Thực hiện định hướng chiến lược chăm sóc sức khỏe nhân dân của Bộ Y tế,BHYT Việt Nam đã hướng dẫn BHYT các địa phương, ngành phối hợp với ngành y tếtriển khai hoạt động khám chữa bệnh ch
Trang 2Mục lục
PHẦN I: TỔNG QUAN 4
I SƠ LƯỢC TÌNH HÌNH KHÁM CHỮA BỆNH CHO NGƯỜI CÓ THẺ BHYT TẠI Y TẾ CƠ SỞ Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI 4
II TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI CÔNG TÁC KHÁM CHỮA BỆNH BHYT TẠI TRẠM Y TẾ XÃ Ở VIỆT NAM 5
PHẦN 2: ĐỐI TƯỢNG & PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10
I ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: 10
II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 10
PHẦN 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 11
I CƠ CẤU, MỨC ĐÓNG THEO ĐỐI TƯỢNG THAM GIA BHYT CƯ TRÚ THEO ĐỊA BÀN XÃ 11
II NGHIÊN CỨU NHU CẦU VÀ KHẢ NĂNG CUNG CẤP DỊCH VỤ Y TẾ PHỤC VỤ VIỆC CHĂM SÓC SỨC KHỎE BAN ĐẦU CHO NGƯÒI THAM GIA BHYT TẠI TRẠM Y TẾ XÃ 16
Phân theo nhóm đối tượng 17
B7 17
Cộng XIII 18
Tổng cộng 18
Phân theo nhóm đối tượng 20
Số TYT xã 21
Tên trang thiết bị 23
III NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH MỘT SỐ YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KHÁM CHỮA BỆNH BHYT TẠI TRẠM Y TẾ XÃ 24
IV ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CHƯƠNG TRÌNH ĐƯA KHÁM CHỮA BỆNH CHO NGƯỜI CÓ THẺ BHYT VỀ TRẠM Y TẾ XÃ TỪ 1998-2001 26
Vấn đề 33
Kết quả phỏng vấn 33
I KẾT LUẬN 35
II KIẾN NGHỊ - ĐỀ XUẤT 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
Diễn biến qua các năm 50
Trang 3Trong định hướng chiến lược chăm sóc sức khỏe nhân dân của Bộ Y tế, việc mởrộng hoạt động và nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dânngay tại tuyến y tế cơ sở được xác định là một trong những mục tiêu quan trọng hàngđầu Để thực hiện mục tiêu đó, Bộ Y tế đã có nhiều chương trình hành động hướng tới y
tế cơ sở Hệ thống y tế cơ sở luôn được quan tâm xây dựng, kiện toàn và củng cố Theothống kê của Bộ Y tế, hiện nay đã đã có 97,4% số xã, phường trong toàn quốc đã có trạm
y tế, 74% số thôn, bản, ấp có nhân viên y tế hoạt động [38] Nguồn ngân sách dành cho y
tế cơ sở đã và đang được các cấp chính quyền ưu tiên đầu tư thỏa đáng Trang thiết bị y tếthiết yếu cũng đang từng bước được bổ sung và tăng cường trang bị cho trạm y tế xã,phường từ nhiều nguồn tài chính khác nhau: ngân sách, viện trợ quốc tế Để từng bướcnâng cao chất lượng công tác chuyên môn cho y tế cơ sở, bên cạnh việc đẩy mạnh côngtác đào tạo đội ngũ bác sỹ cho y tế xã, phường, Bộ Y tế đã chủ trương khuyến khích việcđưa bác sỹ về công tác tại trạm y tế xã với mục tiêu phấn đấu trong năm 2000 có trên40% số trạm y tế xã trong toàn quốc có bác sĩ và 100% số xã, phường có cán bộ y tế cộngđồng Đến nay cả nước đã có trên 52% số trạm y tế xã có bác sỹ[37] Các dịch vụ y tếcũng được đưa về gần dân hơn đã góp phần nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sứckhỏe ban đầu cho cán bộ, nhân dân ngay tại trạm y tế xã, phường
Bảo hiểm y tế là một chính sách xã hội nhằm huy động các nguồn lực tài chính từ
sự đóng góp của cộng đồng (tổ chức, cá nhân) tham gia BHYT để chi trả chi phí khámchữa bệnh cho người có thẻ không may bị ốm đau bệnh tật, chia sẻ nguy cơ và tránh đượcnhững tổn thất tài chính lớn ngoài sức chịu đựng của mỗi cá nhân Kết quả hoạt động saugần 10 năm thực hiện chính sách BHYT đã cho thấy chủ trương hoàn toàn đúng đắn nàycủa Đảng và Nhà nước và quỹ BHYT đã ngày càng có vai trò quan trọng trong việc đảmbảo nguồn tài chính cho hoạt động y tế Người tham gia BHYT đã được đảm bảo ngàycàng tốt hơn quyền lợi khám chữa bệnh, được quỹ BHYT chi trả chi phí chăm sóc sứckhỏe ban đầu, khám chữa bệnh ngoại trú và điều trị nội trú
Thực hiện định hướng chiến lược chăm sóc sức khỏe nhân dân của Bộ Y tế,BHYT Việt Nam đã hướng dẫn BHYT các địa phương, ngành phối hợp với ngành y tếtriển khai hoạt động khám chữa bệnh cho người có thẻ BHYT tại trạm y tế xã, phường.Theo đó, một phần kinh phí từ quỹ khám chữa bệnh ngoại trú đã được chuyển về cáctrạm y tế xã thông qua Trung tâm y tế huyện, tập trung chủ yếu vào các xã khu vực miềnnúi, vùng sâu, vùng xa có đông các đối tượng tham gia BHYT thuộc diện ưu đãi xã hội,người về hưu, nghỉ mất sức lao động, giáo viên để thực hiện khám chữa bệnh cho người
có thẻ BHYT Mô hình khám chữa bệnh BHYT tại trạm y tế xã đã đáp ứng được nguyệnvọng của người có thẻ BHYT, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ngườibệnh có thẻ BHYT, giảm thiểu đáng kể tình trạng quá tải ở các bệnh viện tuyến trên, giúpcho người dân ngày càng hiểu thêm về tính nhân đạo và cộng đồng của chính sáchBHYT, tạo thêm điều kiện thuận lợi cho công tác phát triển và mở rộng các loại hìnhBHYT, tiến tới BHYT toàn dân vào năm 2010
Năm 2001, BHYT Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu đưa hoạt động khám chữabệnh BHYT về trạm y tế xã phường tại 100% các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ươngvới 5067 trạm y tế xã triển khai hoạt động này, chiếm 49,2 % số trạm y tế xã trong toànquốc [30]
