1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tài liệu Chương 1: Tổng quan phát triển làng nghề Việt Nam docx

18 632 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tổng quan phát triển làng nghề Việt Nam
Thể loại Báo cáo
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều sản phẩm được sản xuất trực tiếp tại các làng nghề đã trở thành thương phẩm trao đổi, góp phần cải thiện đời sống gia đình và tận dụng những lao động dư thừa lúc nông nhàn.. Quá tr

Trang 3

1.1 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN VÀ PHÂN LOẠI LÀNG

NGHỀ VIỆT NAM

1.1.1 Lịch sử phát triển các làng nghề Việt Nam

Làng nghề là một trong những đặc

thù của nông thôn Việt Nam Nhiều

sản phẩm được sản xuất trực tiếp tại

các làng nghề đã trở thành thương

phẩm trao đổi, góp phần cải thiện đời

sống gia đình và tận dụng những lao

động dư thừa lúc nông nhàn Đa số các

làng nghề đã trải qua lịch sử phát

triển hàng trăm năm, song song với

quá trình phát triển KT-XH, văn hóa

và nông nghiệp của đất nước Ví dụ

như làng đúc đồng Đại Bái (Bắc Ninh)

với hơn 900 năm phát triển, làng nghề

gốm Bát Tràng (Hà Nội) có gần 500 năm tồn tại, nghề chạm bạc ở Đồng Xâm (Thái Bình) hay nghề điêu khắc đá mỹ nghệ Non Nước (Tp Đà Nẵng) cũng đã hình thành cách đây hơn 400 năm, Nếu đi sâu vào tìm hiểu về nguồn gốc của các sản phẩm từ các làng nghề đó, có thể thấy rằng hầu hết các sản phẩm này ban đầu đều được sản xuất để phục vụ sinh hoạt hàng ngày hoặc là công cụ sản xuất nông nghiệp, chủ yếu được làm trong lúc nông nhàn Kỹ thuật, công nghệ, quy trình sản xuất cơ bản để làm ra các sản phẩm này được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

Chương 1.

TỔNG QUAN PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ VIỆT NAM

TÓM TẮT NỘI DUNG CHƯƠNG 1

Chương 1 trình bày về lịch sử phát triển, hiện trạng phân bố làng nghề nước ta và giới thiệu về cách phân loại 6 nhóm làng nghề được sử dụng trong Báo cáo.

Làng nghề đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa và xóa đói giảm nghèo ở nông thôn, giải quyết việc làm lúc nông nhàn, tăng thu nhập, phát triển du lịch.

Bên cạnh những đóng góp tích cực về mặt kinh tế, sự phát triển của các làng nghề cũng đang là nguyên nhân làm gia tăng vấn đề ô nhiễm môi trường

Những tồn tại trong quá trình phát triển làng nghề đang trở thành các thách thức đối với việc bảo vệ môi trường, phát triển bền vững cho nông thôn

Dựa trên kết quả điều tra, nghiên cứu của một số công trình, đề tài nghiên cứu về làng nghề, Chương 1 có đưa ra một số nhận xét về xu thế phát triển của làng nghề đến năm 2015

Trang 4

Trước đây, làng nghề không chỉ là

trung tâm sản xuất sản phẩm thủ công

mà còn là điểm văn hóa của khu vực,

của vùng Làng nghề là nơi hội tụ

những thợ thủ công có tay nghề cao mà

tên tuổi đã gắn liền với sản phẩm

trong làng Ngoài ra, làng nghề cũng

chính là điểm tập kết nguyên vật liệu,

là nơi tập trung những tinh hoa trong

kỹ thuật sản xuất sản phẩm của làng

Các mặt hàng sản xuất ra không chỉ để

phục vụ sinh hoạt hàng ngày mà còn

bao gồm cả các sản phẩm mỹ nghệ, đồ

thờ cúng, dụng cụ sản xuất, nhằm

đáp ứng nhu cầu thực tế của thị trường

khu vực lân cận

Trong vài năm gần đây, làng nghề đang thay đổi nhanh chóng theo nền kinh tế thị trường, các hoạt động sản xuất tiểu thủ công phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu được tạo điều kiện phát triển Quá trình công nghiệp hóa cùng với việc áp dụng các chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn, thúc đẩy sản xuất tại các làng nghề đã làm tăng mức thu nhập bình quân của nguời dân nông thôn, các công nghệ mới đang ngày càng được áp dụng phổ biến Các làng nghề mới và các cụm làng nghề không ngừng được khuyến khích phát triển nhằm đạt được sự tăng trưởng, tạo công ăn việc làm và thu nhập ổn định ở khu vực nông thôn

Khung 1.1 Tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống

1 Tiêu chí công nhận nghề truyền thống:

Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 03 tiêu chí sau:

a Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận;

b Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc;

c Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề.

