Bài tập chuyên đềMôn đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ Đề tài: Đánh giá tình hình thu hút FDI vào các khu công nghiệp, khu chế xuất tại Việt Nam Lời mở đầu Hiện nay xu thế toàn
Trang 1Bài tập chuyên đề
Môn đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ
Đề tài: Đánh giá tình hình thu hút FDI vào các khu công nghiệp, khu chế xuất tại Việt Nam
Lời mở đầu
Hiện nay xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ, quá trình này diễn ra trên mọi mặt của đời sống xã hội, từ kinh tế, văn hoá, chính trị, giáo dục… Trong đó, sự thay đổi rõ rệt nhất là trong đời sống kinh tế nước ta
Trong những năm gần đây đặc biệt là từ sau khi nước ta giai nhập tổ chức thương mại thế giới WTO thì nền kinh tế nước ta đã có nhiều biến chuyển
Cụ thể là trong hoạt động thu hút vốn FDI từ nước ngoài đã tăng trưởng một cách rõ rệt Để có những kết quả đó là do những nỗ lực không ngừng của chính phủ Việt Nam trong xây dựng cơ sở hạ tầng, sửa đổi hệ thống chính sách phù hợp với thực tế, tạo môi trường tốt nhất cho các nhà đầu tư nước ngoài vào nước ta đầu tư
Việc thu hút vốn vào nước ta được thực hiện thông qua quá trình tiến hành đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất chế biến tại các khu công nghiệp, khuchế xuất Từ năm 1991 đến nay chúng ta đã tiến hành đầu tư phát triển các khu công nghiệp, tạo điều kiện vật chất cơ sở hạ tầng tốt nhất cho các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào nước ta Đến nay tính chung cả nước có tổng cộng gần 150 khu công nghiệp khu chế xuất trên cả nước trong đó tập trung chủ yếu tại khu vực đông nam bộ, nam trung bộ và đồng bằng châu thổSông Hồng…
Việc thu hút FDI thông qua các khu công nghiệp, khu chế xuất đã mang lại những kết quả đáng kể cho việc phát triển kinh tế nước ta, song bên cạnh đó còn có những vấn đề tồn tại… Trong bài nghiên cứu này nhóm nghiên cứu tiến hành đánh giá tổng quát quá trình phát triển của các khu công nghiệp khu chế xuất tại Việt Nam và tình hình thu hút vốn FDI vào các khu công nghiệp, khu chế xuất trong những năm gần đây, đặc bbiẹt là từ năm 2000 đến nay
Để hoàn thành đề tài này nhóm nghiên cứu có sử dụng các số liệu của Cục đầu tư nước ngoài - Bộ Kế hoạch & đầu tư, các bài viết có liên quan của một
số tác giả Nhóm nghiên cứ xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của: TS Đinh Đào Ánh Thuỷ - giảng viên bộ môn kinh tế đầu tư
Cùng toàn thể tập thể giảng viên bộ môn kinh tế đầu tư
Trang 2đã giúp nhóm chúng em hoàn thành đề tài này.
Nhóm nghiên cứu rất mong nhận được các ý kiến đóng góp cho bài nghiên cứu được hoàn chỉnh hơn!!!
Chúng em xin chân thành cảm ơn!!!
Nhóm nghiên cứu chuyên đềLớp kinh tế đầu tư 47 D
ĐH Kinh tế quốc dân Hà Nội
Hoàng Hải Nam Trần Thái Sơn Nguyễn Quang Quân
Hồ Sỹ Hải
Trang 3Chương I
Lý thuyết về khu chế xuất, khu công nghiệp
I Các khái niệm
1 Khái quát các loại hình khu công nghiệp
Khu công nghiệp là một khái niệm chung bao gồm nhiều hình thức từ các hình thức truyền thống như: khu mậu dịch tự do, cảng tự do… xuất hiện từ thế kỷ XIX đến các hình thức mới xuất hiện cuối thế kỷ
XX như khu công nghệ cao, khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung Theo chương trình môi trường Liên Hợp Quốc có thể phân các khu công nghiệp trên thế giới thành các loại hình sau đây:
o Khu công nghiệp tập trung
o Khu chế xuất
o Khu tự do
o Khu chế biến công nghiệp
o Trung tâm công nghệ cao
o Khu công nghệ sinh học
o Khu công nghệ sinh thái
Trong phần này giới thiệu hai loại hình đang phổ cập ở Việt Nam, đó là khu chế xuất và khu công nghiệp
2 Khu chế xuất
2.1 Các quan điểm về khu chế xuất
