thuê đã đầu tư vào tài sản này Chính vì vậy,trên thực
tế, cho thuê tài chính thực chất là cho thuê tài sản (động sản)” Tài sản ở đây thường
là máy móc, dây chuyền sản xuất, phương tiện vận tải,
+ Công ty cho thuê tài chính (bên cho thuê) là người nắm giữ quyền sở hữu tài sản, quyền sở hữu tài sản có thể được chuyển giao cho bên thuê khi hợp đồng cho thuê chấm dứt
+ Trong suốt thời hạn cho thuê, bên thuê không được đơn phương hủy bỏ hợp đồng cho thuê tài chính
*Sự khác biệt cơ bản giữa cho thuê tài chính và hoạt động cho vay của ngân hàng Một là, vốn vay trong hoạt động cho vay của ngân hàng được thể hiện bằng tiền còn vốn vay trong hoạt động cho thuê tài chính được thể hiện bằng một tài sản cố định như máy móc, thiết bị, và bên cho thuê vẫn giữ quyền sở hữu tài sản
Hai là, phí cho thuê trong hoạt động cho thuê tài chính thường cao hơn lãi suất vay ngân hàng
Ba là, hoạt động cho vay của ngân hàng phải thông qua hợp đồng tín dụng và thường phải có tài sản đảm bảo ( giá trị của tài sản này thường lớn hơn khoản vay), như vậy việc cho thuê tài chính sẽ là lựa chọn cho những cá nhân, tổ chức có nhu cầu vay vốn để đầu tư vào máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh
2.3 Một số phương thức cho thuê tài chính
Để thực hiện một giao dịch cho thuê tài chính, người ta có thể sử dụng nhiều phương thức khác nhau Dưới đây là một số phương thức cho thuê tài chính được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước
Trang 7+Một là, bán và cho thuê lại Ở đây, người sở hữu tài sản bán tài sản cho 1 công
ty cho thuê tài chính và đồng thời kí một thỏa ước thuê lại tài sản đó dưới dạng 1 hợp đồng cho thuê tài chính
+Hai là, cho thuê tài chính bắc cầu Là phương thức cho thuê tài chính mà trrong
đó bên cho thuê đi vay phần lớn chi phí mua sắm tài sản cho thuê từ một hoặc nhiều bên cho vay với việc thế chấp tài sản cho thuê để đảm bảo số tiền này Tiền cho thuê nhận được trong từng kỳ hạn nợ là nguồn tiền dùng để trả nợ cho các tổ chức tài chính, tín dụng đã cho bên cho thuê tài sản vay vốn
+Ba là, cho thuê tài chính giáp lưng là một phương thức cho thuê tài chính mà bên đi thuê thứ nhất cho bên đi thuê thứ hai thuê lại tài sản mà bên đi thuê thứ nhất đã thuê từ bên cho thuê thông qua sự đồng ý của bên cho thuê bằng văn bản
+ Bốn là, cho thuê tài chính trả góp là một hình thức trả nợ thông qua mua trả góp là một hình thức trả nợ thông qua mua trả góp tài sản trong một khoảng thời gian
ấn định từ 1 đến 5 năm
CHƯƠNG II SỰ ĐIỀU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH
1 Hoạt động cho thuê tài chính của công ty tài chính
1.1 Các bên tham gia hoạt động cho thuê tài chính của công ty cho thuê tài chính
Trong đó các bên chủ thể tham gia vào quan hệ cho thuê tài chính ở đây gồm có bên cho thuê (là công ty cho thuê tài chính) gồm công ty cho thuê tài chính nhà nước, công ty cho thuê tài chính cổ phần, công ty cho thuê tài chính liên doanh và công ty tài chính 100% vốn nước ngoài Và bên thuê có thể là tất cả các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi lĩnh vực được thành lập theo pháp luật Việt Nam Trong đó các bên đều có các quyền và nghĩa vụ được quy định rõ trong luật các tổ chức tín dụng (tại điều 19 và 20) và nghị định 39/2014/NĐ-CP về hoạt động của công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính
Trang 81.2 Hợp đồng cho thuê tài chính và tranh chấp phát sinh
Theo căn cứ tại điều 113 Luật các Tổ chức tín dụng thì hợp đồng cho thuê tài chính và phải có một trong 4 điều kiện được quy định rõ trong luật như là: Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được nhận chuyển quyền sở hữu tài sản cho thuê hoặc tiếp tục thuê theo thỏa thuận của hai bên; Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền ưu tiên mua tài sản cho thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản cho thuê tại thời điểm mua lại; Thời hạn cho thuê một tài sản phải ít nhất bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản cho thuê đó; Tổng số tiền thuê một tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính ít nhất phải bằng giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng Đối tượng của hợp đồng là tài sản cho thuê như máy móc, bất động sản,…
Trong một hợp đồng cho thuê tài chính thường có các điều khoản về đặc điểm và tên gọi của tài sản thuê, về cung ứng tài sản, về phương thức mua và giao nhận tài sản thuê, tổng số tiền đầu tư tài sản thuê, tiền thuê, trả trước, lãi suất thuê, lãi suất quá hạn, thanh toán tiền thuê và phạt thanh toán chậm, tài sản đảm bảo cho thuê và bảo hiểm, sau khi hợp đồng kết thúc thì bên thuê có quyền mua lại hoặc tiếp tục thuê với giá có sự thay đổi, quyền và nghĩa vụ các bên, điều khoản về chấm dứt hợp đồng trước hạn nếu một trong các bên vi phạm các trường hợp được quy định tại điều 21 Nghị định 39/2014/NĐ-CP của Chính phủ về hoạt động của công ty tài chính và công
