* Hạn chế: Rèn cho học sinh có được kĩ năng làm bài văn biểu cảm ở các phần bài tập, các tiết luyện tập và việc cho bài tập về nhà sau đó kiểm tra, uốn nắn trong dạy học phân môn tập làm[r]
Trang 1MỤC LỤCMỤC LỤC Trang 01
KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU KHSPƯD Trang 02
1 TÓM TẮT ĐỀTÀI Trang 03
2 GIỚI THIỆU Trang 04
2.1 Hiện trạng Trang 042.2 Nguyên nhân Trang 042.3 Giải pháp thay thế: Trang 05-062.4 Một số nghiên cứu gần đây liên quan đến đề tài: Trang 072.5 Vấn đề nghiên cứu: Trang082.6 Giả thuyết nghiên cứu: Trang 08
3 PHƯƠNG PHÁP Trang 08
3.1 Khách thể nghiên cứu: Trang 083.2 Thiết kế nghiên cứu: Trang 083.3 Quy trình nghiên cứu: Trang 093.4 Đo lường và thu thập dữ liệu: Trang 10
4 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN KẾT QUẢ: Trang 10
4.1 Phân tích dữ liệu: Trang 104.2 Bàn luận kết quả: Trang 11
5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ: Trang 11
5.1 Kết luận: Trang12 5.2 Khuyến nghị: Trang 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO Trang 13 PHỤ LỤC Trang 14-25
Trang 2KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG
Tên đề tài:
“Nâng cao chất lượng môn Ngữ văn lớp 7a2 Trường THCS Nguyễn Văn Linh thông qua việc giúp học sinh rèn kĩ năng làm văn biểu cảm”
Người nghiên cứu: ĐẶNG THUỲ TRANG
Đơn vị: Trường THCS Nguyễn Văn Linh – Thành phố Tây Ninh.
- Liệu việc rèn kĩ năng làm bài trên lớp và tăng cường bài tập
về nhà cho học sinh, có giúp nâng cao chất lượng phân môn Tập làm văn lớp 7a2 hay không?
- Điểm số bài kiểm tra
- Có Việc làm trên sẽ giúp nâng cao chất lượng phân môn Tập làm văn lớp 7a2
4 Thiết kế: - Kiểm tra trước tác động và sau tác động đối với các nhóm
5 Đo lường: - Đo lường bằng điểm số các bài kiểm tra: Bài kiểm tra trước
tác động là bài viết số 1, bài kiểm tra sau tác động là bài viết số 2
6 Phân tích dữ
liệu: - Dùng phép kiểm chứng T- Test phụ thuộc.- Đo mức độ ảnh hưởng SMD
7 Kết quả Kết quả đối với vấn đề nghiên cứu có ý nghĩa không?
Nếu có ý nghĩa, mức độ ảnh hưởng như thế nào?
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SƯ PHẠM ỨNG DỤNG
Trang 3Đề tài:
“ Nâng cao chất lượng môn ngữ văn lớp 7a2 Trường THCS Nguyễn Văn Linh thông qua việc giúp học sinh rèn kĩ năng làm văn biểu cảm” Người nghiên cứu: ĐẶNG THUỲ TRANG
Đơn vị: Trường THCS Nguyễn Văn Linh – Thành phố Tây Ninh.
