MỞ ĐẦUKhông chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia khác trên thế giới đều coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, cho nên ở Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ hai khóa VIII (tháng 12 năm 1996), Đảng ta đã khẳng định: “Thực sự coi giáo dục đào tạo, là quốc sách hàng đầu”. Mặc dù kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn, song chúng ta vẫn quyết tâm thực hiện tốt quan điểm chỉ đạo trên. Giáo dục Việt Nam những năm gần đây đã có sự khởi sắc nhất định. Tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế, cần tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, để xã hội hóa giáo dục, làm cho giáo dục trở thành “quốc sách hàng đầu” một cách đúng nghĩa và toàn vẹn nhất 2, tr.180.Đất nước ta đang trong tiến trình đổi mới, phát triển và hội nhập, không những cần đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường mà còn phải quan tâm đến đổi mới giáo dục đào tạo, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững năm 2030 của Việt Nam là “Đảm bảo nền giáo dục có chất lượng, công bằng, toàn diện và thúc đẩy các cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người”. Giáo dục vì sự phát triển bền vững hướng tới các kiến thức, kỹ năng, giá trị và năng lực hành động để thực hiện các mục tiêu quốc gia theo các trụ cột của phát triển bền vững.Do vậy nghiên cứu chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa rất quan trọng, từ mục tiêu chung để các cơ sở giáo dục trong cả nước xác định các giải pháp để phát triển giáo dục, qua đó nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo hiện nay.
Trang 1ĐẠI HỌC
BÀI ĐÁNH GIÁ HẾT HỌC PHẦN MODULE 1: ĐƯỜNG LỐI PHÁT TRIỂN GD-ĐT VIỆT NAM
Chương trình bồi dưỡng Nghiệp vụ Quản lý giáo dục
Họ và tên:……….
Ngày sinh:……….,
Nơi sinh:
Đơn vị công tác:
Câu hỏi:
Anh/chị hãy phân tích mục tiêu chung trong chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam; đồng thời, chỉ ra những giải pháp quản lý nhà trường cần chú trọng để đạt được các mục tiêu này Theo anh/chị, giải pháp nào là quan trọng hơn cả, vì sao?
Hà Nội - 2021
Trang 2MỤC LỤC
Trang
1 Phân tích mục tiêu chung trong chiến lược phát triển giáo dục
2 Những giải pháp quản lý nhà trường cần chú trọng để đạt
3 Giải pháp nào là quan trọng hơn cả, vì sao? 7
Trang 3MỞ ĐẦU
Không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia khác trên thế giới đều coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, cho nên ở Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ hai khóa VIII (tháng 12 năm 1996), Đảng ta đã khẳng định: “Thực sự coi giáo dục - đào tạo, là quốc sách hàng đầu” Mặc dù kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn, song chúng ta vẫn quyết tâm thực hiện tốt quan điểm chỉ đạo trên Giáo dục Việt Nam những năm gần đây đã có sự khởi sắc nhất định Tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế, cần tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, để xã hội hóa giáo dục, làm cho giáo dục trở thành “quốc sách hàng đầu” một cách đúng nghĩa và toàn vẹn nhất [2, tr.180]
Đất nước ta đang trong tiến trình đổi mới, phát triển và hội nhập, không những cần đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường
mà còn phải quan tâm đến đổi mới giáo dục - đào tạo, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững năm 2030 của Việt Nam là “Đảm bảo nền giáo dục có chất lượng, công bằng, toàn diện và thúc đẩy các cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người” Giáo dục vì sự phát triển bền vững hướng tới các kiến thức, kỹ năng, giá trị và năng lực hành động để thực hiện các mục tiêu quốc gia theo các trụ cột của phát triển bền vững
Do vậy nghiên cứu chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa rất quan trọng, từ mục tiêu chung để các cơ sở giáo dục trong cả nước xác định các giải pháp để phát triển giáo dục, qua đó nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo hiện nay
Trang 4NỘI DUNG
1 Phân tích mục tiêu chung trong chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam
Mục tiêu chung trong chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam hiện nay
là: Phát triển giáo dục phải thực sự là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của
Đảng, Nhà nước và của toàn dân Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, nâng cao vai trò các tổ chức, đoàn thể chính trị, kinh tế, xã hội trong phát triển giáo dục Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển Thực hiện các chính sách ưu đãi đối với giáo dục, đặc biệt là chính sách đầu tư và chính sách tiền lương; ưu tiên ngân sách nhà nước dành cho phát triển giáo dục phổ cập và các đối tượng đặc thù