Trang 4Đề tài " Nghiên cứu thực trạng chương trình đưa khám chữa bệnh BHYT về trạm
y tế tuyến xã trong 4 năm từ 1998 -2001" được nhóm nhóm nghiên cứu thực hiện nhằmmục tiêu: Đánh giá thực trạng công tác khám chữa bệnh cho người có thẻ BHYT tại y tếtuyến xã thuộc một số địa phương đại diện cho các vùng kinh tế xã hội khác nhau trong
cả nước và đề xuất một số giải pháp và các chính sách hỗ trợ nhằm tăng cường chấtlượng và mở rộng hoạt động khám chữa bệnh BHYT tại y tế tuyến xã
- Cơ cấu và giá viện phí tại trạm y tế xã;
- Danh mục thuốc và danh mục DVKT sử dụng tại trạm y tế xã;
- Hỗ trợ đầu tư trang thiết bị, vật dụng y tế
1 Tại Thái lan: Người bệnh BHYT được chăm sóc sức khỏe ban đầu tại các Trung
tâm chăm sóc sức khỏe ban đầu ở các làng, bản do Nhà nước tổ chức Quỹ BHYT
chiếm khoảng 20% tổng nguồn kinh phí của các Trung tâm này và được sử dụng đểchi cho các hoạt động chăm sóc sức khoẻ ban đầu theo chiến lược toàn cầu " Sức
Trang 5khỏe cho mọi người vào năm 2000" được đề ra tại hội nghị quốc tế về y tế tại Ata năm 1978 bao gồm:
Alma Khám chữa bệnh thông thường;
- Giám sát thanh khiết môi trường;
- Tiêm chủng mở rộng, giáo dục sức khoẻ;
- Đảm bảo thuốc thiết yếu [12]
2 Tại Indonesia: Hoạt động khám chữa bệnh tại tuyến y tế cơ sở chỉ thực hiện đối với
loại hình BHYT nông dân (DANASEHAT) là loại hình BHYT do cấp xã quản lý.Quỹ bảo hiểm y tế DANASEHAT chỉ dành để chi phí cho hoạt động khám chữa bệnhtại trạm y tế xã, không thực hiện khám chữa bệnh tại tuyến trên [3]
3 Tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên: Người có thẻ BHYT được chăm sóc sức khỏe ban đầu tại các Trung tâm y tế cộng đồng, phòng khám đa khoa, các trạm
xá, trạm chăm sóc sức khỏe ban đầu Ngay tại tuyến y tế cơ sở, người bệnh đã phải
thực hiện cùng chi trả một phần chi phí khám chữa bệnh tuỳ loại cơ sở y tế và giádịch vụ [6]
4 Tại Hàn Quốc: Việc khám chữa bệnh cho người có thẻ BHYT tại y tế cơ sở cũng
được thực hiện như ở CHDCND Triều tiên, ngoài ra hoạt động này còn được thực
hiện tại các bệnh xá nha khoa, các bệnh xá đông y nhằm mục tiêu mở rộng và tăng
cường quyền lợi cho người tham gia BHYT [9]
5 Tại Cộng hòa nhân dân Trung Hoa: Mô hình " Hợp tác xã y tế" được triển khai rộngrãi nhằm thực hiện BHYT cho nông dân Quỹ BHYT theo loại hình này do nông dânđóng góp dựa trên cộng đồng cùng với sự hỗ trợ từ ngân sách của Hợp tác xã, đượcquản lý tại xã và chỉ có giá trị sử dụng các dịch vụ y tế tại xã [13]
6 Tại Cộng hòa Liên bang Đức: Dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà cho người bệnh
BHYT được cơ quan BHYT chú trọng phát triển Quỹ dành cho chăm sóc sức khỏetại nhà được người tham gia BHYT đóng góp (tương đương 1% lương) Cơ quanBHYT ký hợp đồng với các bác sỹ theo khu vực để thưc hiện việc quản lý và chămsóc sức khỏe tại nhà cho người bệnh theo mô hình bác sỹ gia đình [8]
7 Tại Hoa Kỳ: Năm 1973 tổ chức Duy trì sức khỏe (HMO) được thành lập tạo ra một
hệ thống khám chữa bệnh bao gồm các thầy thuốc tư nhân, các bệnh viện và thực hiệnphương thức khoán quỹ theo định xuất Người tham gia BHYT được các bác sỹ đakhoa quản lý sức khỏe và khám chữa bệnh ban đầu [10]
II TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI CÔNG TÁC KHÁM CHỮA BỆNH BHYT TẠI TRẠM Y TẾ XÃ Ở VIỆT NAM
1 Tổ chức thực hiện
Trong những năm qua, đặc biệt từ khi thực hiện quản lý tập trung thống nhất toàn
ngành theo Nghị định số 58/1998/NĐ-CP ngày 13/8/1998 của Chính phủ ban hành Điều
lệ BHYT mới, BHYT Việt Nam đã chỉ đạo BHYT các địa phương, ngành phối hợp vớingành y tế triển khai hoạt động khám chữa bệnh cho người có thẻ BHYT tại trạm y tế xãtheo định hướng chiến lược của Bộ Y tế Ngay từ những năm 1996 -1997, BHYT một sốtỉnh, thành phố (Thái Nguyên, An Giang, Hà Giang, Bình Dương, Thừa Thiên Huế, PhúThọ ) đã chủ động chuyển một phần kinh phí khám chữa bệnh ngoại trú về các trạm y tế
Trang 6xã thông qua Trung tâm y tế huyện, tập trung chủ yếu vào các xã vùng sâu, vùng xa đểthực hiện khám chữa bệnh cho người có thẻ BHYT [28]
Theo số liệu thống kê của BHYT Việt Nam, năm /2000 đã có 49/61 địa phương tổchức khám chữa bệnh cho người tham gia BHYT tại trạm y tế xã, đạt tỷ lệ 80,3% Một
số địa phương triển khai khá tốt công tác này với hầu hết các trạm y tế xã có tổ chứckhám chữa bệnh BHYT như Bình Dương (79/79 xã, đạt tỷ lệ 100%), An Giang (126/140
xã, đạt 90%), Thái Nguyên (152/180 xã, đạt 85%), Hà Giang (139/172 xã, 81%), ĐồngNai (126/163 xã, đạt 77%), Vĩnh Phúc (50/70 xã, đạt 71%), Một số địa phương cónhiều cố gắng để triển khai thí điểm khám chữa bệnh BHYT tại trạm y tế xã như Hà Nội,Nghệ An, Phú Thọ, Ninh Thuận, Khánh Hòa, Trà Vinh [28] BHYT các tỉnh, thành phố
đã phối hợp chặt chẽ với ngành y tế địa phương để hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch năm
2000 là triển khai công tác khám chữa bệnh BHYT tại 100% các trạm y tế xã vùng sâu,vùng xa của các tỉnh miền núi, vùng có đông đối tượng tham gia BHYT thuộc diện chínhsách ưu đãi xã hội, giáo viên, người về hưu, nghỉ mất sức lao động để tạo điều kiện thuậnlợi cho các đối tượng này được chăm sóc sức khỏe ngay tại tuyến y tế cơ sở Tuy nhiên,