1 TÓM TẮT ĐỀ TÀI:
“Văn học là nhân học” Văn học có vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong
sự phát triển tư duy của con người Hơn bất cứ hoạt động tinh thần nào, văn học có khảnăng đặc biệt trong việc phát hiện và diễn tả sự bí ẩn, huyền diệu và vô tận của đời sốngtâm linh tính cách của con người Chất nhân văn đó không phải là thứ lòng tốt ngây thơ
mà là sự hiểu biết tinh tế, hiểu mình, hiểu người dạy con người rèn luyện những phẩmchất tốt đẹp, đem đến cho họ sự sáng suốt trong tinh thần, sự phong phú tâm hồn Vănhọc dạy con người biết nhận thức bản thân mình, dạy con người biết yêu cuộc sống,biết tận hưởng cuộc sống và biết sống
Sống như thế nào? Suy nghĩ ra sao? Phương hướng hành động… của mỗi họcsinh được tập trung thể hiện nhiều nhất trong bài tập làm văn Phân môn tập làm vănliên kết tự nhiên và chặt chẽ với các phân môn khác của môn ngữ văn nhằm giúp các
em có năng lực tự tạo lập văn bản bằng hình thức ngôn ngữ Phân môn này là khâu traudồi và rèn luyện ngôn ngữ giúp học sinh có khả năng bộc lộ vốn hiểu biết và cảm xúc
cá nhân một cách trong sáng, chân thực Mỗi bài tập làm văn của các em là sản phẩmsáng tạo thể hiện suy nghĩ, tư tưởng, tình cảm của bản thân Thành ngữ Hán Việt cócâu: “Danh sư xuất cao đồ” (Thầy giỏi sẽ đào tạo ra trò giỏi) Quả là như vậy, nhưngMạnh Tử nói: “Giáo diệc đa thuật hĩ ”(Giáo dục cũng có nhiều phương pháp); Cố thủ
tướng Phạm Văn Đồng thì đã từng nói: “Dạy làm văn là chủ yếu dạy cho học sinh diễn
tả cái gì mình suy nghĩ, mình cần bày tỏ một cách trung thành, sáng tỏ, chính xác, làm nổi bật điều mình muốn nói.”… (Dạy văn là một quá trình rèn luyện toàn diện Nghiên
cứu giáo dục, số 28 11/1973) Từ đó, mà bản thân người thầy chúng ta càng thấm thíahơn, vì muốn các em có được những sản phẩm tinh thần thật tốt thì người giáo viên, khidạy văn THCS nói chung, dạy văn biểu cảm nói riêng, ngoài nắm kiến thức cùng vớimột tâm hồn, một trái tim sống cùng tác giả, tác phẩm thì còn cần phải có một phươngpháp phù hợp, phải biết giúp các em có kĩ năng làm bài Bởi, “Có bột mới gột nên hồ”mà!
Nhiều năm liền, tôi được phân công giảng dạy môn ngữ văn khối 7 Trong quátrình giảng dạy, tôi nhận thấy: mặc dù, như chúng ta đều biết, trẻ em rất giàu khả năngsáng tạo vì trí tưởng tượng của các em hồn nhiên, ngây thơ, ngộ nghĩnh, không bị ràngbuộc bởi những luật lệ định kiến …Khả năng sáng tạo của trẻ em là khả năng lĩnh hộitri thức của loài người đã tích luỹ Khi nắm vững tri thức thì sáng tạo bắt đầu, đó là cảmột quá trình hoạt động vận hành các thao tác tư duy để tạo ra một sản phẩm có tínhmới mẻ với các em Những sản phẩm này đơn giản ngắn gọn hơn, thể hiện những sắcthái biểu cảm khác nhau Như vậy mọi trẻ em đều có khả năng sáng tạo ở những mức
độ khác nhau, trong lĩnh vực khác nhau Nên nhu cầu bộc lộ tình cảm, cảm xúc là điềuhiển nhiên Nhưng thể hiện cảm xúc như thế nào? Diễn đạt ra làm sao? Đó cũngchính là những câu hỏi đặt ra với những người giáo viên dạy văn biểu cảm