Xây dựng nền giáo dục có tính nhân dân, dân tộc, tiên tiến, hiện đại, xã hội chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục vùng khó để đạt được mặt bằng chung, đồng thời tạo điều kiện để các địa phương và các cơ sở giáo dục có điều kiện bứt phá nhanh, đi trước một bước, đạt trình độ ngang bằng với các nước có nền giáo dục phát triển Xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội bình đẳng để ai cũng được học, học suốt đời, đặc biệt đối với người dân tộc thiểu số, người nghèo, con em diện chính sách
Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế, thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển giáo dục gắn với phát triển khoa học và công nghệ, tập trung vào nâng cao chất lượng, đặc biệt chất lượng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành để một mặt đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đảm bảo an ninh quốc phòng; mặt khác phải chú trọng thỏa mãn nhu cầu phát triển của mỗi người học, những người có năng khiếu được phát triển tài năng
Hội nhập quốc tế sâu, rộng về giáo dục trên cơ sở bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc, giữ vững độc lập, tự chủ, định hướng xã hội chủ nghĩa Mở rộng giao
Trang 5lưu hợp tác với các nền giáo dục trên thế giới, nhất là với các nền giáo dục tiên tiến hiện đại; phát hiện và khai thác kịp thời các cơ hội thu hút nguồn lực có chất lượng
Giáo dục và đào tạo luôn được coi là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục - đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã nêu rõ mục tiêu: “Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân”
Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực [3, tr.120]
2 Những giải pháp quản lý nhà trường cần chú trọng để đạt được các mục tiêu này
Thứ nhất, là đổi mới cơ chế quản lý nhà nước và quản trị nhà trường.
Trong giai đoạn đầu triển khai thực hiện Nghị quyết 29, ngành giáo dục chọn đổi mới thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng là giải pháp đột phá, để thông qua đó điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy học cho phù hợp hơn Giải pháp này đã
cơ bản hoàn thành trong giai đoạn vừa qua
Giai đoạn 2021-2025, ngành giáo dục chọn đổi mới cơ chế quản lý nhà nước và quản trị nhà trường là giải pháp đột phá, để tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách mới hiệu quả hơn, khắc phục căn bản các hạn chế, bất cập
Trang 6gây bức xúc xã hội Giải pháp này không cần nhiều nguồn lực nhưng tháo gỡ được những nút thắt, rào cản đổi mới giáo dục hiện nay
Đổi mới mạnh mẽ công tác quản lý trong giáo dục và quản trị nhà trường, coi trọng quản lý chất lượng, hiệu quả quản trị nhà trường, gắn trách nhiệm quản
lý chuyên môn với quản trị nhân sự và tài chính; hoàn thiện cơ chế để cơ quan quản lý giáo dục được tham gia quyết định trong quản lý nhân sự và phân bổ, sử dụng nguồn tài chính dành cho giáo dục của địa phương
Đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường phân cấp, ủy quyền, nâng cao trách nhiệm, tạo động lực và tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, phát huy vai trò, trách nhiệm người đứng đầu trong các cơ sở giáo dục, đào tạo và các địa phương…
Thứ hai, là phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ
quản lý giáo dục Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục là nhân tố quyết định thành công sự nghiệp đổi mới giáo dục
Nhà trường cần hoàn thiện các quy định tuyển dụng Bên cạnh đó, cần xây dựng được kế hoạch nhân sự trong đó có kế hoạch tuyển dụng một cách khoa học Đặc biệt, chú trọng đến việc cân đối giữa các ngành nghề đào tạo, số lượng giảng viên theo ngành nghề; cân đối với tình trạng hiện tại của lực lượng giảng viên của nhà trường: giới tính, lứa tuổi, số lượng hiện có của từng đơn vị, chuyên môn cần thiết… và đặc biệt là cân đối với kế hoạch tuyển sinh những năm tiếp theo Nhà trường cần nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, việc bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng sư phạm cho đội ngũ giáo viên là điều phải làm thường xuyên, nhiều đợt, nhiều cấp độ, nhiều hình thức, đặc biệt là đối với giáo viên trẻ Tăng cường quản lý, sử dụng đội ngũ giáo viên, cán bộ, nhân viên Hoàn thiện phương pháp kiểm tra đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, nâng cao năng lực của bộ máy quản lý Nâng cao năng lực của bộ máy quản lý: theo