số lượng các trạm y tế xã có triển khai hoạt động khám chữa bệnh BHYT cũng còn dừnglại ở con số rất khiêm tốn Trong tổng số gần 10.500 cơ sở y tế tuyến xã, phường trêntoàn quốc, hiện có 2839 xã đã tổ chức khám chữa bệnh cho người tham gia BHYT, đạt tỷ
lệ 24,7% [29] Mười hai tỉnh chưa triển khai hoạt động khám chữa bệnh BHYT về trạm y
tế xã, phường, gồm có: Bắc Giang, Bắc Ninh, Bắc Kạn, Bình Phước, Tiền Giang, HàNam, Quảng Ninh, Sơn La, Hải Phòng, Hưng Yên, Nam Định, Cà Mau [31]
Nguyên nhân chủ yếu một số đơn vị trên chưa triển khai được công tác này là:
- Chưa có sự chỉ đạo của chính quyền địa phương đối với ngành y tế;
- Cơ sở vật chất của các trạm y tế xã chưa đảm bảo;
- Số lượng, chất lượng cán bộ nhân viên y tế chưa đạt yêu cầu;
- Chưa có hệ thống văn bản hướng dẫn thực hiện của Bộ Y tế
Năm 2001, việc triển khai hoạt động quản lý và chăm sóc sức khỏe ban đầu chongười có thẻ BHYT được xác định là một trong mười nhiệm vụ trọng tâm của hệ thốngBHYT Việt Nam với mục tiêu phấn đấu đặt ra là 100% số tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương có triển khai khám chữa bệnh BHYT tại trạm y tế xã, tập trung dứt điểm ởcác xã vùng sâu, vùng xa, các tỉnh miền núi và nơi tập trung nhiều đối tượng thuộc diện
ưu đãi xã hội, người nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, người nghèo và giáo viên Kết quảnăm 2001 đã có 100 % số địa phương triển khai việc đưa công tác khám chữa bệnhBHYT về tuyến xã tại 5067 trạm y tế xã, đạt tỷ lệ 49,2% số trạm y tế xã trong cả nước[30]
2 Vấn đề đảm bảo quyền lợi cho người bệnh BHYT tại trạm y tế xã:
Người có thẻ BHYT khi đến khám chữa bệnh tại trạm y tế xã, được thực hiện các kỹthuật chẩn đoán và điều trị mà trạm y tế đó có khả năng thực hiện Tuy nhiên, hầu hết cáctrạm y tế xã hiện nay chưa thực hiện được các dịch vụ kỹ thuật y tế theo danh mục kỹthuật chẩn đoán và điều trị (so sánh với bản dự thảo phân tuyến chuyên môn kỹ thuật của
Bộ y tế) Nhìn chung cán bộ y tế tại trạm chỉ thực hiện khám lâm sàng, cấp thuốc cácbệnh thông thường Một số trạm y tế liên xã của (Bến Tre) đã thực hiện được kỹ thuậttiểu phẫu, làm các xét nghiệm máu, nước tiểu thông thường Người bệnh có thẻ BHYT
Trang 7thường không sinh đẻ tại trạm y tế xã Do đó số lượng các ca đỡ đẻ thường thực hiện tạicác trạm y tế xã cũng không nhiều (trung bình 15-20 trường hợp/năm) [30].
Số liệu thống kê của BHYT Việt Nam cho thấy, năm 1999, số lượt người được khámchữa bệnh theo chế độ BHYT tại trạm y tế xã là 881.075 lượt với tổng chi phí được cơquan BHYT chi trả gần 8,2 tỷ đồng Chi phí bình quân một lượt khám chữa bệnh là 9.037đồng/lượt Số lượt khám chữa bệnh BHYT tại trạm y tế xã năm 2000 là 1.475.684 lượtbằng 167,5 % so với năm trước Tổng số thẻ BHYT đăng ký khám chữa bệnh tại trạm y
tế xã là 554.645 thẻ, như vậy bình quân một thẻ khám 2,7 lần/năm Tổng chi phí khámchữa bệnh được chi trả từ quỹ BHYT là trên 12 tỷ đồng Chi phí bình quân cho một lượtkhám bệnh cấp thuốc tại trạm y tế xã là 8.312 đồng/ lượt, bằng 92% so với năm 1999[30]
Năm 2001, số người tham gia BHYT trực tiếp đăng ký quản lý và khám chữabệnh ban đầu tại trạm y tế xã là 1.497.135 thẻ, tăng gấp 2,7 lần so với năm 2000 Ngoài
ra các TTYT đã chuyển một phần kinh phí từ quỹ khám chữa bệnh ngoại trú về các trạm
y tế xã, trực thuộc để khám, chữa bệnh cho các đối tượng đăng ký khám chữa bệnh tạiban đầu tại TTYT hiện đang cư trú trên địa bàn xã để đảm bảo điều kiện thuận tiện chongười tham gia BHYT Tổng chi phí dành cho khám chữa bệnh tại trạm y tế xã năm 2001
là 26,3 tỷ đồng, chi phí bình quân một lần khám bệnh cấp thuốc tại trạm y tế xã năm 2001
là 7.315 đồng, bằng 88% so với năm 2000 Chi phí bình quân một lần khám bệnh cấpthuốc giảm là hợp quy luật do số lượt khám chữa bệnh tăng lên Số lượt có chi phí cao bùcho số lượt có chi phí thấp dẫn đến số chi bình quân giảm Năm 2001 đã có trên 3,5 triệulượt khám chữa bệnh BHYT tại tuyến xã, gấp 2,4 lần năm 2000 và 4,1 lần năm 1999.Bình quân mỗi thẻ đăng ký quản lý khám chữa bệnh tại trạm y tế xã đi khám 2,4 lượttrong năm 2001 là một tỷ lệ đáng kể chứng tỏ việc mở rộng và tăng cường đưa hoạt độngkhám chữa bệnh BHYT về xã là phù hợp với nguyện vọng của người tham gia BHYT
3 Mô hình tổ chức khám chữa bệnh BHYT tại trạm y tế xã:
Tuỳ thuộc vào tình hình trang bị, cơ sở vật chất, năng lực quản lý, trình độ chuyênmôn của trạm y tế xã cũng như số thẻ BHYT đăng ký khám chữa bệnh tại đó, hiện đangtồn tại 2 mô hình tổ chức khám chữa bệnh BHYT tại tuyến xã là:
a Tổ chức khám chữa bệnh cho người có thẻ BHYT theo từng xã:
Theo mô hình này, Trung tâm y tế huyện tổ chức cho trạm y tế xã quản lý sức khoẻ,khám chữa bệnh thông thường và sơ cứu cho những đối tượng có thẻ BHYT trong địabàn xã
b Tổ chức khám chữa bệnh cho người có thẻ BHYT theo cụm xã:
