1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận về thời hạn và thời hiệu trong pháp luật dân sự

16 75 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 123,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, vấn đề nhận thức đúng, áp dụng pháp luật thống nhất, cần nắm rõ các quy định về thời hạn, cách tính thời hạn trong đó lưu ý căn cứ tính thời hạn, thời điểm tính thời hạn, cách xác

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BỘ MÔN LUẬT DÂN SỰ

-TIỂU LUẬN GIỮA KÌ MÔN LUẬT DÂN SỰ I

GV: TS Đỗ Giang Nam

ĐỀ TÀI: THỜI HẠN VÀ THỜI HIỆU TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ

Sinh viên thực hiện: Nhóm …/ Lớp … – K… Luật học

Trưởng nhóm

HÀ NỘI – 2021

Trang 2

MỞ ĐẦU

Thời gian theo khái niệm chung nhất dưới góc độ triết học là một khái niệm thể hiện trình tự biến đổi cùa thế giới bằng vật chất Thời gian luôn mang tính khách quan, không có bắt đầu và kết thúc, trôi dần đều theo một chiều duy nhất và không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người

Về khái niệm thời gian trong pháp luật nói chung và pháp luật dân sự nói riêng, có hai chế định đặc biệt: thời hạn và thời hiệu Chế định thời hạn, thời hiệu

là một trong chế định quan trọng trong pháp luật dân sự và tố tụng dân sự Nhận thức đúng và áp dụng nghiêm chỉnh, thống nhất về thời hạn, thời hiệu và cách tính thời hạn, thời hiệu trong pháp luật dân sự và tố tụng dân sự có ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự

Trong quá trình nhận đơn khởi kiện và thụ lý, giải quyết các vụ, việc dân sự liên quan nhiều đến việc xác định thời hạn như: thời hạn giải quyết đơn, giao nộp chứng cứ, thời hạn giao, thông báo, cấp các văn bản tố tụng, thời hạn chuẩn bị xét

xử, thời hạn kháng cáo, kháng nghị… Bên cạnh đó, trong quá trình giải quyết các

vụ việc cũng cần xác định vụ việc đó có còn thời hiệu hay không để đưa ra phán quyết phù hợp Pháp luật tố tụng dân sự quy định về thời hạn tố tụng, thời hiệu và việc áp dụng quy định của Bộ luật dân sự về thời hạn, thời hiệu Tuy nhiên, trong quá trình thực tiễn áp dụng cách tính thời hiệu còn có cách hiểu chưa thống nhất, nhận thức chưa đúng với quy định của pháp luật Đặc biệt, Bộ luật dân sự, Bộ luật

tố tụng dân sự được Quốc hội thông qua ngày 24/12/2015 có quy định mới so với

Bộ luật dân sự năm 2005, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 Do đó, vấn đề nhận thức đúng, áp dụng pháp luật thống nhất, cần nắm rõ các quy định về thời hạn, cách tính thời hạn (trong đó lưu ý căn cứ tính thời hạn, thời điểm tính thời hạn, cách xác định thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc) là cần thiết

Trang 3

I Thời hạn

1 Định nghĩa

Thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác Thời hạn có thể được xác định bằng phút, giờ, ngày, tuần, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện có thể sẽ xảy ra Trong quan hệ pháp luật dân sự, thời hạn rất quan trọng, thời hạn sẽ xác định tính hợp pháp của giao dịch, dựa vào thời hạn

sẽ xác định được hành vi vi phạm của chủ thể vi phạm ngoài ra thời hạn là điều kiện để thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể

Thời hạn là một khoảng thời gian có điểm đầu và điểm cuối xác định Thời hạn vừa mang tính khách quan của thời gian nói chung đồng thời mang tính chủ quan của người định ra điểm đầu và điểm cuối

Trong giao lưu dân sự, thời hạn có vai trò quan trọng trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của chủ thể tham gia Thời hạn với tư cách là một sự kiện pháp lý đặc biệt làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong những trường hơp do pháp luât quy định hoặc các bên thoả thuận

2 Cách tính hạn trong pháp luật dân sự Việt Nam

Theo điều 147 bộ Luật Dân sự 2015:

“1 Khi thời hạn được xác định bằng phút, giờ thì thời hạn được bắt đầu từ thời điểm đã xác định.