Theo quan niệm của hiệp hội khu chế xuất thế giới WEPZA (World Export Processing Zone Asssociation), khu chế xuát bao gồm tất cả các khu vực được chính phủ nước sở tại cho phép chuyên môn hóa hoạt động sản xuất công nghiệp chủ yếu vào mục đích xuất khẩu đó là khu vực biệt lập có chế
độ mậu dịch và thuế quan riêng, không phụ thuộc vào chế độ mậu dịch và thuế quan phổ thông ở nước đó Theo quan niệm này, khu chế xuất bao gồm Cảng tự do, Đặc khu kinh tế, các khu vực ngoại thương Theo cá tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc UNIDO (United Nations
Industrial Development Organization) thì khu chế xuất được hiểu là: là một khu vực tương đối nhỏ, có phân cách địa lý trong một quốc gia, nhằm mục tiêu thu hút các doanh nghiệp (chủ yếu là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) hướng về xuất khẩu, bằng cách cung cấp cho các doanh nghiệp nhữngđiều kiện về đầu tư và mậu dịch đặc biệt thuận lợi hơn so với phần lãnh thổ
Trang 4còn lại của nước chủ nhà Đặc biệt, khu chế xuất cho phép nhập khẩu hàng hóa cho mục tiêu sản xuất hàng xuất khẩu miễn thuế
2.2 Đặc điểm của khu chế xuất
o Khu chế xuất là khu vực có hàng rào ngăn cách với cấc khu vựckhác
o Mục đích hoạt động của khu chế xuất là để thu hút các doanh nghiệp nước ngoài và trong nước sản xuất theo định hướng sản xuất hàng xuất khẩu bằng những chính sách ưu đãi đặc biệt về thuế quan và các điều kiện mậu dịch khác
o Hàng hóa, tư liệu sản xuất nhập vào các khu chế xuất để sản xuất hàng xuất khẩu được miễn thuế hải quan Hoạt động trao đổi hàng hóa với thị trường nội địa được coi là hoạt động xuất nhập khẩu
o Khu chế xuất có cơ sở hạ tầng tốt như đường xá, điện nước, mạng lưới thông tin liên lạc
o Khu chế xuất thường được xây dựng tại các khu vực thuận lợi cho việc xuất nhập khẩu hàng hóa
3 Khu công nghiệp tập trung
3.1 Khái niệm về khu công nghiệp tập trung
Là một quần thể liên hoàn các xí nghiệp được xây dựng trên một vùng có thuận lợi về mặt địa lý, điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội, có cơ sở hạ tầngtốt nhằm thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào hoạt động theo một cơ cấuhợp lý nhằm đạt hiệu quả cao trong sản xuất công nghiệp và kinh doanh nghiệp dịch vụ
3.2 Đặc điểm
Khu công nghiệp tập trung về cơ bản có nhiều đặc điểm trùng với khu chế xuất, cả hai đều là một trong những loại hình khu công nghiệp, là khu vực được xây dựng cơ sở hạ tầng một cách đồng bộ, vốn đầu tư ban đầu tương đối lớn được lập ra để phát triển công nghiệp mà phần lớn là công nghiệp tiêu dùng đại bộ phận là doanh nghiệp vừa và nhỏ, không có dân cư sinh sống và có các quy chế pháp lý riêng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu…Tuy nhiên, giữa hai loại hình này có những đặc điểm khác nhau:
Các sảm phẩm được sản xuất ra trong khu chế xuất đều phải xuất khẩu 100%, nếu muốn tiêu thụ ở thị trường trong nước chủ doanh nghiệp phải
Trang 5đóng thuế như các hàng hóa nhập khẩu cùng loại khác Trong khi đó những hàng hóa được sản xuất từ khu công nghiệp vừa có thể xuất khẩu vừa có thể tiêu thụ tại thị trường nội địa không phải chịu thuế nhập khẩu Như vậy có nghĩa là quan hệ giữa doanh nghiệp của khu chế xuất với thị trường nội địa
là quan hệ ngoại thương, trong khi đó quan hệ giữa các doanh nghiệp của khu công nghiệp với thị trường nội địa là quan hệ nội thương
Khu chế xuất, khu công nghiệp là những mô hình đã phát triển từ lâu song việc hình thành các khu chế xuất, khu công nghiệp như là một công cụ để thu hút đầu tư trực tiép nước ngoài với mục tiêu khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu thì mới phát triển trong vài thập niên gần đây Nói chung, đây là những hình thức tổ chức có cơ chế pháp lý đơn giản, rõ ràng và được quy định riêng trong các quy chế khu chế xuất, khu công nghiệp, đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư
II Vai trò của khu công nghiệp và khu chế xuất tại Việt Nam
Trong phần này nhóm nghiên cứu xin đề cập tới những vai trò chính của khucông nghiệp và khu chế xuất đối với nền kinh tế, đặc biệt là trong việc thu hút vốn FDI cho việc phát triển kinh tế
1 Vai trò thu hút vốn đầu tư từ các nhà đầu tư nước ngoài
Hiện nay chúng ta thấy rằng nhà nước đang xây dựng chiến lược phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất vơéi mục tiêu thu hút hơn nữa vốn FDI tưnước ngoài Đặc biệt là từ khi nước ta chính thức gia nhập vào tổ chức kinh
tế thế giới WTO Bắt đầu từ thời kì này nước ta có sự gia tăng lớn về vốn FDI, việc thành lập các khu công nghiệp là cơ sở cho việc kêu gọi đầu tư củanước ta
Phần lớn số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam năm 2006
đã chảy vào vùng trũng là các khu công nghiệp trên cả nước
Dự báo, với Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, các khu công nghiệp sẽ là tâm điểm hút nguồn vốn FDI, dự kiến đạt khoảng 6 tỷ USD/năm
Con số cuối cùng về thu hút FDI trong năm 2006, theo công bố của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, vào khoảng 10 tỷ USD, trong đó vốn cấp mới là 7,5 tỷ USD, còn lại là vốn đăng ký bổ sung Và trong tổng vốn đăng ký cấp mới cho 797 dự án, riêng các khu công nghiệp và khu chế xuất trong cả nước đã chiếm tới 48,6% tổng vốn đăng ký
Trang 6Trong 10 dự án có quy mô vốn lớn nhất được cấp phép trong năm 2006 phải
kể tới dự án nhà máy sản xuất thép của Tập đoàn Posco (Hàn Quốc) tại Khu công nghiệp Phú Mỹ 2, với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 1,2 tỷ USD Cũng chính dự án này đã đẩy tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu lên vị trí thứ nhất trong bảng xếp hạng các địa phương về thu hút FDI với tổng vốn tiếp nhận gần 1,7
tỷ USD
Cũng có thể kể đến dự án xây dựng nhà máy sản xuất linh kiện điện tử do Tập đoàn Meiko của Nhật đầu tư với số vốn 300 triệu USD tại Khu công nghiệp Phùng Xá (Hà Tây), đây cũng là dự án lớn nhất từ trước đến nay tại tỉnh này
Đối với dự án đăng ký vốn bổ sung, cũng không thiếu vắng những dự án đang hoạt động tại khu công nghiệp của cả nước Đơn cử, Công ty Công nghiệp Gốm Bạch Mã tại Khu công nghiệp Việt Nam – Singapore (Bình Dương) tăng 150 triệu USD (chỉ đứng sau dự án tăng vốn của Intel), Công tyCanon Việt Nam tăng 70 triệu USD đầu tư nhà máy sản xuất máy in ở Khu công nghiệp Tiên Sơn (Bắc Ninh), Công ty Fomosa ở Khu công nghiệp Nhơn Trạch 3 (Đồng Nai) tăng 66,4 triệu USD,…
Như vậy, tính từ trước đến nay, các khu công nghiệp, khu chế xuất đã thu hút gần 2.500 dự án đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đăng ký trên 20 tỷ USD
Đối với các chuyên gia, kết quả nổi bật về thu hút FDI của các khu công nghiệp trong năm 2006 không phải là điều gì quá ngạc nhiên Theo họ, đó chính là sự nối tiếp thành quả của những năm trước, và điều này càng thêm khẳng định một dự báo trước đó rằng các khu công nghiệp sẽ là viên nam châm "hút" nguồn vốn FDI chảy vào Việt Nam
Cộng với quyết định của Thủ tướng phê quyệt Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020, với mục tiêu hình thành hệ thống các khu công nghiệp chủ đạo có vai trò dẫn dắt công nghiệp quốc gia, viên nam châm này sẽ được tiếp thêm một năng lượng lớn
Nhiều ý kiến cũng cho rằng với việc Việt Nam trở thành thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), sẽ có nhiều cơ hội hơn được tạo ra cho nhà đầu tư nước ngoài, nhờ đó các khu công nghiệp càng trở nên hấp dẫn hơn, làn sóng đầu tư nước ngoài sẽ gia tăng mạnh cả về nguồn vốn, công nghệ, vàkinh nghiệm quản lý
Trang 7Không chỉ thu hút vốn trực tiếp, sắp tới, với việc lên sàn giao dịch chứng khoán, các khu công nghiệp còn có thế mạnh thu hút nguồn vốn đầu tư gián tiếp của nhà đầu tư cả trong và ngoài nước.