Mô hình này áp dụng đối với những xã có số lượng thẻ BHYT ít, theo đó TTYThuyện tổ chức cho trạm y tế của một xã trung tâm thực hiện việc quản lý sức khoẻ,khám chữa bệnh và sơ cứu cho những người có thẻ BHYT trên địa bàn xã và các xã lâncận (Từ 4 đến 5 xã) [30]
4 Cơ sở vật chất, trang thiết bị tại trạm y tế xã:
Trang 8Nhìn chung, cơ sở vật chất của trạm y tế xã đã được chính quyền địa phương quantâm xây dựng Tuy nhiên do kinh phí có hạn nên hầu hết các trạm y tế xã có trụ sở là nhàxây dựng cấp 4 (chiếm 90%), diện tích sử dụng còn rất hạn chế (có nơi chỉ có 3 phòng).Các trang thiết bị y tế tại trạm y tế xã được đầu tư từ nguồn kinh phí của các chương trìnhquốc gia hoặc do kinh phí địa phương Mỗi trạm đều có:
5 Biên chế, nhân sự
Để thực hiện nhiệm vụ triển khai các chương trình quốc gia xuống tận cơ sở đồngthời cung cấp dịch vụ y tế cho nhân dân địa phương trong đó có đối tượng là người có thẻBHYT, mỗi trạm y tế xã được biên chế từ 4 đến 6 cán bộ, nhân viên y tế Bác sỹ phụtrách công tác chuyên môn tập trung chủ yếu tại các trạm y tế xã thuộc các tỉnh đồngbằng Nhân viên y tế biên chế tại các trạm y tế xã thuộc một số tỉnh khu vực miền núi chủyếu là y sỹ, y tá trung cấp và sơ cấp Số trạm y tế xã có bác sỹ tại các địa phương nàychiếm một phần rất nhỏ (Hà Giang có 15 bác sỹ thường trực tại 15 trạm y tế/tổng số 191trạm y tế; Bến Tre 54/158) Ngoài chức năng khám chữa bệnh theo quy định, các cán bộnày còn phải tham gia các chương trình về chăm sóc sức khỏe cộng đồng, khám chữabệnh tại thôn, bản[28]
Cán bộ làm việc tại trạm y tế xã đa số thuộc biên chế của TTYT huyện và đượchưởng lương từ ngân sách Ngoài ra khi tham gia khám chữa bệnh BHYT, những cán bộnày cũng được hưởng một phần kinh phí được trích thưởng theo quy định của Nghị định
số 95/CP ngày 27/8/1994 của Chính phủ về việc thu một phần viện phí sau khi TTYThuyện quyết toán chi phí KCB với cơ quan BHYT
6 Kinh phí hoạt động
Kinh phí hoạt động của trạm y tế xã được cấp hàng năm từ nguồn ngân sách củaTrung tâm y tế huyện căn cứ vào dân số của xã, trình độ chuyên môn, cơ sở vật chấttrang thiết bị của trạm y tế và khả năng cân đối của ngân sách địa phương Kinh phí cấpcho trạm y tế xã chủ yếu được sử dụng để trả lương, phụ cấp cho cán bộ, nhân viên y tếcủa trạm, phần kinh phí chi cho thuốc chữa bệnh còn lại rất ít, khoảng 30% tổng kinh phí
y tế từ ngân sách Do đó, nguồn kinh phí từ quỹ khám chữa bệnh BHYT được đưa về xã
sẽ là sự hỗ trợ đáng kể cho công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân nói chung, người bệnh
có thẻ BHYT nói riệng tại trạm y tế xã [28]
Trang 9Kinh phí dành cho hoạt động khám chữa bệnh BHYT tại trạm y tế xã được cơ quanBHYT và Trung tâm y tế huyện phối hợp xác định tỷ lệ thích hợp trong tổng quỹ khámchữa bệnh ngoại trú tại TTYT căn cứ vào:
- Tổng nguồn quỹ khám chữa bệnh ngoại trú (45 %) và phần kinh phí dành choCSSKBĐ (5 %) của các đối tượng đăng ký khám chữa bệnh tại trạm y tế xã được xácđịnh giữa cơ quan BHYT và TTYT huyện;
- Số thẻ BHYT đăng ký khám chữa bệnh ban đầu tại Trạm y tế xã;
- Tình trạng sức khỏe và khả năng cung cấp dịch vụ của trạm y tế xã
Trạm y tế xã căn cứ nhu cầu sử dụng thuốc, dụng cụ y tế thiết yếu và định mức phân
bổ quỹ khám chữa ngoại trú do TTYT huyện xác định, lập dự trù để TTYT huyện thựchiện việc cung ứng phục vụ cho hoạt động khám chữa bệnh BHYT tại xã TTYT huyệnchịu trách nhiệm quản lý về mặt chuyên môn nghiệp vụ, trạm y tế xã có trách nhiệm báocáo tình hình sử dụng thuốc, dụng cụ y tế để TTYT quyết toán với cơ quan BHYT Nếulượng thuốc cấp trong tháng còn dư sẽ được luân chuyển sang tháng sau, nếu thiếu trạm
y tế tiếp tục ứng thuốc của TTYT để KCB và được điều tiết vào tháng sau
7 Phương thức thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT tại TYT xã:
Cơ quan BHYT thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT tại trạm y tế xã thôngqua Trung tâm y tế huyện theo chi phí thực tế với tổng chi phí khám chữa bệnh ngoại trú(bao gồm cả phần kinh phí đưa về xã) không vượt quá quỹ khám chữa bệnh ngoại trú(45%) của Trung tâm y tế và phần kinh phí dành cho CSSKBĐ được đưa về xã
Định kỳ theo từng tháng hoặc mỗi quý, trạm y tế xã tổng hợp các chứng từ khámchữa bệnh của người bệnh có thẻ BHYT theo mẫu quy định, chuyển về TTYT huyện đểthanh toán TTYT huyện tổng hợp phần chi phí KCB ngoại trú tuyến xã và các tuyếnkhác của TTYT thanh toán với cơ quan BHYT theo nguyên tắc trên Sổ sách, chứng từtheo dõi việc khám chữa bệnh BHYT tại xã gồm: sổ tổng hợp ghi chép bệnh nhân đếnKCB, đơn cấp thuốc có chữ ký của bệnh nhân
8.Vấn đề xây dựng chính sách và chỉ đạo thực hiện:
Nhằm nâng cao chất lượng hoạt động khám chữa bệnh, đảm bảo quyền lợi chongười có thẻ BHYT khi khám chữa bệnh tại trạm y tế xã, mở rộng và phát triển mô hìnhkhám chữa bệnh BHYT tại y tế cơ sở, trong hai ngày 3-4/8/2000, tại Thái Nguyên, Bảohiểm y tế Việt Nam đã tổ chức hội thảo bàn về công tác KCB cho người có thẻ BHYT tạitrạm y tế xã Tham dự hội thảo có đại biểu của BHYT 15 tỉnh, thành phố trong cả nước,đại biểu Sở y tế, TTYT, Trạm y tế xã, lãnh đạo các cấp chính quyền của một số tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương Hội thảo đã tập chung thảo luận nhiều vấn đề mangtính định hướng cơ bản nhằm mở rộng và phát triển mô hình khám chữa bệnh BHYT tại