2 Khi thời hạn được xác định bằng ngày, tuần, tháng, năm thì ngày đầu tiên của thời hạn không được tính mà tính từ ngày tiếp theo liền kề ngày được xác định.

3 Khi thời hạn bắt đầu bằng một sự kiện thì ngày xảy ra sự kiện không được tính

mà tính từ ngày tiếp theo liền kề của ngày xảy ra sự kiện đó”

Như vậy, trừ trường hợp thời hạn được xác định chính xác bằng phút, giờ,

thì thời hạn sẽ được tính từ ngày tiếp theo liền kề ngày được xác định

Đối với việc xác định kết thúc thời hạn, điều 148 bộ Luật Dân sự 2015 quy

định rõ thời hạn kết thúc vào thời điểm cuối cùng của ngày thời hạn kết thúc,

trừ trường hợp ngày cuối cùng đó là ngày nghỉ cuối tuần hoặc ngày nghỉ lễ, thì thời hạn kết thúc vào thời điểm kết thúc ngày làm việc tiếp theo

3 Phân loại thời hạn

Trang 4

Dựa vào tính chất, chủ thể, đối tượng áp dụng của thời hạn, có thể phân loại thời hạn như sau:

Một là, thời hạn do pháp luật quy định Khái niệm này xuất hiện phần nhiều

ở các quy trình xử lí công việc hành chính, đặc biệt là trong tố tụng dân sự Ví dụ:

khoản 1, Điều 338 bộ Luật tố tụng Dân sự 2015: “ Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu là 01 tháng, kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu; hết thời hạn này, Tòa án phải ra quyết định mở phiên họp để xét đơn yêu cầu” Thời hạn do pháp luật quy định là bất di bất dịch, chủ thể hay đối tượng

không được phép thay đổi

Hai là, thời hạn do cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác lập Những thời hạn này thường xuất hiện trong những trường hợp cụ thể Ví dụ: theo Quyết định 20/2020/QĐ-UBND của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế về việc quy định thời hạn gửi báo cáo quyết toán năm của các đơn vị dự toán trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế quy định như sau: “Thời hạn gửi báo cáo quyết toán ngân sách năm của các đơn

vị dự toán, đối với đơn vị dự toán cấp 1 thuộc các ngành Giáo dục, Y tế, Văn hóa,

… là trước ngày 30 tháng 7 năm sau.” Tuy nhiên, cần phải chú ý thời hạn do cơ

quan nhà nước có thẩm quyển xác lập phải tuân thủ thời hạn do pháp luật quy định, nếu không thời hạn đó sẽ là vô hiệu

Ba là, thời hạn do các bên tham gia giao dịch dân sự tự thỏa thuận với nhau.

Đây là thời hạn thường thấy nhất trong pháp luật dân sự, đặc biệt là trong các hợp đồng thông thường đều có các điểu khoản về thời hạn giao hàng, thời hạn thanh toán, … Pháp luật dân sự thừa nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự

4 Một số vấn đề về thời hạn

Việc áp dụng thời hạn, cách tính thời hạn trong quá trình thụ lý, giải quyết các vụ án dân sự đã được pháp luật qui định, tuy nhiên vẫn còn có cách hiểu chưa thống nhất của người tiến hành tố tụng, giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, dẫn đến

áp dụng pháp luật không nghiêm minh, không thống nhất, vi phạm về thời hạn tố tụng

Việc xác định thời hạn đã được quy định rõ trong điều 147 và điều 148 bộ Luật Dân sự 2015, tuy nhiên trên thực tế, có nhiều trường hợp khiến cho việc xác định thời hạn khá phức tạp, đòi hỏi chủ thể và đối tượng phải nắm chắc

a) Quy đổi về đơn vị thời hạn

Trang 5

Có rất nhiều trường hợp về thời hạn dễ nhầm lẫn nhất của các chủ thể và đối tượng trong thực tế giao dịch dân sự, khiến nảy sinh nhiều tranh chấp không đáng

có Ví dụ: trên điều khoản thời gian giao hàng quy định cụ thể, đảm bảo mỗi đơn giao hàng không quá 08 tuần kể từ ngày kí đơn hàng Như vậy, thời hạn được xác