Các khu công nghiệp phía Nam của các địa phương: Bà Rịa-Vũng Tàu, BìnhDương, Tp.HCM, và Đồng Nai vẫn là những đơn vị thu hút nhiều vốn đầu tưnước ngoài nhất của cả nước, với 205 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 2,9 tỷ USD, chiếm 73% số dự án và 76% số vốn thu hút mới trong các khu công nghiệp trên cả nước (tính trong 11 tháng đầu năm) Những tỉnh, thành phố này cũng thuộc diện danh sách các địa phương thu hút trên 100 triệu USD trong năm 2006
2.Nâng cao trình độ công nghệ, hiện đại hóa cách thức quản lý sản xuất
KCN, KCX là khu vực có những điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng cùngvới nhiều chính sách ưu đãi đầu tư được áp dụng Đây chính là điểm đến lýtưởng của các nhà đầu tư, trong đó có đầu tư nước ngoài Một số công nghệtiên tiến, hiện đại trên thế giới cùng trình độ quản lý cao của đội ngũ cán bộdoanh nghiệp, trình độ tay nghề của công nhân theo các chuẩn mực quốc tế
đã được áp dụng tại Việt Nam Đây cũng là những nhân tố quan trọng gópphần để nước ta thực hiện việc chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
KCN là nơi tiếp nhận công nghệ mới, tập trung những ngành nghề mới, gópphần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH Cùng với dòngvốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào các dự án sản xuất kinh doanh trong KCN,các nhà đầu tư còn đưa vào Việt Nam những dây chuyền sản xuất với côngnghệ tiên tiến, hiện đại, trong đó có cả những dự án công nghiệp kỹ thuậtcao (phần lớn của Nhật Bản), như Công ty TNHH Canon Việt Nam,Mabuchi Motor, Orion Hanel…, những lĩnh vực mà chúng ta còn yếu kém
và cần khuyến khích phát triển như cơ khí chính xác, điện tử…
Các dự án đầu tư vào KCN tập trung chủ yếu vào các ngành công nghiệpnhẹ như dệt may, da giầy, công nghiệp chế biến thực phẩm (chiếm trên 50%tổng số dự án), đây là các dự án thu hút nhiều lao động, có tỷ lệ xuất khẩucao và đã góp phần nâng cấp các ngành này về dây chuyền công nghệ, chấtlượng sản phẩm… Tuy nhiên, các KCN cũng đã thu hút được các dự án cóquy mô và yêu cầu vốn lớn, công nghệ cao như dầu khí, sản xuất ô tô, xemáy, dụng cụ văn phòng, cơ khí chính xác, vật liệu xây dựng… Mặc dù sốlượng các dự án này trong KCN mới chiếm khoảng 5 – 10% số dự án, nhưngcũng đã góp phần phát triển và đa dạng hóa cơ cấu ngành nghề công nghiệp
Trang 8Các doanh nghiệp trong KCN, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài đã góp sức đào tạo được đội ngũ lao động công nghiệp sử dụng
và vận hành thành thạo các trang thiết bị phục vụ quản lý và sản xuất, nắmvững công nghệ, có tác động lan tỏa và nâng trình độ tay nghề của đội ngũlao động Việt Nam lên một bước Một lượng đáng kể người lao động ViệtNam được đảm nhận các vị trí quản lý doanh nghiệp, được tiếp xúc vớiphương thức quản trị doanh nghiệp tiên tiến, hiện đại, kỹ năng marketing,quản lý tài chính, tổ chức nhân sự… Việc được trực tiếp làm việc trong môitrường có kỷ luật cao, yêu cầu tay nghề cao, dã rèn luyện được những kỹnăng và bản lĩnh làm việc giúp người lao động Việt Nam thích ứng với mộtnền công nghiệp tiên tiến, hiện đại
3.Hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng
Qua 15 năm hình thành và phát triển KCN ở Việt Nam, nhiều KCN đã vàđang đóng vai trò quan trọng và tạo ra một khí thế phát triển mới cho nềnkinh tế cả nước Tại các vùng hay địa phương có các KCN hoạt động mạnhthì mức độ tăng trưởng kinh tế ở đó cao hơn những nơi KCN chưa pháttriển
Tính đến hết năm 2005 cả nước có 130 KCN phân bố ở 45 tỉnh, thành phốvới quy mô bình quân khoảng 205 ha/KCN Trong đó có 75 khu đã đi vàohoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên 16.381 ha Tỷ lệ điền đầy của cácKCN đang hoạt động đạt khoảng 71,4% diện tích đất có thể cho thuê Theo
số liệu của Đề cương Hội nghị gửi kèm công văn số 104/BKH-KCN&KCXngày 23/2/2006 của Bộ KH&ĐT
Về thu hút đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cả nước hiện đã có khoảng 130 dự
án xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN
Việc phát triển các KCN trong thời gian qua không những thúc đẩy cácngành dịch vụ phát triển, thúc đẩy CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn, màcòn đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, góp phần đáng kể vào việc hiện đại hóa hệthống kết cấu hạ tầng trong và ngoài KCN Điều này được thể hiện qua một
số khía cạnh sau:
- Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng các KCN có tác dụng kích thích sựphát triển kinh tế địa phương, góp phần rút ngắn sự chênh lệch phát triểngiữa nông thôn và thành thị, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhândân Điều này có thể dễ dàng nhận nhất ở những vùng có KCN phát triểnmạnh như Biên Hòa, Nhơn Trạch (Đồng Nai), Thuận An (Bình Dương),Tiên Sơn (Bắc Ninh)… cùng với quá trình phát triển KCN, các điều kiện về
kỹ thuật hạ tầng trong khu vực đã được cải thiện đáng kể, nhu cầu về các
Trang 9dịch vụ gia tăng, góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh cho các cơ sởdịch vụ trong vùng.