y tế cơ sở, bao gồm:
- Sự cần thiết triển khai mô hình khám chữa bệnh cho người có thẻ BHYT tại trạm
y tế xã;
- Các yếu tố quan trọng quyết định đến việc tổ chức công tác khám chữa bệnh
BHYT tại y tế cơ sở;
- Những hạn chế, cản trở Các giải pháp khắc phục Chỉ tiêu đánh giá;
- Các giải pháp về kỹ thuật chuyên môn, cơ chế hoạt động tài chính;
Trang 10Căn cứ các ý kiến đã được thống nhất tại hội thảo, BHYT Việt Nam đã có văn bảnbáo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ Y tế và dự thảo định hướng mô hình khámchữa bệnh cho người có thẻ BHYT tại tuyến y tế cơ sở.
Để công tác khám chữa bệnh BHYT tại trạm y tế xã từng bước đi vào nề nếp, thốngnhất cơ chế hoạt động trong toàn hệ thống, ngày 28/8/2000 Bảo hiểm y tế Việt Nam đã cócông văn số 842/NVGĐ hướng dẫn tạm thời việc triển khai khám chữa bệnh cho người
có thẻ BHYT tại trạm y tế xã với 5 nội dung cơ bản là:
1 Tổ chức ký hợp đồng khám chữa bệnh BHYT tại trạm y tế xã với TTYT cấp huyện;
2 Quy định về phương thức thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT tại trạm y tế xã;
3 Quy định về việc mở sổ sách chứng từ theo dõi việc khám chữa bệnh BHYT tại trạm
Nhằm hoàn thiện mô hình khám chữa bệnh BHYT tại trạm y tế xã, BHYT Việt Nam
đã tổ chức khảo sát thực tế hoạt động khám chữa bệnh tại một số trạm y tế xã thuộc 3tỉnh: Hà Giang, Bến Tre, Thừa Thiên Huế Đồng thời để góp phần nâng cao chất lượngkhám chữa bệnh và tăng thêm tính hấp dẫn của mô hình khám chữa bệnh BHYT tại trạm
y tế xã, BHYT Việt Nam đã trình và được Hội đồng quản lý BHYT Việt Nam đồng ý vềmặt nguyên tắc việc hỗ trợ một phần kinh phí mua sắm trang thiết bị y tế cho trạm y tế xã
từ quỹ khám chữa bệnh BHYT còn kết dư
BHYT Việt Nam cũng đã trình Bộ Y tế đề nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định củaThông tư số 17/1998/TT-BYT ngày 19/12/1998 của Bộ y tế liên quan đế hoạt độngkhám chữa bệnh BHYT tại trạm y tế xã, phường
PHẦN 2: ĐỐI TƯỢNG & PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
I ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Trong nghiên cứu này chúng tôi tiến hành trên các đối tượng sau:
1 Trạm y tế xã: là nơi trực tiếp thực hiện việc quản lý, chăm sóc sức khỏe ban đầu và
khám chữa bệnh cho người tham gia BHYT cư trú tại xã Mỗi tỉnh, thành phố lựachọn ngẫu nhiên tối thiểu từ 10-15 trạm y tế xã để tiến hành khảo sát, nghiên cứu vàđánh giá hiệu quả chương trình đưa khám chữa bệnh BHYT về tuyến xã Nhómnghiên cứu đã tiến hành khảo sát, điều tra trên tổng số 191 trạm y tế xã thuộc 9 tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương đại diện cho các vùng kinh tế xã hội gồm: Hà Nội,Thái Nguyên, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Bình Dương, Bến Tre, Đồng Tháp, CầnThơ và thành phố Hồ Chí Minh
2 Cán bộ quản lý, nhân viên y tế : thuộc TTYT, trạm y tế xã với tổng số 311 phiếu
phỏng vấn
3 Người bệnh: đến khám chữa bệnh tại các trạm y tế xã là đối tượng trực tiếp thụ
hưởng các DVYT tại trạm y tế xã Nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn 1141bệnh nhân, trong đó có 718 bệnh nhân BHYT và 423 bệnh nhân chưa có BHYT
Trang 11II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1 Hồi cứu số liệu tại cơ quan BHYT và cơ sở KCB (TTYT và TYT xã) để tổng hợpphân tích đánh giá hiệu quả chương trình đưa khám chữa bệnh về xã qua các năm1998-2001;
2 Thu thập thông tin bằng phỏng vấn bệnh nhân, Lãnh đạo TTYT huyện, trạm y tế xã
và nhân viên y tế thông qua bộ câu hỏi theo phiếu phỏng vấn được chuẩn bị sẵn;
3 Xử lý số liệu trên máy tính
PHẦN 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
I CƠ CẤU, MỨC ĐÓNG THEO ĐỐI TƯỢNG THAM GIA BHYT CƯ TRÚ THEO ĐỊA BÀN XÃ
1 Cơ cấu đối tượng tham gia BHYT đăng ký quản lý, chăm sóc sức khỏe tại trạm
y tế xã
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát cơ cấu đối tượng tham gia BHYT đăng kýquản lý chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh ban đầu tại 191 trạm y tế tuyến xã thuộc 9tỉnh, thành phố tham gia đề tài này, kết quả thể hiện theo bảng 1 dưới đây:
Bảng 1: Cơ cấu đối tượng tham gia BHYT KCB tại trạm y tế xã
Trang 12Nhận xét:
1.1 Số người tham gia BHYT đăng ký khám chữa bệnh tại trạm y tế xã ngày càng tăng
Năm 1998 và 1999 do việc triển khai công tác này tại một số địa phương mới đang ở
giai đoạn thí điểm nên số người đăng ký khám chữa bệnh tại trạm y tế xã còn khiêm
tốn, những năm sau từ 2000-2001 có sự chỉ đạo của Bộ Y tế và BHYT Việt Nam về
việc tăng cường khám chữa bệnh BHYT tại tuyến y tế cơ sở nên số người tham gia
BHYT đăng ký khám chữa bệnh tại xã đã tăng gấp 2 lần (năm 2000) và 3 lần (năm
2001) so với năm 1998
1.2 Người có thẻ BHYT đăng ký khám chữa bệnh tại trạm y tế xã tập trung vào các
nhóm đối tượng sau:
- Cán bộ công chức thuộc các đơn vị hành chính sự nghiệp mang mã thẻ B1, trong