định ở hợp đồng dân sự này là “không quá 08 tuần kể từ ngày kí đơn hàng” Tranh

chấp xảy ra: khách giải thích 08 tuần là 07 ngày/tuần x 8 = 56 ngày ; công ty giao hàng giải thích 08 tuần là 2 tháng, 30 ngày/tháng x 2 = 60 ngày

Theo điều 146 bộ Luật Dân sự 2015, quy định về cách quy đổi như sau:

Như vậy với bảng quy đổi trên thì cách tính của khách hàng là đúng, cách tính của công ty vận chuyển là sai

b) Nhầm lẫn về thời điểm bắt đầu và kết thúc thời hạn Khái niệm “ngày được xác định”

Điều này xảy ra khi thời hạn được xác định bằng ngày, tuần, tháng, năm Ngày đầu tiên của thời hạn được gọi là ngày “được xác định” hay gọi theo cách khác là điểm “mốc” thời gian để xác định thời hạn Thời điểm kết thúc thời hạn là thời điểm kết thúc của ngày cuối cùng của thời hạn (24 giờ) Nếu ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ (nghỉ cuối tuần, ngày lễ), thì thời hạn kết thúc vào

24 giờ của ngày làm việc đầu tiên tiếp theo của ngày nghỉ đó

Ví dụ 1: Ngày 5/03/2016 , Tòa án có thẩm quyền đã thụ lý vụ án, thì trong thời hạn 3 ngày làm việc phải thông báo bằng văn bản cho đương sự và cho Viện kiểm sát cùng cấp “Thông báo về việc thụ lý vụ án” Đây là trường hợp thời hạn tính bằng ngày nên thời hạn 3 ngày làm việc được tính bắt đầu từ ngày tiếp theo

Trang 6

của ngày được xác định (5/03/2016 ), tức là kể từ ngày 6/03/2016 (trừ thứ 7, Chủ nhật), ngày kết thúc thời hạn là thời điểm kết thúc của ngày 10/03/2016 Nếu sang ngày 11/03/2016, Tòa án mới gửi Thông báo về việc thụ lý vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp là vi phạm thời hạn tố tụng

Ví dụ 2: Ngày 11/03/2016, Tòa án có thẩm quyền đang giải quyết vụ án dân

sự tổ chức phiên hòa giải, tại phiên hòa giải cùng ngày, các đương sự đã thỏa thuận với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án nên Tòa án đã lập biên bản biên bản hòa giải thành, biên bản kết thúc vào hồi 11 giờ ngày 11/03/2016 Giả sử các đương sự đều không có ý kiến gì về sự thỏa thuận đó, thì xác định ngày nào là ngày Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (ngày 18/12; ngày 19/12 hay ngày 21/12/2016?)

Tại khoản 1 Điều 212 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Hết bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự” Nếu hiểu theo ý nghĩa câu chữ thông thường thì thời hạn 7 ngày

ở đây được tính cả ngày lập biên bản, nghĩa là kết thúc ngày 17/03/2016 là hết thời hạn để đương sự thực hiện quyền thay đổi ý kiến, sang ngày 18/03/2016, Thẩm phán có quyền ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