- Cùng với các chính sách ưu đãi về tài chính và công tác quản lý thuận lợicủa nhà nước, có thể nói việc thu hút nguồn vốn để đầu tư xây dựng hoànthiện và đồng bộ các kết cấu hạ tầng trong KCN có vai trò quyết định trongviệc thu hút đầu tư Việc các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế(doanh nghiệp quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanhnghiệp ngoài quốc doanh) tham gia đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KCNkhông những tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong KCN hoạtđộng hiệu quả, mà còn tạo sự đa dạng hóa thành phần doanh nghiệp thamgia xúc tiến đầu tư góp phần tạo sự hấp dẫn trong việc thu hút doanh nghiệpcông nghiệp vào KCN
- Việc đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật trong KCN không những thu hútcác dự án đầu tư mới mà còn tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộngquy mô để tăng năng lực sản xuất và cạnh tranh, hoặc di chuyển ra khỏi cáckhu đông dân cư, tạo điều kiện để các địa phương giải quyết các vấn đề ônhiễm, bảo vệ môi trường đô thị, tái tạo và hình thành quỹ đất mới phục vụcác mục đích khác của cộng đồng trong khu vực như KCN Tân Tạo (thànhphố Hồ Chí Minh), Việt Hương (Bình Dương)…
- Quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN còn đảmbảo sự liên thông giữa các vùng, định hướng cho quy hoạch phát triển cáckhu dân cư mới, các khu đô thị vệ tinh, hình thành các ngành công nghiệpphụ trợ, dịch vụ… các công trình hạ tầng xã hội phục vụ đời sống người laođộng và cư dân trong khu vực như: nhà ở, trường học, bệnh viện, khu giảitrí…
- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đón bắt và thu hút đầu tư các ngànhnhư điện, giao thông vận tải, hệ thống thông tin liên lạc, cảng biển, các hoạtđộng dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, xúc tiến đầu tư, phát triển thịtrường địa ốc… đáp ứng nhu cầu hoạt động và phát triển của các KCN.III Quản lý nhà nước đối với hoạt động của các khu chế xuất, khu côngnghiệp
Trang 10công nghiệp đều thành lập các ban quản lý, mà đó việc quản lý trực tiếp
thuộc về các ban quản lý này và nhà nước thông qua ban quản lý để có thể
biết được tình hình hoạt động của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp
Ngoài ra đánh giá tổng thể về quản lý nhà nước với khu công nghiệp chúng
ta có thể đánh giá về quản lý theo chiều dộc và quản lý theo chiều ngang,
Trong đó, quản lý theo chiều dọc là quản lý theo các ngành, cơ quan theo
chức năng từ trung ương cho đến cơ sở, đứng đầu là chính phủ chịu trách
nhiệm quản lý chung về quy hoạch cà chiến lược phát triển, sau đó là các bộ
lien quan quản lý theo chức năng(bộ Xây dựng quản lý về cơ sở hạ tầng kỹ
thuật, bộ Tài nguyên mối trường quản lý về việc xử lý chất thải…), tiếp sau
là các ban quản lý khu công nghiệp chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý các
doanh nghiệp và báo cáo kết quả cho các cơ quan lien quan
Đánh giá mô hình quản lý nhà nước đối với khu chế xuất và khu cồng
nghiệp tại Việt Nam ta có thể thông qua sơ đồ sau:
và môi trường
Bộ thương mại
Ban
tổ chức cán
bộ chính phủ
Bộ kế hoạch
và đầu tư
Các
cơ quan quản
lý các KCN trung ương
Ban quản lý khu công nghiệp địa phương
lý khu công
Xác định các laọi hình công
Phê duyệt quy hoach chi tiết
Tổ chức thẩm định các dự
án khu
thẩm định thiết
kế
kỹ thuật
Quản
lý vè khoa học công nghệ
Xét duyệt
kế hoạch xuất nhập
Bộ máy nhân
sự của Ban quản
Trang 11
Chính sách của nhà nước tác động quan trọng đến sụ phát triẻn khucông nghiệp, khu chế xuất cần không ngừng hoàn thiện các chính sách
Đẩy mạnh chuyển từ công tác quản lý hành chính sang công tác dịch
vụ theo cơ chế một cửa trong quản lý phát triển các khu công nghiệp Cải
cách hành chính và công nghệ thông tin trong quản lý, đảm bảo quản lý
thống nhất các khu công nghiệp