đó chủ yếu là giáo viên các trường tiểu học;
- Cán bộ thuộc diện hưu trí mất sức mang mã thẻ B6;
- Người có công với nước mang mã thẻ B7;
- Người nghèo có thẻ BHYT mang mã thẻ A7;
- Học sinh có thẻ BHYT mang mã thẻ T3
Cơ cấu đối tượng tham gia BHYT đăng ký khám chữa bệnh tại trạm y tế xã như trên
phẩn ánh đúng nhu cầu thực tế khám chữa bệnh của người tham gia BHYT tại tuyến y tế
cơ sở để khắc phục những hạn chế nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người bệnh tiếp
cận được với các dịch vụ y tế
1.3 Tỷ lệ % số thẻ đăng ký khám chữa bệnh tại trạm y tế xã cũng phản ánh đúng nhu cầu
thực tế của các nhóm đối tượng tham gia BHYT Đối tượng B1 có số lượng tương
Co cau doi tuong KCB tai TYT xa
9.7
2.55
14.9
18.11.73
25.20.14
27.6
0.01
Trang 13đối ổn định do đó khi các nhóm đối tượng khác như người nghèo (A7), học sinh (T3)
có số lượng thẻ phát hành cao lên thì tỷ lệ người tham gia BHYT mang mã thẻ B1 cógiảm đi từ 10,5% năm 1998 xuống còn 8,2% năm 2001
1.4 Đối tượng thuộc diện hưu trí mất sức và người có công với nước năm 1999 đăng kýkhám chữa bệnh tại trạm y tế xã có xu hướng giảm là do các đối tượng này có nhucầu trực tiếp khám chữa bệnh tại các TTYT cấp huyện Tuy nhiên, khi đã nhận thứcđược tính ưu việt của việc chăm sóc sức khỏe tại xã với các dịch vụ y tế và trình độchuyên môn của đội ngũ cán bộ y tế ngày càng được cải thiện thì tỷ lệ người thamgia BHYT thuộc các nhóm đối tượng này đăng ký khám chữa bệnh tại trạm y tế xãlại tăng nhanh trở lại
1.5 Người nghèo là nhóm đối tượng có thẻ BHYT đăng ký khám chữa bệnh tại trạm y tế
xã có tỷ lệ lớn nhất (35%) Điều này cho thấy chủ trương đưa khám chữa bệnhBHYT về xã là hoàn toàn phù hợp với nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho người thuộcdiện đói nghèo, góp phần phát huy hiệu quả của chính sách BHYT cho người nghèocủa Đảng và Nhà nước ta
1.6 Học sinh tham gia BHYT, chủ yếu là học sinh phổ thông cũng là nhóm đối tượng có
tỷ lệ được khám chữa bệnh tại trạm y tế xã cao (chiếm tới 39% các năm 1998 và1999; 27% năm 2000 và 19% năm 2001 Việc giảm tỷ lệ không phản ánh xu hướnggiảm đăng ký khám chữa bệnh tại trạm y tế xã của nhóm đối tượng này mà cónguyên nhân từ việc tăng nhanh số lượng thẻ BHYT cho người nghèo) Kết quả này
là do các địa phương đã chủ động áp dụng mô hình chăm sóc sức khỏe học sinh theocụm xã mà Thừa Thiên - Huế là đơn vị điển hình làm tốt công tác này
2 Mức đóng bình quân theo đối tượng tham gia BHYT đăng ký quản lý chăm sóc bảo vệ sức khỏe tại trạm y tế xã
2.1 Nghiên cứu, khảo sát mức đóng BHYT bình quân theo nhóm đối tượng
Nghiên cứu mức đóng BHYT của các đối tượng tham gia BHYT được khám chữabệnh tại trạm y tế xã nhằm mục đích tìm hiểu khả năng đảm bảo kinh phí từ quỹ khámchữa bệnh BHYT cho hoạt động khám chữa bệnh tại y tế cơ sở nói chung, trạm y tế xãnói riêng và xác định một tỷ lệ phân bổ quỹ thích hợp cho hoạt động này Nhóm nghiêncứu đã tìm hiểu mức đóng BHYT bình quân của các nhóm đối tượng có tỷ lệ khám chữabệnh tại trạm y tế xã cao nhất trong 3 năm từ 1999-2001 là những năm có mức lương tốithiểu cao nhất trong 10 năm thực hiện chính sách BHYT Kết quả nghiên cứu được trìnhbày theo bảng 2 dưới đây:
Bảng 2 : Mức đóng BHYT theo đối tượng từ 1999-2001
TT Đối tượng Mức đóng (đồng/người/năm) Bình quân 3 năm
Trang 142.1 Nhóm đối tượng có mức đóng cao nhất là giáo viên thuộc đối tượng hành chính sự
nghiệp mang mã thẻ B1 (153243 đ/người/năm) đây là nhóm đối tượng có số lượng
người tham gia đăng ký khám chữa bệnh tại trạm y tế xã vào mức trung bình và
tương đối ổn định qua các năm;
2.2 Đối tượng hưu trí, mất sức có mức đóng BHYT đứng vào hàng thứ hai và cũng là
nhóm đối tượng có số lượng khám chữa bệnh tại xã cao là một trong những điều kiện
thuận lợi cho việc đảm bảo nguồn kinh phí dành cho hoạt động khám chữa bệnh tại
trạm y tế xã;
2.3 Đối tượng người có công với nước, người nghèo có thẻ BHYT có mức đóng thấp
nhất trong số các đối tượng tham gia BHYT bắt buộc, đồng thời lại là nhóm có số
lượng người đăng ký khám chữa bệnh tại trạm y tế xã đống nhất Đây là một khó
khăn lớn cho việc đảm bảo nguồn quỹ khám chữa bệnh tại xã;
2.4 Học sinh là nhóm đối tượng thuộc diện tham gia BHYT tự nguyện có mức đóng bình
quân thấp nhất và số lượng được quản lý chăm sóc sức khỏe tại y tế cơ sở lớn nhất
(96113 người/2001) Tuy nhiên việc chăm sóc sức khỏe cho học sinh ở tại cơ sở y tế
19770 30000
64610 98010
63853 112467
153243
90 0
Trang 15này không đòi hỏi việc cung cấp dịch vụ y tế như các đối tượng tham gia BHYT bắtbuộc nêu trên Do đó giảm bớt được phần nào khó khăn cho cơ quan BHYT trongviệc cân đối nguồn quỹ đảm bảo cho công tác khám chữa bệnh tại trạm y tế xã;Nhìn chung với mức đóng bình quân như trên của các đối tượng tham gia BHYTđược quản lý chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh tại trạm y tế xã thì việc cân đốinguồn quỹ đảm bảo cho hoạt động này hiện đang gặp nhiều khó khăn đòi hỏi cơ quanBHYT phải xác định được một phương thức phân bổ quỹ cho phù hợp.