Tuy nhiên, cách tính thời hạn tố tụng xác định theo ngày phải thực hiện theo đúng quy định tại về xác định thời điểm bắt đầu thời hạn, kết thúc thời hạn (xem khoản 2 Điều 147, khoản 1 Điều 148 Bộ luật dân sự 2015) Ngày lập biên bản (11/03/2016) là “ngày được xác định” (ngày làm “mốc” thời gian để tính thời hạn) không được tính, thời điểm bắt đầu tính thời hạn là ngày 12/03 nên thời điểm kết thúc thời hạn 7 ngày là thời điểm kết thúc của ngày 18/03/2016 Vì vậy, bước sang ngày 19/03/2016, thẩm phán mới có quyền ra quyết định công nhận sự của các đương sự Trường hợp ngày thứ 7 (ngày nghỉ cuối tuần) cơ quan không tổ chức làm thêm giờ thì ngày 21/103/2016, thẩm phán ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự là đúng pháp luật, không vi phạm thời hạn tố tụng

Các tính thời hạn để thực hiện quyền kháng cáo, kháng nghị cũng được tính tương tự Ví dụ: ngày tuyên án là ngày được xác định, ngày bắt đầu tính thời hạn là ngày đầu tiên kế tiếp liền kề ngày tuyên án Ngày kết thúc thời hạn trùng vào ngày nghỉ, lễ, tết, thì ngày kết thúc chuyển sang ngày làm việc đầu tiên tiếp theo liền kề

II Thời hiệu

1 Định nghĩa

Trang 7

“Thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định.” - khoản 1

điều 149 Bộ luật Dân sự 2015

Trong giao lưu dân sự chủ thể tham gia quan hệ dân sự được hưởng các quyền và phải thực hiện các nghĩa vụ dân sự

Sự ổn định các quan hệ dân sự là một trong những mục đích điều chỉnh của pháp luật dân sự Mặt khác, đối tượng của giao lưu dân sự chủ yếu là tài sản để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng, sản xuất, kinh doanh, cho nên tài sản luôn có sự biến đổi về hình thức và tính năng, tác dụng Do vậy cùng với sự thay đổi về thời gian thì tài sản có thể không còn tồn tại

Khi có hành vi vi phạm đến quyền tài sản của mình, người khởi kiện phải chứng minh nguồn gốc tài sản, loại tài sản, hình thức của tài sản… Tuy nhiên, với thời gian càng lâu thì việc chứng minh càng gặp khó khăn và nhiều trường hợp không thể chứng minh được

Do vậy pháp luật quy định một thời hạn nhất định cho sự phát sinh, tồn tại

hay chấm dứt quyền nghĩa vụ dân sự, thời hạn này được gọi là thời hiệu Thời hiệu

là thời hạn do pháp luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được hưởng quyền dân sự, được miễn trừ nghĩa vụ dân sự hoặc mất quyền khởi kiện

(Điều 150 Bộ luật Dân sự 2015)

Như vậy, thời hiệu là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định

2 Phân loại

a) Thời hiệu hưởng quyền dân sự:

Là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó, chủ thể được hưởng quyền dân sự Không phải bất kỳ quyền dân sự nào cũng có thể được xác lập theo thời hiệu mà chỉ trong những trường hợp được pháp luật quy định

Ví dụ: Khoản 1 Điều 247 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời hiệu làm phát sinh quyền sở hữu tài sản của người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật phải thỏa mãn điều kiện ngay tình, liên tục, công khai

b) Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự:

Trang 8

Là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó thì người có nghĩa vụ dân sự được miễn việc thực hiện nghĩa vụ đó (Khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015)

c) Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện hoặc nộp đơn yêu cầu để Tòa

án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện hoặc quyền yêu cầu

(Khoản 3, Khoản 4 Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015)

d) Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự

Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được hiểu là thời hạn mà chủ thể được quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền yêu cầu trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

3 Cách tính thời hiệu

Cách tính thời hiệu khởi kiện được tính bắt đầu từ thời điểm quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật quy định khác (Điều 159 Bộ luật Dân sự năm 2005)

Cách tính thời hiệu hưởng quyền dân sự và miễn trừ nghĩa vụ dân sự được tính từ thời điểm bắt đầu ngày đầu tiên và chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu

Cách tính thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được tính từ ngày phát sinh quyền yêu cầu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