Ngoài ra cần từ bỏ quản điểm nới lỏng đầu vào quản lý chặt đầu ra,hậu kiểm thay thế tiền kiểm như các nhà đầu tư nước ngoài từng nói: ”VIệt
Nam chỉ khuyến khích đầu tư mà không khuyến khích sản xuất”
Chính sách ưu đãi các nhà đầu tư trong việc xây dựng cơ sở hạ tầngcác khu công nghiệp, khu chế xuất: giá thuế đắt, thuế(thuế lợi nhuận trong
nước là 15%, nước ngoài là 10%) hỗ trợ vốn, lãi suất ưu đãi
Chính sách phát triển cơ sở hạ tầng ngoài hàng rào đầu mối với cáckhu công nghiệp phát triển công trình xã hội phục vụ cho phát triển các khu
công nghiệp
Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt hỗ trợ tài chính để thu hútcác doanh nghiệp, áp dụng cho các doanh nghiệp trong khu chế xuất xuất
khẩu vào thị trường trong nước được hưởng thuế CEPT để có thể canh tranh
được với các nước khác
2 Hệ thống cơ chế chính sách đối với khu chế xuất, khu công
nghiệp
Để thu hút đầu tư vào KCN, Chính phủ đã ban hành nhiều quy định về cơ
chế, chính sách khuyến khích các nhà đầu tư vào KCN Các chính sách này
chủ yếu tập trung vào ưu đãi về mặt tài chính, đất đai và được xây dựng theo
hướng tăng cường ưu đãi đối với các lĩnh vực công nghiệp có trình độ kỹ
Doanh nghiệp Công nghiệp Dự án phát triển Khu công
nghiệp
Công ty kinh doanh hạ tăng KCN
Trang 12thuật cao Ngoài ra, bản thân mô hình quản lý, quy hoạch và vận hành KCN cũng thể hiện rõ chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp Về cơ bản,các chính sách khuyến công trong phát triển KCN thể hiện ở các nội dung sau:
Về chính sách ưu đãi gắn liền với quá trình hình thành KCN Qua quá trình điều chỉnh luật pháp có một số thay đổi theo lĩnh vực, ngành nghề hay đối tượng nhà đầu tư, tuy nhiên về cơ bản vẫn tiếp tục duy trì tính khuyến khích cao đối với đầu tư vào KCN
Thứ nhất, hỗ trợ đầu tư xây dựng hạ tầng
Việc hỗ trợ đầu tư xây dựng hạ tầng trong và ngoài hàng rào KCN đã được quy định trong Luật Đầu tư và Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày
22/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu
tư Theo đó, Chính phủ khuyến khích và có chính sách ưu đãi các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội ngoài hàng rào khu công nghiệp đồng thời UBND cấp tỉnh cân đối ngân sách hàng năm để hỗ trợ xây dựng hạng mục này
Đối với một số địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệtkhó khăn, Thủ tướng Chính phủ quy định các điều kiện, nguyên tắc, hạn mức và hạng mục công trình được hỗ trợ từ ngân sách trung ương cho địa phương để cùng nhà đầu tư xây dựng phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật trong hàng rào KCN, KCX UBND cấp tỉnh cân đối nguồn ngân sách địa phương để hỗ trợ nhà đầu tư đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng
kỹ thuật trong hàng rào KCN, KCX
Việc hỗ trợ hạ tầng trong hàng rào KCN đã được triển khai trong thực tiễn thực hiện Quyết định số 183/2004/QĐ-TTg ngày 19/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế hỗ trợ vốn ngân sách trung ương để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật KCN tại các địa phương có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn Hằng năm, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Bộ Tài chính
và các địa phương bố trí nguồn vốn ngân sách trung ương hỗ trợ cho xây dựng cơ sở hạ tầng KCN của các địa phương Trong 3 năm 2005-2007, tổng nguồn vốn cho mục tiêu là 1.200 tỷ đồng; tổng kinh phí khuyến công như báo cáo là 1.002,539 tỷ đồng
Nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách trung ương đã giải quyết một phần khó khăn cho các địa phương trong việc huy động nguồn vốn xây dựng hạ tầng KCN Các KCN được hỗ trợ đã có những kết quả tích cực trong xây dựng kết cấu
hạ tầng và thu hút đầu tư
Nhờ nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách trung ương và nỗ lực của các địa