2.2 Dự tính nguồn quỹ khám chữa bệnh phục vụ hoạt động khám chữa bệnh BHYT tại trạm y tế xã
Căn cứ vào số lượng người tham gia BHYT đăng ký khám chữa bệnh tại trạm y tế
xã và mức đóng bình quân theo khảo sát ở phần trên có thể sơ bộ xác định phần kinh phídành cho hoạt động khám chữa bệnh BHYT tại trạm y tế xã trong 3 năm 1999-2001 theocông thức:
Q = T x 86,5% x 45% x 30%
Trong đó:
- Q: Nguồn quỹ dành cho khám chữa bệnh tại trạm y tế xã
- T: Tổng thu BHYT của các nhóm đối tượng khám chữa bệnh tại TYT xã
- 30%: Tỷ lệ quỹ KCB ngoại trú giả định chuyển về y tế xã
Bảng 3: Dự tính nguồn quỹ KCB BHYT tại trạm y tế xã từ 1999-2001
Số liệu quỹ khám chữa bệnh BHYT chuyển về trạm y tế xã được dự tính ở trên sẽ
là cơ sở để cơ quan BHYT dự báo khả năng cân đối và điều tiết quỹ khám chữa bệnhBHYT nói chung, quỹ khám chữa bệnh tại các trạm y tế xã nói riêng
II NGHIÊN CỨU NHU CẦU VÀ KHẢ NĂNG CUNG CẤP DỊCH VỤ Y TẾ PHỤC VỤ VIỆC CHĂM SÓC SỨC KHỎE BAN ĐẦU CHO NGƯÒI THAM GIA BHYT TẠI TRẠM Y TẾ XÃ
1 Cơ cấu bệnh tật và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người bệnh BHYT tại tuyến
y tế cơ sở
Trang 16Những nghiên cứu, khảo sát trong phần này nhằm mục tiêu xác định cơ cấu bệnh tật
theo nhóm đối tượng và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người bệnh có thẻ BHYT tại
trạm y tế xã
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát và thu thâp thông tin qua sổ khám chữa bệnh
ngoại trú tại 191 trạm y tế xã thuộc 9 tỉnh, thành phố nói trên
Kết quả khảo sát tổng số 1.755.978 lượt khám chữa bệnh tại trạm y tế xã cho thấy cơ
cấu bệnh tật tại tuyến xã tập trung chủ yếu vào 13 nhóm bệnh với 45 loại bệnh thường
gặp, được thống kê theo bảng 4 dưới đây:
khám chữa bệnh theo nhóm đối tượng tham gia BHYT đăng ký khám chữa bệnh tại 191
trạm y tế xã nói trên trong 4 năm từ 1998-2001
B ng 5: Th ng kê v c c u b nh t t v s l ảng 5: Thống kê về cơ cấu bệnh tật và số lượt khám chữa bệnh ống kê về cơ cấu bệnh tật và số lượt khám chữa bệnh ề cơ cấu bệnh tật và số lượt khám chữa bệnh ơ cấu bệnh tật và số lượt khám chữa bệnh ấu bệnh tật và số lượt khám chữa bệnh ệnh tật và số lượt khám chữa bệnh ật và số lượt khám chữa bệnh à số lượt khám chữa bệnh ống kê về cơ cấu bệnh tật và số lượt khám chữa bệnh ượt khám chữa bệnh t khám ch a b nh ữa bệnh ệnh tật và số lượt khám chữa bệnh
BHYT t i tr m y t xã ại trạm y tế xã ại trạm y tế xã ế xã
TT Chẩn đoán Số lượt khám Phân theo nhóm đối tượng
B1 B6 B7 B8 B9 A7 T3
Trang 1719 Suy nhược cơ thể 145582 10215 21534 16547 2452 2569 89654 2611
Trang 18VIII Các bệnh về da liễu
Cộng VIII 37123 5592 10422 9118 818 737 6910 1706
IX Các bệnh hệ sinh dục, tiết niệu
XII Các bệnh về răng, lợi
Trang 19và khám chưa bệnh BHYT tại trạm y tế xã;
Trang 201.2 Nhóm đối tượng thuộc diện cán bộ hưu trí, mất sức (B6), người có công với nước(B7) và người nghèo (A7) có số lượt khám chữa bệnh lớn nhất Điều này cho thấychủ trương đưa công tác khám chữa bệnh BHYT về tuyến y tế cơ sở (trạm y tế xã) làphù hợp với nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người tham gia BHYT, đặc biệt là đốitượng thuộc diện đói nghèo sẽ có khả năng tiếp cận hơn được với các dịch vụ y tếBiểu đồ dưới đây mô tả nhu cầu khám chữa bệnh của các đối tượng tham gia BHYTthông qua chỉ số về số lượt khám chữa bệnh tại trạm y tế xã, phường.