4 Ý nghĩa trong pháp luật dân sự

Thời hiệu đóng một vai trò quan trọng trong việc ổn định các quan hệ dân

sự Nếu không quy định thời hiệu, mỗi chủ thể tham gia vào quan hộ dân sự luôn

bị đe dọa bởi tranh chấp có thể xảy ra, làm ảnh hưởng đến quyền lợi và đời sống của họ Hơn nữa các căn cứ phát sinh quan hệ dân sự do thời gian làm cho quá trình chứng minh phức tạp Khi giải quyết các tranh chấp dân sự, Toà án cần phải

Trang 9

tiến hành điều tra thu thập chứng cứ để xác định sự thật khách quan nên nếu thời gian đã qua đi quá lâu, quá trình thu thập chứng cứ khó bảo đảm chính xác

Thời hiệu sẽ mang ý nghĩa rất quan trọng trong việc ổn định tất cả các mối quan hệ về dân sự của chủ thể Điều này cũng giảm việc tranh chấp giữa các cá nhân về các vấn đề dân sự liên quan đến tài sản, quyền sở hữu khác Điều đó tạo điều kiện cho cuộc sống của người dân trở nên bình yên, an ổn hơn rất nhiều

5 Thời hiệu trong pháp luật dân sự Việt Nam qua các thời kì

Các quy định về thời hiệu đã tồn tại trong lịch sử lập pháp trước đây:

a) Trong giai đoạn luật cổ Việt Nam:

Theo sử liệu thì thời hiệu dân sự đã từng được ghi nhận dưới thời Lý – Trần

và dưới triều Lê Tháng giêng năm Đại Định thứ ba (1142), vua Lý Anh Tông (1128 – 1175) khi ban hành quy định về việc kiện tụng và chuộc lại ruộng đất đã

định rằng “Các ruộng cày cấy đã đem cầy cấy có thể chuộc lại trong một hạn là hai mươi năm Các vụ tương tranh về điền thổ không thể xin vua xét xử sau một thời hạn 5 hay 10 năm Phàm vườn ruộng bỏ hoang, đã có người cầy cấy, người chủ chỉ có quyền đòi lại trong hạn một năm Trái lệnh này, sẽ phải phạt 80 trượng Các ruộng cày cấy hoặc bỏ hoang, đã có văn tự bán đứt, không thể chuộc lại được – Ai trái lệnh cũng phải phạt cùng một tội” Giáo sư Vũ Văn Mẫu nhận xét rằng

“Đây là điều luật cổ nhất ngày nay ta còn thấy ghi chép rõ ràng trong sử về quy chế các điền thổ – Đạo luật ấy đã bênh vực quyền lợi của nông dân” và “Để cho người dân quê tránh khỏi nạn bóc lột của chủ nợ thường manh tâm chiếm đoạt của

họ, Vua Lý Anh Tông đã ấn định một thời hạn khá dài là 20 năm, cho phép họ được chuộc lại ruộng đất trong thời hạn ấy”

Nếu so sánh với các quy định về thời hiệu dân sự trong pháp luật đương đại của một số nước điển hình trên thế giới (kể cả các cải cách về thời hiệu trong thời gian gần đây) thì quy định trên về thời hiệu dân sự có thể xem là một thành tựu lập pháp trong cổ luật Việt Nam cả về phương diện kỹ thuật và tính nhân bản của pháp luật Dưới góc nhìn lập pháp thời nay, trong bối cảnh “đất chật người đông”, “tấc đất tấc vàng” thì quy định về thời hiệu thủ đắc trong hạn một năm đối với ruộng đất bỏ hoang dường như là quá dễ dãi với người chiếm hữu và việc bảo vệ quyền lợi của chủ đất cũ đã không được chú trọng Tuy nhiên, điều này hoàn toàn có thể giải thích, bởi bối cảnh cổ xưa của nền văn minh nông nghiệp, tình trạng đất đai bị hoang hoá và sự cần thiết phải thực hiện chính sách “trọng nông” đối với các vương triều phong kiến Việt Nam Việc coi trọng quyền lợi của người nông dân đã thực sự cầy cấy những ruộng đất bỏ hoang và coi họ như sở hữu chủ những ruộng