2 Tiêu chí công nhận làng nghề:

Làng nghề được công nhận phải đạt 03 tiêu chí sau:

a Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn;

b Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận;

c Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước.

3 Tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống:

Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo quy định tại Thông tư này.

Đối với những làng chưa đạt tiêu chuẩn a, b của tiêu chí công nhận làng nghề tại điểm 2, nhưng có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận theo quy định của Thông tư này thì cũng được công nhận là làng nghề truyền thống.

Nguồn: Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ NN&PTNT hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn

Trang 5

Do ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác

nhau như vị trí địa lý, đặc điểm tự

nhiên, mật độ phân bố dân cư, điều

kiện xã hội và truyền thống lịch sử, sự

phân bố và phát triển làng nghề giữa

các vùng của nước ta là không đồng đều,

thông thường tập trung vào những khu

vực nông thôn đông dân cư nhưng ít đất

sản xuất nông nghiệp, nhiều lao động

dư thừa lúc nông nhàn Trên cả nước, làng nghề phân bố tập trung chủ yếu tại đồng bằng sông Hồng (chiếm khoảng 60%); còn lại là ở miền Trung (chiếm khoảng 30%) và miền Nam (khoảng 10%) (Nguồn: Tổng cục Môi trường tổng hợp, 2008).

Khung 1.2 Sự hình thành làng nghề mới

Làng nghề mới được hiểu là các làng nghề không phải là làng nghề truyền thống Các làng nghề này được hình thành trong thời gian gần đây, chủ yếu xuất phát từ:

- Việc tổ chức gia công cho các xí nghiệp lớn, các tổ chức kinh doanh xuất nhập khẩu;

- Việc học tập kinh nghiệm của vài hộ gia đình nhạy bén thị trường và có điều kiện đầu

tư sản xuất hoặc của các làng nghề lân cận;

- Tự hình thành do nhu cầu mới của thị trường tiêu thụ sản phẩm và thị trường nguyên liệu sẵn có.

Nguồn: Đề tài KC 08.09, 2005

Thu gom sơ dừa ở đồng bằng sông Cửu Long

Nguồn: Tổng cục Môi trường

Trang 6

Hình 1.1 Hiện trạng phân bố các làng nghề nước ta

Nguồn: Tổng cục Môi trường tổng hợp, 2008

Trang 7

Hình 1.2 Hiện trạng phân bốá các làng nghề theo các nhóm ngành nghề

Nguồn: Tổng cục Môi trường tổng hợp, 2008

Trang 8

1.1.2 Phân loại và đặc trưng sản xuất của các

làng nghề

Dựa trên các tiêu chí khác nhau, có

thể phân loại làng nghề theo một số

dạng như sau:

- Theo làng nghề truyền thống và làng

nghề mới;

- Theo ngành sản xuất, loại hình sản

phẩm;

- Theo quy mô sản xuất, theo quy trình

công nghệ;

- Theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm;

- Theo mức độ sử dụng nguyên/nhiên

liệu;

- Theo thị trường tiêu thụ sản phẩm,

tiềm năng tồn tại và phát triển

Mỗi cách phân loại nêu trên có

những đặc thù riêng và tuỳ theo mục

đích mà có thể lựa chọn cách phân loại

phù hợp Trên cơ sở tiếp cận vấn đề

môi trường làng nghề, cách phân loại

theo ngành sản xuất và loại hình sản

phẩm là phù hợp hơn cả, vì thực tế cho

thấy mỗi ngành nghề, mỗi sản phẩm

đều có những yêu cầu khác nhau về

nguyên nhiên liệu, quy trình sản xuất

khác nhau, nguồn và dạng chất thải

khác nhau, và vì vậy có những tác động

khác nhau đối với môi trường

Dựa trên các yếu tố tương đồng về

ngành sản xuất, sản phẩm, thị trường

nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm có

thể chia hoạt động làng nghề nước ta ra

thành 6 nhóm ngành chính (Biểu đồ 1.1),

mỗi ngành chính có nhiều ngành nhỏ

Mỗi nhóm ngành làng nghề có các đặc

điểm khác nhau về hoạt động sản xuất

sẽ gây ảnh hưởng khác nhau tới môi

trường

1 Làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ: có số

lượng làng nghề lớn, chiếm 20% tổng số làng nghề, phân bố khá đều trên cả nước, phần nhiều sử dụng lao động lúc nông nhàn, không yêu cầu trình độ cao, hình thức sản xuất thủ công và gần như