Thống kê sau đây cho thấy 20 loại bệnh có số lượt khám chữa bệnh cao nhất tạitrạm y tế xã trong 4 năm từ 1998-2001 (xem bảng 6)
B ng 6: Th ng kê 20 ch n oán có s l ảng 5: Thống kê về cơ cấu bệnh tật và số lượt khám chữa bệnh ống kê về cơ cấu bệnh tật và số lượt khám chữa bệnh ẩn đoán có số lượt khám chữa bệnh BHYT đoán có số lượt khám chữa bệnh BHYT ống kê về cơ cấu bệnh tật và số lượt khám chữa bệnh ượt khám chữa bệnh t khám ch a b nh BHYT ữa bệnh ệnh tật và số lượt khám chữa bệnh nhi u nh t t i tr m y t xã t 1998-2001 ề cơ cấu bệnh tật và số lượt khám chữa bệnh ấu bệnh tật và số lượt khám chữa bệnh ại trạm y tế xã ại trạm y tế xã ế xã ừ 1998-2001
182278 381779
42659 47107
368977 467169
264934
So luot Kham chua benh theo doi tuong
Trang 21TT Chẩn đoán Số lượt khám Phân theo nhóm đối tượng
Trong 20 loại bệnh có số lượt khám chữa bệnh cao nhất theo thống kê trên, đáng chú
ý là có đến 10 loại bệnh thuộc loại mãn tính hoặc sẽ chuyển sang bệnh mãn tính Do đó
số lượt khám chữa bệnh của các nhóm đối tượng này sẽ có xu hướng ngày càng tăng
Những số liệu thống kê này sẽ có ý nghĩa lớn trong việc đảm bảo cung cấp các dịch vụ y
tế tại xã cũng như cân đối nguồn tài chính đảm bảo cho hoạt động khám chữa bệnh tại
các cơ sở y tế này
2 Khả năng đáp ứng dịch vụ y tế của trạm y tế xã
Để nghiên cứu khả năng đáp ứng các dịch vụ y tế cho người tham gia BHYT khám
chữa bệnh tại trạm y tế xã, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát, điều tra trên 3 lĩnh
vực:
- Khảo sát năng lực chuyên môn của cán bộ y tế công tác tại trạm y tế xã;
- Thống kê các dịc vụ kỹ thuật y tế được thực hiện tại các cơ sở y tế này;
- Tình hình đầu tư trang thiết bị y tế tại trạm y tế xã
Kết quả nghiên cứu, khảo sát, điều tra được trình bày theo bảng 7,8,9 dưới đây:
Bảng 7: Thống kê trình độ chuyên môn của cán bộ y tế tại trạm y tế xã
TT Đơn vị Số TYT Trình độ chuyên môn
Trang 22Bảng 8: Thống kê danh mục các DVKT thực hiện tại trạm y tế xã
TT Tên dịch vụ kỹ thuật
(theo dự thảo phân cấp của Bộ Y tế) Số TYT xã đã thực
hiện
Số TYT xã chưa thực hiện
Tỷ lệ
%
2 Cấp cứu ban đầu cơn khó thở thanh quản ở trẻ
em
20 Khám và điều trị các bệnh ngoài da thông
thường: ghẻ, hắc lào, mụn nhọt
21 Điều trị những bệnh cơ xương khớp thông
thường: đau cột sống, viêm cơ,đau xương khớp
không có biểu hiện nhiễm trùng
22 Điều trị tiếp tục những bệnh xương khớp mãn
tính đã được chẩn đoán ở tuyến trên: viêm đa
khớp dạng thấp, lao xương khớp, thấp khớp
cấp, đau thần kinh tọa
26 Điều trị ỉa chảy cấp, bù dịch đường uống 191 0 100
Trang 2331 Điều trị sốt xuất huyết giai đoạn I,II 191 0 100
34 Điều trị bước đầu các trường hợp sốt từ 2-3
ngày không rõ nguyên nhân
35 Điều trị sốt rét thể thông thường: điều trị cắt
cơn đúng phác đồ, điều trị tái phát
39 Sơ cứu chấn thương các loại, cầm máu tạm thời 191 0 100
41 Cố định tạm thời các loại gãy xương, sai khớp
42 Cắt tháo bột theo hướng dẫn của tuyến trên 174 17 91
43 Chích các apxe nhỏ hoặc chọc các apxe phấn
48 Hồi sức sơ sinh dị dạng,sơ sinh bệnh lý 191 0 100
53 Phát hiện viêm gai vi rút thể hoàng đản 96 95 50,3
54 Phát hiện viêm màng não cấp, viêm não Nhật
55 Điều trị viêm gan virut thể trung bình 145 46 76
57 Phát hiện người bệnh đục thủy tinh thể, glocom 191 0 100
58 Điều trị viêm kết mạc và viêm bờ mi thông
thường
64 Điều trị nhọt ống tai ngoài, chàm vành tai 92 99 48
Trang 2470 Xét nghiệm công thức máu 77 114 40,3
Bảng 9: Thống kê tình hình đầu tư trang thiết bị y tế tại trạm y tế xã
TT Tên trang thiết bị Đơn
vị
Tình hình trang bị
Số TYT được trang bị
Số TYT chưa được trang bị
Trang 25- 48 trạm y tế có cán bộ y tế là y sỹ trung học, đạt 25%
- 7% số trạm y tế xã còn lại là cán bộ sơ cấp phụ trách
So với tỷ lệ chung của toàn quốc tính đến năm 2001 là 43% số trạm y tế xã có bác sỹthì trình độ chuyên môn của cán bộ y tế tại các trạm y tế xã được khảo sát là tương đốicao, đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh cho người bệnh nói chung, người tham giaBHYT nói riêng (xem bảng 7);
2.2 Nghiên cứu khả năng thực hiện các dịch vụ kỹ thuật y tế tại trạm y tế xã cho thấy hầuhết các cơ sở y tế tuyến xã đã thực hiện được các xét nghiệm thông thường và các thủthuật theo phân cấp thực hành quản lý kỹ thuật y tế do Bộ Y tế quy định Việc thựchiện các dịch vụ kỹ thuật phụ thuộc rất nhiều vào trình độ chuyên môn của đội ngũcác bộ y tế xã và trang thiết bị của trạm y tế Một số trạm y tế xã có bác sỹ và đượctrang bị tốt hơn có thể thực hiện được các dịch vụ kỹ thuật phức tạp hơn như nhổrăng, lấy cao răng (xem bảng 8);
2.3 Số liệu thống kê tại bảng 9 cho thấy trang thiết bị y tế tại các trạm y tế xã được khảosát về cơ bản đáp ứng được cho hoạt động khám chữa bệnh thông thường
III NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH MỘT SỐ YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KHÁM CHỮA BỆNH BHYT TẠI TRẠM Y TẾ XÃ
Để xác định các yếu tố quyết định hiệu quả hoạt động khám chữa bệnh BHYT tạitrạm y tế xã, phường, nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn 311 cán bộ quản lý, nhânviên y tế thuộc các Trung tâm y tế (73) và Trạm y tế xã (238) tham gia đề tài nghiên cứu.Kết quả thăm dò được trình bày theo bảng 10 dưới đây:
Bảng 10: Kết quả thăm dò cán bộ lãnh đạo TTYT huyện và TYT xã