Phân tích căn cứ pháp lý của điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự Thứ nhất: Chủ thể tham gia giao dịch có năng lực pháp luạt dân sự dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao
Trang 1Mục lục
I.Lý luận chung 2
1 Giao dịch dân sự 2
1.1 Khái niệm giao dịch dân sự 2
1.2 Đặc điểm 2
1.3 Ý nghĩa 2
1.2 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự 3
1.3 Hình thức của giao dịch dân sự 6
2 Giao dịch dân sự vô hiệu 8
2.1 Khái niệm 8
Phân loại giao dịch dân sự vô hiệu 9
3 Người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự 10
3.1 Khái niệm người thứ ban ngay tình 10
3.2 Điều kiện để xác định người thứ ban ngay tình 10
II Các trường hợp bảo vệ người thứ ban gay tình trong giao dịch dân sự 11
1 Trường hợp thứ nhất 11
2 Trường hợp thứ hai 12
3 Trường hợp thứ ba 12
III Thực tiễn áp dụng pháp luật để bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình và một số kiến nghị 12
Trang 2Lý luận chung
1 Giao dịch dân sự
1.1 Khái niệm giao dịch dân sự
Theo Điều 116 BLDS 2015: giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp
lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự
Khái niệm giao dịch dân sự được luật quy định dưới dạng liệt kê, theo đó phạm vi giao dịch dân sự được đề cập đến với hai loại: hợp đồng và hành vi pháp
lý đơn phương Cho dù là hợp đồng hay hành vi phám lý đơn phương thì cũng đều phải nhằm làm phát sinh hậu quả pháp lý nhất định, đó là làm “phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự là các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được pháp luật bảo đảm thực hiện
1.2 Đặc điểm
Phải thể hiện được ý chí của các bên tham gia Khi tham gia giao dịch dân
sự chủ thể muốn đạt được mục đích nhất định nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng
Chế tài giao dịch mang tính chất bắt buộc nhưng cũng rất linh hoạt theo nguyên tắc thỏa thuận, tự do cam kết và xây dựng chế tài
Các bên tham gia giao dịch phải tự nguyện, phản ánh được sự thống nhất ý chí của các bên
Nội dung của giao dịch không được trái pháp luật và đạo đức xã hội Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi các lập giao dịch đó
1.3 Ý nghĩa
Từ khái niệm giao dịch dân sự được quy định tại điều 121 bộ luật dân sự có thể xác định: Hậu quả của việc xác lập giao dịch dân sự là làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự Giao dịch dân sự là một sự kiện pháp lí (hành vi pháp lí đơn phương hoặc đa phương – một bên hoặc nhiều bên) làm phát sinh hậu quả pháp lí Tuỳ từng giao dịch cụ thể mà làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự Giao dịch là hành vi có ý thức của chủ thể nhằm đạt được mục đích nhất định, cho nên giao dịch dân sự là hành vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch, với những mục đích và động cơ nhất định
Trong giao dịch dân sự có ý chí và thể hiện ý chí của chủ thể tham gia giao dịch Ý chí là nguyện vọng, mong muốn chủ quan bên trong của con người mà nội
Trang 3dung của nó được xác định bởi các nhu cầu về sản xuất, tiêu dùng của bản thân họ.