đó cần đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý cho đội ngũ cán bộ quản lý, Tăng quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các trưởng đơn vị, Tăng cường nhân sự phòng Tổ chức – Hành chính
Trang 7Thứ ba, tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo Nhà
trường cần huy động mọi nguồn tài lực để xây dựng Trường, cải tiến phòng học, xây dựng tài liệu dạy - học, đầu tư hệ thống thiết bị dạy học đa phương tiện Multimedia, phát triển thư viện theo hướng thư viện điện tử, phát triển phần mềm đào tạo và tài vụ sát với quy mô học sinh và điều kiện thực tế của nhà trường, xây dựng hệ thống website cung cấp thông tin về đào tạo Phát triển phần mềm đào tạo và tài vụ sát với quy mô học sinh và điều kiện thực tế của nhà trường
Thứ tư, đổi mới công tác quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo các
nhà trường cần tổ chức tập huấn, hội thảo, sinh hoạt chuyên môn cho giáo viên
về tầm quan trọng trong kiểm tra, đánh giá toàn trường Khuyến khích giáo viên kiểm tra, đánh giá kết hợp cả định lượng và định tính để học sinh, sinh viên hiểu
rõ hơn về kết quả học tập của bản thân, giúp học sinh, sinh viên trao đổi với giáo viên dễ dàng hơn và áp dụng thang điểm chữ nhiều mức vào công tác kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo Tổ chức họp trao đổi định kỳ về kết quả học tập của sinh viên có sự tham gia của giáo viên giảng dạy, giáo viên chủ nhiệm, cố vấn học tập, phụ trách bộ môn và một số phòng chức năng có liên quan làm rõ thông tin phản hồi về kết quả kiểm tra, đánh giá
Thứ năm, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đào tạo.
Tập trung phát triển mạng máy tính, hình thành mạng giáo dục (Edu.net, Eoffice) bao gồm các mạng của đơn vị, cơ sở giáo dục được kết nối thông tin với nhau qua đường trục Internet quốc gia để phục vụ cho hoạt động giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học và quản lý Tổ chức đăng ký học tập qua mạng, giao dịch qua cổng thông tin điện tử, họp và hội thảo qua mạng Tập huấn cho giáo viên biết lợi ích, chức năng và sử dụng được các phần mềm đơn giản đủ để liên kết, xây dựng nguồn tư liệu phù hợp với đồ dạy học của mình
Thứ sáu, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo
dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học
Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học” [1, tr.116] Đây là sự tiếp tục khẳng định quan điểm
Trang 8của Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn cốt lõi, cấp thiết, từ tư duy, quan điểm đến mục tiêu, hệ thống, chương trình giáo dục, các chính sách, cơ chế và các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục
Đổi mới ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo ở cả trung ương và địa phương, ở cả mối quan hệ giữa gia đình, nhà trường và xã hội Đổi mới để tạo ra chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả giáo dục đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng tăng của các tầng lớp nhân dân
Trong nội dung đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo cần nắm vững vấn đề trọng điểm là đổi mới chương trình, nội dung giáo dục theo hướng tinh giảm, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân
Thứ bảy, đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng” [1, tr.118].
Công tác quản lý giáo dục - đào tạo là một yếu tố rất quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo Trong công tác quản lý cần coi trọng quản lý chất lượng, thực hiện mục tiêu: “Kỷ cương nghiêm - Chất lượng thực - Hiệu quả cao” trong mọi hoạt động của ngành, từ việc dạy của thầy đến việc học của trò; từ việc quản lý chuyên môn, nhân sự đến việc quản lý tài chính, cơ sở vật chất, từng bước khắc phục sự chênh lệch về chất lượng giáo dục giữa các trường học Đẩy mạnh phân cấp quản lý thực hiện Nghị định
115/NĐ-CP của Chính phủ quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục Thực hiện nghiêm các quy định về quản lý dạy thêm, học thêm
Trang 9Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, đào tạo trên tinh thần tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục, đào tạo Thực hiện hợp lý cơ chế tự chủ đối với các cơ sở giáo dục, đào tạo gắn với đổi mới cơ chế tài chính Làm tốt công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển, quản lý mục tiêu, chất lượng giáo dục, đào tạo Phát triển hệ thống kiểm định và công bố công khai kết quả kiểm định chất lượng giáo dục, đào tạo Tăng cường công tác thanh tra; kiên quyết khắc phục các hiện tượng tiêu cực trong giáo dục, đào tạo