ít thay đổi về quy trình sản xuất so với thời điểm khi hình thành nghề Phần lớn các làng chế biến lương thực, thực phẩm nước ta là các làng nghề thủ công truyền thống nổi tiếng như nấu rượu, làm bánh đa nem, đậu phụ, miến dong, bún, bánh đậu xanh, bánh gai, với nguyên liệu chính là gạo, ngô, khoai, sắn, đậu và thường gắn với hoạt động chăn nuôi ở quy mô gia đình

2 Làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da: nhiều làng có từ lâu đời, có

các sản phẩm mang tính lịch sử, văn hóa, mang đậm nét địa phương Những sản phẩm như lụa tơ tằm, thổ cẩm, dệt may, không chỉ là những sản phẩm có giá trị mà còn là những tác phẩm nghệ thuật được đánh giá cao Quy trình sản xuất không thay đổi nhiều, với nhiều lao động có tay nghề cao Tại các làng nghề

Biểu đồ 1.1 Phân loại làng nghề Việt Nam

theo ngành nghề sản xuất

Nguồn: Tổng cục Môi trường tổng hợp, 2008

Trang 9

nhóm này, lao động nghề thường là lao

động chính (chiếm tỷ lệ cao hơn lao

động nông nghiệp)

3 Làng nghề sản xuất vật liệu xây

dựng và khai thác đá: hình thành từ

hàng trăm năm nay, tập trung ở vùng có

khả năng cung cấp nguyên liệu cơ bản

cho hoạt động xây dựng Lao động gần

như thủ công hoàn toàn, quy trình công

nghệ thô sơ, tỉ lệ cơ khí hóa thấp, ít thay

đổi Khi đời sống được nâng cao, nhu

cầu về xây dựng nhà cửa, công trình

ngày càng tăng, hoạt động sản xuất vật

liệu xây dựng phát triển nhanh và tràn

lan ở các vùng nông thôn Nghề khai

thác đá cũng phát triển ở những làng

gần các núi đá vôi được phép khai thác,

cung cấp nguyên liệu cho các hoạt động

sản xuất sản phẩm thủ công mỹ nghệ và

vật liệu xây dựng

4 Làng nghề tái chế phế liệu: chủ yếu

là các làng nghề mới hình thành, số

lượng ít, nhưng lại phát triển nhanh về

quy mô và loại hình tái chế (chất thải

kim loại, giấy, nhựa, vải đã qua sử

dụng) Ngoài ra các làng nghề cơ khí chế

tạo và đúc kim loại với nguyên liệu chủ

yếu là sắt vụn, sắt thép phế liệu cũng

được xếp vào loại hình làng nghề này

Đa số các làng nghề nằm ở phía Bắc,

công nghệ sản xuất đã từng bước được

cơ khí hóa

5 Làng nghề thủ công mỹ nghệ: bao

gồm các làng nghề gốm, sành sứ thủy

tinh mỹ nghệ; chạm khắc đá, chạm mạ

bạc vàng, sản xuất mây tre đan, đồ gỗ

mỹ nghệ, sơn mài, làm nón, dệt chiếu,

thêu ren Đây là nhóm làng nghề chiếm

tỷ trọng lớn về số lượng (gần 40% tổng

số làng nghề), có truyền thống lâu đời,

sản phẩm có giá trị cao, mang đậm nét

văn hóa, và đặc điểm địa phương, dân

tộc Quy trình sản xuất gần như không

thay đổi, lao động thủ công, nhưng đòi hỏi tay nghề cao, chuyên môn hóa, tỉ mỉ và sáng tạo

6 Các nhóm ngành khác: bao gồm các

làng nghề chế tạo nông cụ thô sơ như cày bừa, cuốc xẻng, liềm hái, mộc gia dụng, đóng thuyền, làm quạt giấy, dây thừng, đan vó, đan lưới, làm lưỡi câu,… Những làng nghề nhóm này xuất hiện từ lâu, sản phẩm phục vụ trực tiếp cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của địa phương Lao động phần lớn là thủ công với số lượng và chất lượng ổn định