Ý chí phải được thể hiện ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định để các chủ thể khác có thể biết được ý chí của chủ thể muốn tham gia đã tham gia vào một giao dịch dân sự cụ thể Bởi vậy, giao dịch dân sự phải là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí Thiếu sự thống nhất này, giao dịch dân sự có thể bị tuyên bố là vô hiệu hoặc sẽ vô hiệu Điều này không chỉ đúng với cá nhân mà đúng với cả pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác Bởi khi xác lập giao dịch dân sự các chủ thể này đều thông qua người đại diện Người đại diện thể hiện ý chí của pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác trong phạm vi thẩm quyền đại diện
Giao dịch dân sự là căn cứ phổ biến, thông dụng nhất trong các căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự; là phương tiện pháp lí quan trọng nhất trong giao lưu dân sự, trong việc dịch chuyển tài sản và cung ứng dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của tất cả các thành viên trong xã hội Trong nền sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường, thông qua giao dịch dân
sự (hợp đồng) các chủ thể đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh và các nhu cầu khác trong đời sống hàng ngày của mình
1.2 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
1.2.1 Căn cứ pháp lý
Điều 117 BLDS 2015 quy định: Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:
1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ điều kiện sau đây:
a Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập
b Chủ thể tham gia gioa dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện
c Muc đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo dức xã hội
2 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định
1.2.2 Phân tích căn cứ pháp lý của điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
Thứ nhất: Chủ thể tham gia giao dịch có năng lực pháp luạt dân sự dân
sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập
Chủ thể bao gồm: Cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình và tổ hợp tác
Trang 4Cá nhân: Chỉ những người có năng lực hành vi mới có ý chí và nhận thức được hành vi của mình để tự xác lập quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân
sự đồng thời chịu trách nhiệm với nó Giao dịch dân sự do cá nhân xác lập chỉ có hiệu lực nếu phù hợp với mức độ năng lực hành vi được quy định từ Điều 16 đến Điều 21 BLDS 2015
- Người đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp
bị toag án tuyên bố mất năng lực hành vi, tuyên bố hạn chế năng lực hành vi Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ được toàn quyền xác lập mọi giao dịch dân sự
- Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ, khi xác lập thực hiện giao dịch dân sự phải có sự đồng ý của người dại diện theo pháp luật trừ những giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi
- Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi được xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng
ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý VD: Lập di chúc phải được cha mẹ, người giám hộ đồng ý
- Những người chưa đủ 6 tuổi, mất năng lực hành vi không được phép xác lập giao dịch dân sự Mọi giao dịch dân sự của những người này đều do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện
Pháp nhân, gia đình, tổ hợp tác: Các chủ thể này tham gia phải giao dịch dân
sự phải thông qua người đại diện (theo pháp luật hoặc ủy quyền) Các quyền và nghĩa vụ phát sinh là của pháp nhân, gia đình, tổ hợp tác Tuy nhiên pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác chỉ tham gia giao dịch dân sự phù hợp với chức năng, nhiệm
vụ của mình
Thứ hai: Chủ thể tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện
Sự tự nguyện của một bên (hành vi pháp lý đơn phương) hay nhiều bên (hợp đồng) là nguyên tắc được quy định trong Điều 3 BLDS 2015: Tự do, tự nguyện
Trang 5cam kết, thoả thuận Vi phạm sự tự nguyện của chủ thể là vi phạm pháp luật Vì vậy, giao dịch dân sự thiếu sự tự nguyện không làm phát sinh hậu quả pháp lí
Thứ ba: Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của
luật, không trái đạo đức xã hội
Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được Nội dung của giao dịch dân sự là tổng hợp các điều khoản mà các bên đã cam kết, thỏa thuận trong giao dịch, xác định quyền và nghĩa vụ của các bên Mục đích và nội dung của giao dịch có quan hệ chặt chẽ với nhau Muốn đạt được mục đích đó họ phải cam kết, thoả thuận về nội dung và ngược lại những cam kết, thoả thuận về nội dung của họ là để đạt được mục đích
VD: Trong hợp đồng mua bán tài sản, mục đích mà các bên hướng tới là quyền sở hữu tài sản Để đạt được mục đích này họ phải thoả thuận được về nội dung của hợp đồng mua bán bao gồm các điều như đối tượng (vật bán), giá cả, thời hạn, địa điểm, phương thức thực hiện hợp đồng Sự thoả thuận về các điều khoản
đó lại nhằm đạt được mục đích là quyền sở hữu tài sản Có những trường hợp người mua muốn được sở hữu tài sản nhưng người bán không có mục đích đó mà
vì một mục đích khác, trường hợp này người bán không phải muốn chuyển quyền
sở hữu cho bên mua Mục đích này là trái luật
Để giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật thì mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội Điều cấm của luật là những quy định không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng
Thứ tư: Hình thức giao dịch phù hợp với quy định của luật:
Hình thức của giao dịch dân sự là phương tiện thể hiện nội dung của giao dịch dân
sự Thông qua phương tiện này bên đối tác Giao dịch dân sự có thể được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Trong một số trường hợp đặc biệt thì pháp luật mới có yêu cầu về hình thức buộc các chủ thể phải tuân thủ theo
Trang 6(yêu cầu phải lập thành văn bản, phải có chứng nhận, chứng thực, đăng kí, xin phép) Trong trường hợp pháp luật có quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản, phải được công chứng nhà nước chứng nhận, được chứng thực, đăng
kí hoặc phải xin phép thì phải tuân theo các quy định của luật đó
1.2.3 Phân tích các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự
- Năng lực xác lập giao dịch: Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập (Theo hướng thêm điều kiện năng lực pháp luật)
- Điều cấm của luật: Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật Điều 123, BLDS 2015: Điều cấm của luật là những quy định luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định)
Điều 123, BLDS 2015: Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội
Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu
Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định
Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng
- Mục đích của giao dịch: Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không
vi phạm điều cấm của luật (Điều 118, BLDS 2015)
- Giới hạn tự do về hình thức: Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định (Làm hẹp đi yêu cầu về hình thức)
- Loại hình thức giao dịch:
+ Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp
dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản
+ Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó
(Bỏ hình thức văn bản không có công chứng thực như văn bản viết tay, văn bản đánh máy,… Không coi xin phép là một hình thức)
1.3 Hình thức của giao dịch dân sự
Giao dịch dân sự được diễn ra với rất nhiều hình thức, cánh thức khác nhau
để xác lập việc thực hiện giao dịch dân sự giữa các chủ thể Được pháp luật dân sự quy định cụ thể Theo Điều 119 Bộ luật dân sự 2015 Tùy theo mỗi giao dịch, tính
Trang 7đặc thù và sự thống nhất của các chủ thể tham gia để lựa chọn hình thức xác lập giao dịch khác nhau phù hợp tính khách quan, chủ quan, không gian, thời gian và đúng với quy định của pháp luật
Giao dịch dân sự thông qua lời nói: là hình thức xác lập giao dịch diễn ra tương đối thông dụng trong cuộc sống ngày của con nguời Nó được thực hiện trên
cơ sự tin tưởng lẫn nhau giữa các chủ thể tham gia vào giao dịch mà nội dung của giao dịch thường có giá trị nhỏ chỉ cần hai bên đồng ý xác lập giao dịch thì giao dịch đó có hiệu lực Tuy nhiên hình thức này có hiệu lực rất thấp nên khi sảy ra tranh chấp giữa các bên thực hiện giao dịch, đưa ra cơ quan có chức năng giải quyết như ra tòa thì sẽ rất khó chứng minh được nội dung mà mình đã giao dịch cũng như các quyền và nghĩa vụ cần thực hiện khi giao dịch đã có hiệu lực nếu bên kia phủ nhận
Giao dịch dân sự thông qua văn bản: là hình thức xác lập giao dịch cụ thể bằng văn bản hay còn được gọi là hợp đồng giao dịch Trong đó, nội dung của văn bản thông thường thể hiện mong muốn của hai bên tham gia vào giao dịch sau khi