3 Giải pháp nào là quan trọng hơn cả, vì sao?
Trong các giải pháp trên, giải pháp “Thứ hai, là phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục” là quan trọng hơn cả Xuất
phát từ lý do sau:
Phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục luôn là vấn đề chiến lược của mỗi quốc gia vì đội ngũ giáo viên mang yếu tố hàng đầu quyết định chất lượng giáo dục Đó là nguồn duy nhất đào tạo nguồn nhân lực có khả năng hiện thực hóa mọi kế hoạch cho tương lai, đặc biệt trong thế kỷ XXI được xem là thế kỷ của công nghệ thông tin và kinh tế tri thức Vì thế, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục được xem là khâu đột phá, trọng tâm của công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục hiện nay
Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục được coi như yếu tố then chốt của cải cách, đổi mới giáo dục Bởi lẽ, không có thầy giỏi về năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức tốt thì không thể có nền giáo dục chất lượng Bên cạnh đó, hiện nay nhìn chung, các nhà giáo có tinh thần trách nhiệm cao, tích cực học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ Giáo viên
đã có những năng lực cần thiết để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục Đội ngũ giáo viên đã nhận thức rõ trách nhiệm của mình đối với sự nghiệp “trồng người”, thể hiện tâm huyết với nghề nghiệp, tận tụy với công việc trên tinh thần
“Tất cả vì học sinh thân yêu” Trong công tác nghiên cứu, đã thể hiện tính tích cực, đi sâu khám phá cái mới, nắm chắc vận dụng sáng tạo các nguyên tắc, phương pháp dạy học, nghiên cứu khoa học vào quá trình dạy học, giáo dục,
Trang 10nhất là những yêu cầu mới của chương trình cải cách giáo dục mà Bộ Giáo dục
và đào tạo đưa ra
Tuy nhiên, chất lượng đội ngũ giáo viên còn có những bất cập Thực tế vẫn còn giáo viên thiếu tâm huyết với nghề, còn vi phạm chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp nhà giáo như nhận phong bì, chạy trường, chạy điểm, thu tiền quỹ, thậm chí gây khó khăn, xúc phạm, bạo hành đối với học sinh…Trong công tác chuyên môn, còn không ít giáo viên có biểu hiện sa sút về ý chí, cống hiến, ngại học tập nâng cao trình độ chuyên môn, chưa thực sự công tâm, chưa đánh giá đúng thực chất kết quả học tập của học sinh; có biểu hiện bệnh thành tích trong giáo dục, còn nhiều tiêu cực, làm giảm uy tín, niềm tin của học sinh, phụ huynh
và cộng đồng xã hội đối với đội ngũ nhà giáo…
Do vây, xuất phát từ các lý do trên chúng ta có thể khẳng định giải pháp
“Phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục”
là giải pháp quan trọng nhất
4 Vận dụng Trường Tiểu Học Nam Hồng
Trường Tiểu học Nam Hồng được tách ra từ trường Phổ thông cơ sở Nam Hồng ngày 22/9/1990 theo quyết định số 99/QĐ-TCCQ của Ủy ban nhân dân huyện Huyện Đông Anh và chính thức đi vào hoạt động từ tháng 9/1990 với nhiệm vụ dạy học con em nhân dân xã Nam Hồng Trong quá trình xây dựng và phát triển, trường luôn nhận được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, sự phối hợp tích cực của cha mẹ học sinh
Trường Tiểu học Nam Hồng cơ sở vật chất tương đối đảm bảo để đáp ứng yêu cầu tổ chức dạy học cho học sinh của trường trong giai đoạn hiện nay Nhà trường có khuôn viên riêng biệt với diện tích 6550m2, vị trí thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động dạy học cũng như đảm bảo an toàn cho giáo viến, học sinh
và an ninh trật tự của trường Ban giám hiệu có trình độ, năng lực quản lý tốt, chuyên môn vững vàng, năng động, nhiệt tình trong công tác quan tâm chỉ đạo sát sao có hiệu quả các hoạt động của nhà trường, tạo được niềm tin đối với tập thể giáo viên cũng như các cấp lãnh đạo và chính quyền địa phương Đội ngũ giáo viên của trường có chuyên môn vững vàng, nhiệt tình, tâm huyết với nghề,