Trang 10

đất ấy sau một năm cầy cấy là một chính sách pháp luật nhằm hạn chế tình trạng

bỏ hoang hoá ruộng đất, không có người khai thác

Giáo sư Vũ Văn Mẫu nhận xét rằng “Luật pháp triều Lý có một tính cách rất thiết thực Sự bênh vực quyền lợi của lớp nông dân không phải là một chính sách hoàn toàn đạp đổ quyền sở hữu trong mọi trường hợp Vì vậy, nhà làm luật

đã phân biệt rõ ràng sự cầm cố với sự bán đứt hay đoạn mại các ruộng nương Trong trường hợp có văn tự biên rõ là đoạn mãi, các ruộng nương không thể chuộc lại được Đây là một nguyên tắc rất cần thiết cho tính cách vững ổn các hợp đồng đã được ký kết giữa các tư nhân Nhờ nguyên tắc ấy, các sự mua bán mới có một căn bản vững chắc, và các sự kiện tụng mới mong giảm bớt được”

Tinh thần căn bản nói trên về thời hiệu cũng được kế thừa trong pháp luật triều Trần và triều Lê Năm 1299, Vua Trần Anh Tông có chiếu định rằng ai đã bán ruộng đất và gia nhân làm nô tỳ trong hai năm 1290, 1291 thì cho chuộc về, để quá hạn năm 1299 thì không cho chuộc Có lẽ do xuất phát từ nền văn minh nông nghiệp nên pháp luật về thời hiệu dân sự dưới các vương triều phong kiến Việt Nam đều chú trọng tới vấn đề ruộng đất Dưới triều Lê, Điều 387 Bộ luật Hồng Đức định rằng, đối với những ruộng đất cầm mà chủ ruộng xin chuộc thì phải trong niên hạn “Nếu quá niên hạn mà xin chuộc thì không được (niên hạn là 30 năm) Trái lẽ mà cố cưỡng đi kêu, thì phải phạt 50 roi, biếm một tư” (Điều 384) Ngoài

ra, “Con trai từ 16 tuổi, con gái từ 20 tuổi trở lên, mà ruộng đất của mình để người trưởng họ hay người ngoài cày hay ở, đã quá niên hạn mới cố cưỡng đòi lại, thì phải phạt 80 trượng và mất ruộng đất (niên hạn: người trưởng họ 30 năm, người ngoài 20 năm) Nếu vì binh hoả hay đi siêu bạt mới về, thì không theo luật này”.

Như vậy, các quy định về thời hiệu trên cho thấy pháp luật chỉ nói đến việc mất quyền do hết thời hiệu như quá hạn luật định thì chủ ruộng đất cũ không được đòi hay chuộc lại tài sản, còn quyền thủ đắc theo thời hiệu của người đang thực thụ chiếm hữu ruộng đất chỉ là quy định có tính ẩn ngầm về sự thủ đắc Dường như có một mối liên hệ chặt chẽ giữa sự mất quyền của chủ ruộng đất cũ và sự thủ đắc quyền lợi của người chiếm hữu ruộng đất dựa trên các quy định về thời hiệu trong

cổ luật Ngoài ra, thời hiệu chấm dứt quyền theo cổ luật Việt Nam là tương đối dài Quy định ngoại lệ về thời gian không tính vào thời hiệu do “binh hoả hay đi siêu bạt mới về” là một thành tựu thể hiện sự mềm dẻo và tinh tế trong tư duy lập pháp của ông cha ta Ngày nay, chúng ta có thể tìm thấy tính hợp lý của cách tư duy này trong các định chế của phương Tây và luật thực định Việt Nam về thời gian không tính vào thời hiệu do trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng

Ngày đăng: 08/11/2021, 15:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Như vậy với bảng quy đổi trên thì cách tính của khách hàng là đúng, cách tính của công ty vận chuyển là sai - Tiểu luận về thời hạn và thời hiệu trong pháp luật dân sự
h ư vậy với bảng quy đổi trên thì cách tính của khách hàng là đúng, cách tính của công ty vận chuyển là sai (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w