phương, một số KCN mới thành lập và đang xây dựng cơ sở hạ tầng chưa được hỗ trợ nay đã hoàn thành cơ bản hệ thống kết cấu hạ tầng và đi vào vậnhành như: Hòa Xá (Nam Định), Đình Trám (Bắc Giang), Thụy Vân (Phú Thọ), Đồng Văn I (Hà Nam), Nguyễn Đức Cảnh (Thái Bình), Phú Bài (ThừaThiên - Huế), Điện Nam - Điện Ngọc (Quảng Nam), Phú Tài (Bình Định),
Trang 13Hòa Hiệp (Phú Yên), Mỹ Tho (Tiền Giang) Và do hoàn thành cơ bản hệ thống kết cấu hạ tầng, nhiều KCN ở địa bàn có điều kiện khó khăn đã bắt đầu thu hút đầu tư Các KCN ở các địa bàn này đã có đóng góp vào tăng trưởng công nghiệp của địa phương, nhất là đã kích thích các thành phần kinh tế khác đầu tư phát triển công nghiệp trên địa bàn
Thứ hai, ưu đãi về tài chính
Các dự án đầu tư vào KCN thuộc lĩnh vực ưu đãi đầu tư, dự án phát triển kếtcấu hạ tầng KCN thuộc lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư và được hưởng các
ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất nhập khẩu, thuế tiền sử dụng đất theo pháp luật tương ứng phù hợp với lĩnh vực ưu đãi
Các dự án đầu tư vào KCN căn cứ vào lĩnh vực đầu tư được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp với mức thuế suất ưu đãi 10%, 15%, 20%, thời gian miễn thuế từ 2 đến 4 năm; thời gian giảm thuế từ 6 đến 9 năm Các dự
án công nghiệp kỹ thuật cao, dự án phát triển kết cấu hạ tầng KCN được hưởng ưu đãi ở mức cao nhất áp dụng đối với lĩnh vực đặc biệt ưu đãi đầu tư
Các dự án đầu tư vào KCN được miễn giảm tiền thuê đất, thuế xuất nhập khẩu đối với hàng hoá tạo tài sản cố định, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất…
Ngoài ra, dự án đầu tư vào KCN được hỗ trợ về đào tạo, chuyển giao công nghệ, dịch vụ tư vấn đầu tư, vay tín dụng ưu đãi…
Cơ chế quản lý và vận hành của mô hình KCN, đã thể hiện rõ mục tiêu xây dựng KCN để tập trung phát triển công nghiệp và dịch vụ công nghiệp KCN được hình thành theo Quy hoạch tổng thể phát triển KCN cả nước được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, phương án Quy hoạch đã thể hiện sự phù hợp về vị trí, hạ tầng giao thông, phù hợp về Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất… Ngoài ra, Quy hoạch chi tiết KCN thể hiện sự hài hoà giữa phát triển công nghiệp, đảm bảo các yếu tố về xã hội và môi trường Việc hình thành và đầu tư KCN phải tuân thủ các tiêu chí và điều kiện về đầu tư, xã hội, môi trường Do đó, việc phát triển công nghiệp qua mô hình KCN đảm bảo được tính đồng bộ và thống nhất trong kết nối hạ tầng, cơ cấu đầu tư và đảm bảo kiểm soát môi trường
Cơ chế thuê đất, thuê lại đất giữa Nhà nước, chủ đầu tư hạ tầng, nhà đầu tư thứ cấp được quy định thống nhất, trách nhiệm của chủ đầu tư hạ tầng và doanh nghiệp KCN; chức năng nhiệm vụ của Ban quản lý KCN được xác định rõ ràng trong các văn bản pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp, đất đai vì vậy công tác tổ chức quản lý và vận hành KCN rõ ràng tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp công nghiệp hoạt động
Thuận lợi về cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, tính đồng bộ và sẵn cócủa hệ thống kết cấu hạ tầng là các điểm đặc thù, thể hiện tính khuyến khích cao của hệ thống KCN trong thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp Có thể nói rằng, vai trò của KCN trong công tác khuyến công đã được khẳng định
Trang 14rõ qua kết quả thực tế thu hút đầu tư và đóng góp của KCN vào phát triển công nghiệp địa phương và cả nước trong thời gian qua
Chương II
Thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu chế xuất khu công nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2000 đến nay
Trang 15Trong chương này nhóm nghiên cứu xin đề cập đến tình hình thu hút FDI vào các khu công nghiệp, khu chế xuất tại Việt Nam Song có một đièu rất đáng tiềc là số liệu của một số phần không có sự cập nhạt kịp thời đặc biệt là trong 2 năm gần đây khiến cho tính thực tiễn của đề tài bị giảm sút Nhóm nghiên cứu sẽ cố gắng khắc phuc nhược điểm này để bài nghiên cứu hoàn chỉnh hơn