đã thống nhất và có hiệu lực ngay sau khi hai bên chủ thể ký kết Hình thức này mang tính chất pháp lý cao, nếu trong trường hợp sảy ra tranh chấp đưa ra pháp luật hay cơ quan có thẩm quyền để giải quyết thì bảnhợp đồng giao dịch giữa hai bên sẽ là chứng cứ cụ thể để pháp luật dựa vào đó mà phápxét đưa ra quyết định cho hai bên Vì thế đối với những giao dịch có nội dung nhạy cảm cũng như có giá trị lớn mang ra giao dịch thì nên sử dụng hình thức này
Trong một số trường hợp mà pháp luật quy định cụ thể hình thức thực hiện giao dịch thôngqua văn bản và có cơ quan nhà nước xác thực thì các bên sẽ thực hiện và làm theo hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để không bị vướng mắc trong quá trình ký kết cũng như thực hiện giao dịch Trong trường hợp này thì nội dung của giao dịch dân sự thường mang tính chất phức tạp, liên quan đến nhà nước, tài sản do nhà nước quản lý và chi phối hoạt động nên pháp luật dân
sự đã quy định hình thức cụ thể để xác lập giao dịch qua đó thể hiện được tính pháp lý cao nhất nhằm thể hiện minh bạch và rõ ràng nhất, tránh xảy ra tranh chấp một cách tối đa trong khi thực hiện các điều khoản của hợp đồng Ví dụ như hợp đồng tặng cho động sản khoản 1 điều 458 Bộ luật dân sự 2015, hợp đồng tặng cho bất động sản khoản 1 điều 459 Bộ luật dân sự 2015 Đôi lúc chúng ta cũng có thể thực hiện giao dịch thông qua hình thức để kí hiệu hay hành động cụ thể miễn là trong đó có chứa nội dụng mà giữa các bên tham gia vào giao dịch hiểu và mong muốn thực hiện
Từ những phân tích trên đã cho ta thấy Giao dịch dân sự là một trong những phương thức hữu hiệu cho cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác xác lập và thực hiện các quyền nghĩa vụ dân sự nhằm thoả mãn các nhu cầu trong sinh hoạt, tiêu dùng và trong sản xuất, kinh doanh Giao dịch dân sự càng có ý nghĩa quan trọng trong điều kiện của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Trang 8nước ta trong giai đoạn hiện nay Những cũng cònmột số vấn đề bất cập trong khi thực hiện giao dịch như lừa gạt, chiếm đoạt tài sản… vì đó chúng ta cần nắm vững cở pháp lý đã nêu trên cũng như tìm hiểu thêm các quy định về giao dịch dân
sự để tránh điều không may xảy ra
2 Giao dịch dân sự vô hiệu.
2.1 Khái niệm
Theo quy định tại điều 116 Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 quy định: Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự Từ quy định tại điều luật này có thể xác định: kết quả của việc xác lập giao dịch dân sự là làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự Giao dịch dân sự là một sự kiện pháp lí (hành vi pháp lí đơn phương hoặc đa phương – một bên hoặc nhiều bên) làm phát sinh hậu quả pháp lí Tuỳ từng giao dịch cụ thể
mà làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự
Giao dịch là hành vi có ý thức của chủ thể nhằm đạt được mục đích nhất định, cho nên giao dịch dân sự là hành vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch, với những mục đích và động cơ nhất định Do vậy, giao dịch dân sự vô hiệu khi không có một trong các điều kiện quy định tại Điều 117 BLDS 2015, cụ thể:
Thứ nhất: Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
Thứ hai: Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
Thứ ba: Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội
Thứ tư: Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định
Thứ năm: Các trường hợp khác do Bộ luật này quy định
Những quy định về sự vô hiệu của giao dịch dân sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thiết lập trật tự kỷ cương xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân và nhà nước; bảo đảm an toàn pháp lý cho các chủ thể trong giao lưu dân sự
So với quy định về giao dịch dân sự vô hiệu tại BLDS 2005, BLDS 2015 có
bổ sung thêm cụm từ “trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác” Đây là quy định cần thiết, bởi lẽ các quy định về điều kiện có hiệu lực của BLDS để áp dụng cho đa số các trường hợp nhằm đảm vảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên Tuy nhiên, trong một số trường hợp việc vô hiệu giao dịch dân sự là không cần thiết Thực tế, cho thấy giao dịch có thể thiếu điều kiện quy định tại Điều 117