ty cho thuê tài chính và cùng với đó là các hoạt động để xử lý và hiệu lực của hợp đồng
Với những điều khoản trên, nếu các bên không thỏa thuận kỹ với nhau thì sẽ rất
dễ nảy ra tranh chấp sau này có thể là tranh chấp phát sinh việc các bên cảm thấy quyền và nghĩa vụ của mình bị xâm hại như là vi phạm về nghĩa vụ thanh toán (thanh toán tiền thuê, mức lãi suất,…), vi phạm về nghĩa vụ giao tài sản thuê (số lượng tài sản, quá trình giao tài sản hỏng hóc, xước méo,…), nghĩa vụ về bảo hiểm (tính phí bảo hiểm ra sao, bên nào sẽ trẻ khoản này),… Trong đó tranh chấp về nghĩa vụ thanh toán khá là phổ biến
Trang 91.3 Hình thức cho thuê tài chính
Theo nghị định Số: 39/2014/NĐ-CP ngày 07 tháng 05 năm 2014 về hoạt động của công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính thì các hình thức cho thuê tài chính
mà các công ty được phép kinh doanh ở Việt Nam như sau:
Hình thức cho thuê tài chính trong nước: là việc công ty cho thuê tài chính đại diện Bên thuê sẽ mua tài sản từ Nhà cung cấp ở trong nước và cho Bên thuê thuê lại tài sản theo lịch trình thanh toán thể hiện trên Hợp đồng thuê
Hình thức cho thuê tài chính nhập khẩu: là việc công ty cho thuê tài chính đại diện Bên thuê mua tài sản từ Nhà cung cấp ở nước ngoài và cho Bên thuê thuê lại tài sản Hợp đồng thuê
Hình thức cho thuê tài chính mua và cho thuê lại: là việc Công ty cho thuê tài chính mua tài sản thuộc sở hữu Bên thuê và cho Bên thuê thuê lại chính tài sản đó theo hình thức cho thuê tài chính để Bên thuê tiếp tục sử dụng phục vụ cho hoạt động của mình trong thời gian Bên thuê khó khăn về tài chính trong việc thanh toán cho nhà cung cấp
Hình thức cho thuê tài chính cho thuê vận hành: là hình thức cho thuê tài sản, theo đó khách hàng sử dụng tài sản cho thuê của công ty cho thuê tài chính trong một thời gian nhất định và sẽ hoàn trả lại tài sản đó cho bên cho thuê khi kết thúc thời hạn thuê tài sản
2 Sự phát triển của Pháp luật về hoạt động cho thuê tài chính của công ty cho thuê tài chính
Cho thuê tài chính là hình thức cấp tín dụng được pháp luật lần đầu tiên ghi nhận tại Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính năm 1990 với tên gọi là hoạt động thuê mua tài chính Tuy nhiên, phải đến khi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định 149/QĐ-NH5 ngày 27/5/1995, sau đó là Nghị định 64/CP của Chính phủ ngày 9/10/1995 và Thông tư 03/TT-NH5 của Ngân hàng Nhà nước ngày 9/2/1996, thì hoạt động này mới được sự điều chỉnh cụ thể của pháp luật Sau khi Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004)
Trang 10được ban hành, hoạt động cho thuê tài chính ngày càng được điều chỉnh một cách chi tiết và hệ thống (tại Điều 20, Điều 61 đến Điều 63) Các văn bản dưới luật lần lượt ra đời để cụ thể hoá Luật các tổ chức tín dụng, trong đó đáng chú ý nhất là Nghị định 16/2001/NĐ-CP ngày 02/5/2001, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định
65/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005 về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam Sau này Luật các tổ chức tín dụng 2010 đã ra đời cùng các văn bản hướng dẫn chi tiết việc thi hành cũng quy định rõ về hoạt động cho thuê tài chính của công ty cho thuê tài chính như là nghị định 39/2014/NĐ-CP về hoạt động của công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính
CHƯƠNG III : THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH CỦA CÔNG TY CHO THUÊ TÀI CHÍNH TẠI VIỆT NAM
Hợp đồng cho thuê tài chính là phương tiện thực hiện giao dịch cho thuê tài chính, phải được lập thành văn bản Đây là yếu tố quan trọng thể hiện mối quan hệ giữa công ty cho thuê tài chính và khách hàng, là hình thức pháp lý của quan hệ cho thuê tài chính Hợp đồng cho thuê tài chính là hợp đồng không hủy ngang, được ký giữa bên cho thuê và bên thuê về việc cho thuê tài chính đối với một hoặc một số tài sản cho thuê
Đặc điểm:
+ Chủ thể tham gia giao dịch cho thuê tài chính gồm 2 bên: Bên cho thuê và bên thuê Bên cho thuê ở đây là các công ty cho thuê tài chính; bên thuê là các tổ chức cá nhân hoạt động tại Việt Nam, trực tiếp sử dụng tài sản thuê phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh
+ Đối tượng của hợp đồng: là tài sản Tài sản trong cho thuê tài chính thường là các tài sản có giá trị lớn và có thời hạn sử dụng lâu dài Các tài sản có thể là máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác
+ Quyền chọn mua: Pháp luật Việt Nam quy định hợp đồng thuê phải dự liệu quyền chọn mua cho bên thuê khi kết thúc thời hạn thuê