I Những đánh giá chung trong thu hút vốn đầu tư vào các khu
công nghiệp giai đoạn 2000 đến naySau 15 năm xây dựng và phát triển, với những chính sách ưu đãi, cơ
sở hạ tầng quốc gia đã được cải thiện nâng cấp và thủ tục đầu tư đơn giảnhơn so với bên ngoài, các KCN Việt Nam đã thực sự hấp dẫn các nhà đầu tưtrong và ngoài nước Các doanh nghiệp đầu tư vào KCN thuộc đủ mọi thànhphần kinh tế, bao gồm doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốcdoanh, và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Đầu tư vào KCN baogồm các lĩnh vực như xây dựng cơ sở hạ tầng KCN, sản xuất công nghiệp vàdịch vụ sản xuất công nghiệp
Ngoài các dự án đầu tư và kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN Tính đếntháng 12 năm 2005, các KCN của cả nước đã thu hút được trên 4.400 dự ánđầu tư, trong đó có 2.202 dự án có vốn ĐTNN với tổng vốn đăng ký là 17,6
tỷ USD và 2.214 dự án trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là hơn 103ngàn tỷ đồng (chưa tính 1.059 triệu USD và 31,3 ngàn tỷ đồng đầu tư pháttriển hạ tầng các KCN) trong đó gần 2.400 dự án đã đi vào sản xuất kinhdoanh và trên 900 dự án đang triển khai xây dựng nhà xưởng
Bảng 1: Tổng số dự án đầu tư và vốn đầu tư vào KCN
II Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào khu công nghiệp,
khu chế xuất tại Việt Nam giai đoạn 2000 đến nay
1 Tình hình thu hút qua các năm
Trang 16Trong giai đoạn đầu phát triển KCN, các nhà ĐTNN là đối tượngchính đầu tư vào các KCN Đến hết năm 2005, các nhà đầu tư nước ngoài từhơn 40 nước, vùng lãnh thổ đã có đầu tư vào KCN với 2.202 dự án, với tổng
số vốn đăng ký 17,6 tỷ USD (chưa kể 1.059 triệu USD xây dựng cơ sở hạtầng)
So với vốn đăng ký của tất cả các doanh nghiệp có vốn ĐTNN đãđược cấp giấy phép trong cả nước, tỷ trọng vốn đăng ký của các dự án trongKCN chiếm khoảng 29%, nếu chỉ tính riêng các ngành công nghiệp sản xuất
và dịch vụ sản xuất công nghiệp (trừ dầu khí, du lịch, khách sạn ) tỷ trọngnày chiếm trên 40%
Tính đến nay vốn đầu tư thực hiện của các doanh nghiệp có vốnĐTNN trong các KCN đạt trên 5,828 tỷ USD, bằng 53,2% vốn đầu tư đăng
ký và chiếm 75% số vốn thực hiện của các dự án ĐTNN trên cả nước Sovới các dự án có vốn ĐTNN chung của cả nước, tỷ lệ thực hiện vốn đầu tưcủa các dự án KCN thuộc loại cao và thời gian xây dựng tương đối ngắn(khoảng 1 - 2 năm)
Các dự án có vốn ĐTNN đầu tư vào KCN chủ yếu là các doanhnghiệp 100% vốn ĐTNN với hơn 1.200 dự án, chiếm 87% số dự án có vốnĐTNN vào KCN Doanh nghiệp liên doanh trong KCN chỉ với con sốkhoảng 200 dự án đạt tỷ lệ 13% về số dự án
Số dự án và vốn đầu tư nước ngoài vào KCN tăng qua các năm, thểhiện ở bảng 8:
Bảng 2: Tình hình thu hút dự án đầu tư nước ngoài vào KCN - KCX theo
Vốn (Tr.USD)
475 24
5 1,3
28,9 1,4
371 100
2.012 100
Tỷ lệ %
180 39
786 32
17 3,7
117 4,8
461 100
2.460 100
Tỷ lệ %
299 43
961 69
28 4
186 13
694 100
1.380 100
Trang 174 2003
Tỷ lệ %
179 24
1.517 80
4 0,5
15,1 0,7
752 100
1.900 100
31/12/2005
Tỷ lệ %
2.202 46,8
17.600 40,7
192 4,1
1.004 2,3
4.701 100
43.200 100
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
+ Số lượng dự án và vốn ĐTNN thu hút vào KCN lớn gấp 11,5 lần về
số dự án và 17,5 lần về số vốn đầu tư so với KCX, từ đó có thể khẳng địnhtrong tình hình hiện nay, việc phát triển KCN nhằm thu hút dự án và vốnĐTNN là một giải pháp đúng đắn
+ Hiện nay, xu hướng số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư vào
KCN ngày càng tăng thể hiện bình quân vốn đầu tư trên một dự án đầu tư nước ngoài vào KCN giảm dần theo các năm
Bảng 3: Vốn đầu tư nước ngoài bình quân một dự án trong KCN
2 Tình hình thu hút theo đối tác đầu tư
Trong số hơn 40 quốc gia, vùng lãnh thổ có vốn ĐTNN và KCN, các quốc gia Châu Á có vị trí hết sức quan trọng, nếu căn cứ theo số dự án, 7 nước và