1.2 VAI TRÒ CỦA LÀNG NGHỀ TRONG SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

1.2.1 Chủ trương phát triển làng nghề

Thời gian qua, xác định vai trò quan trọng của làng nghề, ngành nghề nông thôn, Đảng và Nhà nước đã tập trung chỉ đạo và ban hành nhiều chính sách như Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 của Chính phủ về chính sách phát triển ngành nghề nông thôn, nhằm thúc đẩy phát triển KT-XH ở nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, giải quyết việc làm tại chỗ, nâng cao chất lượng cuộc sống và thu nhập của người dân, tăng cường hoạt động xuất khẩu

Ngoài ra, tại Nghị định số 73/1995/NĐ-CP ngày 01/11/1995 và sau đó là Nghị định số 01/2008/NĐ-CP ngày 03/01/2008 quy định chức năng, nhiệm vụ của Bộ NN&PTNN, Chính phủ đã giao Bộ NN&PTNN thực hiện chức năng quản lý nhà nước lĩnh vực ngành nghề nông thôn Trên cơ sở đó, Bộ NN&PTNN đã xây dựng, ban hành một số văn bản nhằm chỉ đạo thúc đẩy phát triển làng nghề Có thể kể tới

Trang 10

Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày

18/12/2006 hướng dẫn thực hiện một số

nội dung của Nghị định

66/2006/NĐ-CP; Chỉ thị số 28/2007/CT-BNN ngày

18/04/2007 về việc đẩy mạnh thực

hiện quy hoạch phát triển ngành nghề

nông thôn và phòng chống ô nhiễm

môi trường làng nghề;

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm

trong giai đoạn 2006 - 2015 của Bộ

NN&PTNN là thực hiện Chương trình

"Mỗi làng một nghề", với mục tiêu khôi

phục và phát triển làng nghề nông thôn

để tạo việc làm, tạo thu nhập từ phi

nông nghiệp với các hoạt động như: hỗ

trợ phát triển làng nghề nông thôn,

khuyến khích các hộ gia đình, tư nhân,

HTX, doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư

phát triển các ngành nghề tiểu thủ công

nghiệp đa dạng; Đào tạo nghề và hỗ trợ

chuyển lao động nông nghiệp sang phi

nông nghiệp; Xây dựng cơ chế quản lý

chất thải làng nghề

1.2.2 Làng nghề với sự phát triển cơ sở hạ tầng

kỹ thuật nông thôn

Điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật là

một yếu tố cực kỳ quan trọng hỗ trợ phát

triển các làng nghề Khả năng tiếp cận

thông tin, điện, nước sạch, giao thông và

những yếu tố khác về cơ sở vật chất là

rất cần thiết đối với sự tăng trưởng và

phát triển của các làng nghề Phát triển

cơ sở hạ tầng kỹ thuật tốt sẽ góp phần

thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng

cuộc sống người dân, tạo việc làm, xóa

nghèo ở nông thôn thông qua việc phát

triển các ngành nghề tại các làng nghề

Ngược lại, sự phát triển kinh tế của các

làng nghề cũng lại góp phần đổi mới bộ

mặt nông thôn, cải thiện và phát triển cơ

sở hạ tầng kỹ thuật tại đây (Biểu đồ 1.2).

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở những nơi tập trung nhiều làng nghề như khu vực Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và Đông Nam Bộ, nhìn chung phát triển khá tốt do các làng nghề phần lớn được hình thành, phát triển ở những nơi tiếp cận thuận lợi mạng lưới đường quốc lộ, tỉnh lộ, cùng sự hỗ trợ của các chính sách từ chính quyền tỉnh/thành phố nhằm đẩy mạnh phát triển làng nghề

Biểu đồ 1.2 Tỷ lệ các làng nghề có các dịch vụ xã hội trong tổng số các làng nghề được khảo sát

Nguồn: Đề tài KC 08.09, 2005

Khung 1.3 Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho các làng nghề, cụm cơ sở ngành nghề nông thôn

Tổng số vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho các làng nghề, cụm cơ sở ngành nghề nông thôn cho tới nay là 548,9 tỷ đồng Về đầu tư hạ tầng kỹ thuật làng nghề, từ năm 2002 đến năm 2007 đầu tư 440 tỷ đồng cho 42 tỉnh Các dự án đầu tư bước đầu mang lại hiệu quả nhất định trong việc cải thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật làng nghề, tập trung các cơ sở sản xuất làng nghề thành các cụm khu công nghiệp làng nghề để triển khai thực hiện xử lý các vấn đề môi trường, đảm bảo phát triển sản xuất theo hướng hiệu quả và bền vững.

Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2007

Trang 11

Tại khu vực miền núi, cũng có một số

làng nghề phát triển, tuy nhiên điều

kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật vẫn không

được chú trọng đầu tư do phần lớn làng

nghề ở đây không nhằm mục tiêu phục

vụ thị trường mà chủ yếu sản phẩm chỉ

phục vụ đời sống nhân dân khu vực lân

cận

1.2.3 Làng nghề và xóa đói giảm nghèo ở nông thôn

Sự phát triển của làng nghề trong

những năm gần đây đã và đang góp phần

đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế

ở địa phương, cải thiện và nâng cao đời

sống của người dân làng nghề

Tại các làng nghề, đại bộ phận dân

cư làm nghề thủ công nhưng vẫn tham

gia sản xuất nông nghiệp ở một mức độ

nhất định Tại nhiều làng nghề, trong cơ

cấu kinh tế địa phương, tỷ trọng ngành

công nghiệp và dịch vụ đạt từ 60 - 80%

và ngành nông nghiệp chỉ đạt 20 - 40%

Trong những năm gần đây, số hộ và cơ

sở ngành nghề ở nông thôn đang ngày

một tăng lên với tốc độ tăng bình quân

từ 8,8 - 9,8%/năm, kim ngạch xuất khẩu

từ các sản phẩm làng nghề không ngừng

gia tăng (Biểu đồ 1.3) Chính vì vậy, có

thể thấy, làng nghề đóng vai trò rất

quan trọng đối với việc xoá đói giảm nghèo ở nông thôn, trực tiếp giải quyết việc làm cho người lao động trong lúc nông nhàn, góp phần tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người lao động

Trên thực tế, quy mô làng nghề nhìn chung thường nhỏ, chưa thực hiện được

cơ chế thu hút lao động có tay nghề cao, đối với các làng nghề sản xuất theo thời vụ thì thường chỉ sản xuất vào lúc nông nhàn Tuy nhiên, hiện nay ở những vùng sản xuất lớn, lao động trong các làng nghề làm việc hầu như quanh năm, với quy mô phát triển ngày càng lớn

(Khung 1.5).

Biểu đồ 1.3 Kim ngạch xuất khẩu từ các sản phẩm

làng nghề của Việt Nam

Nguồn: Bộ NN&PTNT, 2008

Khung 1.4 Vai trò của làng nghề trong phát triển kinh tế - xã hội

● Thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia: kinh tế cá thể chiếm 72%, kinh tế tập thể 18%, doanh nghiệp tư nhân 10%

● Thu hút tới 11 triệu lao động, chiếm khoảng 30% lực lượng lao động nông thôn.Tỷ lệ thời gian làm việc được sử dụng lao động trong độ tuổi của khu vực nông thôn năm 2005 là 80%.

● Nhiều Hiệp hội, Hội nghề nghiệp, Câu lạc bộ nghề nghiệp được thành lập: Hiệp hội làng nghề Việt Nam, Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành nghề nông thôn

● Hình thành các trung tâm giao lưu buôn bán, cụm dân cư với lối sông đô thị tại nông thôn

Nguồn: Bộ NN&PTNT, 2008

Ngày đăng: 19/01/2014, 10:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Hiện trạng phân bố các làng nghề nước ta - Tài liệu Chương 1: Tổng quan phát triển làng nghề Việt Nam docx
Hình 1.1. Hiện trạng phân bố các làng nghề nước ta (Trang 6)
Hình 1.2. Hiện trạng phân bốá các làng nghề theo các nhóm ngành nghề - Tài liệu Chương 1: Tổng quan phát triển làng nghề Việt Nam docx
Hình 1.2. Hiện trạng phân bốá các làng nghề theo các nhóm ngành nghề (Trang 7)
Bảng 1.1. Trình độ kỹ thuật ở các làng nghề - Tài liệu Chương 1: Tổng quan phát triển làng nghề Việt Nam docx
Bảng 1.1. Trình độ kỹ thuật ở các làng nghề (Trang 14)
Bảng 1.2. Các xu thế phát triển chính của làng nghề Việt Nam đến năm 2015 - Tài liệu Chương 1: Tổng quan phát triển làng nghề Việt Nam docx
Bảng 1.2. Các xu thế phát triển chính của làng nghề Việt Nam đến năm 2015 (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w