Trang 9BLDS 2015 nhưng vẫn không vô hiệu Chẳng hạn như quy định tại điểm a khoản 2 điều 125 BLDS 2015, giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó thì không bị xem là giao dịch dân sự
Phân loại giao dịch dân sự vô hiệu
Có hai cách phân loại giao dịch dân sự vô hiệu:
Cách thứ nhất: Căn cứ vào mức độ vi phạm pháp luật:
Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối:
Là những giao dịch dân sự vi phạm những quy tắc pháp lý có mục đích bảo
vệ quyền và lợi ích chung của cộng đồng
Giao dịch dân sự do giả tạo, giao dịch dân sự có nội dung và mục đích trái với pháp luật và đạo đức xã hội, giao dịch dân sự không tuân theo hình thức luật định bị coi là giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối - thời gian yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không hạn chế
Giao dịch dân sự vô hiệu tương đối:
Là những giao dịch dân sự vi phạm một trong những quy tắc pháp lý
có mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của một chủ thể xác định (cá nhân, pháp nhân,…)
Giao dịch dân sự được giao kết do nhầm lẫn, đe doạ, lừa dối, do người chưa thành niên, người bị mất hay hạn chế năng lực hành vi dân sự thiết lập là giao dịch dân sự vô hiệu tương đối - thời hạn yêu cầu xem xét hiệu lực của giao dịch dân sự đó là một năm kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập
Cách thứ hai: Căn cứ vào nội dung hợp đồng:
Giao dịch dân sự vô hiệu toàn bộ, trong các trường hợp:
Do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội
Do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập
Do người xác lập giao dịch dân sự không nhận thức được hành vi của mình
Giao dịch dân sự vô hiệu từng phần: Chỉ có một hoặc một số phần của giao dịch đó vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại của giao dịch dân sự
Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập
Trang 10Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận
Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả
Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó
Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường
Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định
(Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015)
3 Người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự
3.1 Khái niệm người thứ ban ngay tình
Pháp luật dân sự không định nghĩa cụ thể thế nào người thứ ba ngay tình nhưng có thể hiểu người thứ ba ngay tình là người tại thời điểm tham gia giao dịch dân sự người này không có cơ sở để biết việc giao dịch của mình với người không
có quyền định đoạt tài sản hoặc đối tượng tài sản của giao dịch liên quan đến giao dịch trước đó đã bị vô hiệu do tại thời điểm khi tham gia vào giao dịch dân sự, người thứ ba ngay tình hoàn toàn tin rằng người giao dịch với mình là người có quyền giao dịch và đối tượng tài sản giao dịch đáp ứng các điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực, từ đó cho thấy người ngay tình hoàn toàn không có lỗi khi tham gia vào giao dịch Vì vậy, pháp luật dân sự đưa ra biện pháp bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình trong giao dịch dân sự, trong trường hợp giao dịch dân sự dẫn đến vô hiệu không do lỗi của người thứ ba
3.2 Điều kiện để xác định người thứ ban ngay tình
Điều kiện xác định người thứ ban ngay tình là quyền lợi của người thứ ba ngay tình Một nguyên tắc được thừa nhận trong chế định sở hữu đó là các quyền năng của chủ sở hữu sẽ được pháp luật tôn trọng và bảo vệ tuyệt đối, thông qua các quy định cho phép chủ sở hữu được đòi lại tài sản của mình từ những người chiếm hữu, người sử dụng, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật Chủ sở hữu có quyền đòi tài sản từ những chủ thể có mối quan hệ trực tiếp với chủ sở hữu
là lẽ hoàn toàn tất yếu, hợp cả về lý lẫn tình Có thể phân chia mối quan hệ này thành 2 loại:
1 Những quan hệ mà tài sản rời khỏi chủ sở hữu phù hợp với ý chí của chủ
sở hữu như quan hệ cho thuê, cho mượn tài sản, dùng tài sản để cầm cố, thế chấp…Vậy, theo bản chất của những quan hệ này và sự thoả thuận của các bên trong quan hệ nên chủ sở hữu hoàn toàn có căn cứ để đòi lại tài sản của mình;
2 Những quan hệ mà tài sản rời khỏi chủ sở hữu ngoài ý chí của họ, có 2 loại: thứ nhất, tài sản bị chiếm đoạt trái pháp luật như bị trộm cắp, cướp giật, lừa