Vậy văn biểu cảm là gì? “Văn biểu cảm là loại văn trữ tình, được viết ra nhằm biểu đạt tình cảm, cảm xúc và sự đánh giá của con người đối với thế giới xung quanh đồng thời khêu gợi sự đồng cảm nơi người đọc”(Tạ Đức Hiền -Tư liệu bồi dưỡng
Trang 4thường xuyên, quyển II) Như vậy có thể nói, văn biểu cảm là loại văn thể hiện nộitâm, tâm trạng của người viết Ngồi trước trang giấy, nếu tâm hồn trống rỗng khôngcảm xúc, đầu óc mông lung không có ý nghĩ gì thì người viết không thể có được mộtbài văn biểu cảm có hồn Lúc đó, bài văn hoặc khô khan, nhạt nhẽo, ngắn ngủn hoặcgiả tạo, vay từ mượn ý Nhưng điều đáng nói ở đây là: Khi hành văn, các em còn lẫnlộn, chưa phân biệt rõ ràng, rạch ròi giữa các thể loại văn bản, nắm không chắc cáchlàm bài; Ngại luyện rèn các thao tác để có được kĩ năng làm văn sau khi học xong líthuyết Chính vì thế, điểm các bài kiểm tra và điểm trung bình môn văn của các em cònthấp Thực tế đó, quả là đáng lo ngại Thực trạng vấn đề này ra sao ? Vì sao học sinhgặp nhiều khó khăn trong việc làm văn? Cần phải làm gì để nâng cao chất lượng dạy vàhọc làm văn nói chung và làm văn biểu cảm nói riêng cho học sinh lớp 7 THCSnguyễn văn Linh? Đó là những vấn đề tôi trăn trở, day dứt, muốn cùng được chia sẻ vớicác đồng nghiệp trong bài viết này
Để khắc phục tình trạng trên, tôi nghiên cứu chọn giải pháp: “Nâng cao chất
lượng môn ngữ văn lớp 7a2 Trường THCS Nguyễn Văn Linh thông qua việc giúp họcsinh rèn kĩ năng làm văn biểu cảm” Nghiên cứu được tiến hành trên hai nhóm tươngđương: Hai lớp 7 trường THCS Nguyễn Văn Linh Lớp 7a2 (39 học sinh) được chọnlàm lớp thực nghiệm; Lớp 7A3 (40 học sinh) làm lớp đối chứng Lớp thực nghiệm,trong những giờ lí thuyết, luyện tập của phân môn Tập làm văn chính khóa và nhữngtiết phụ đạo buổi chiều, tôi đặc biệt chú trọng rèn kĩ năng làm bài cho các em bằngphương pháp dạy học tích cực; kết hợp nhịp nhàng các phương pháp đặc trưng bộ môn.Phần hướng dẫn tự học ở nhà cũng là một khâu được tôi lập kế hoạch một cách kĩcàng: Các bài tập giao về nhà, tôi kiểm tra, sửa chữa uốn nắn, động viên, nhắc nhở nhẹnhàng, tình cảm thật kịp thời cho các em Đặc biệt, ứng dụng CNTT vào giảng dạy mộtcách hợp lí
Kết quả cho thấy tác động có ảnh hưởng lớn đến kết quả học tập của học sinh Điểm trung bình sau tác động của lớp thực nghiệm là 7.11 còn lớp đối chứng là 6.25 và kết quả kiểm chứng T-test cho thấy p = 0,00027 chứng tỏ tác động là có ý nghĩa Điều
này chứng minh rằng : “Rèn kĩ năng làm văn biểu cảm” đã góp phần nâng cao chấtlượng cho học sinh
- Một số em, bài làm có tình cảm hời hợt, thiếu chân thực, chưa xuất phát từ tráitim mình
2.2 Nguyên nhân:
Như chúng ta đã nói ở trên, văn học dạy con người biết nhận thức bản thân mình, dạy con người biết yêu cuộc sống, biết tận hưởng cuộc sống và biết sống Hơn thế, lại là văn biểu cảm Loại văn trữ tình, được viết ra nhằm biểu đạt tình cảm, cảm xúc và sự đánh giá của con người đối với thế giới xung quanh đồng thời khêu gợi sự đồng cảm nơi người đọc Thế nhưng!
+ Một số giáo viên chưa thực sự tâm huyết với nghề, chưa có biện pháp hữu hiệutrong việc rèn kĩ năng đọc sách cho học sinh, chưa khơi gợi được mạch nguồn cảm xúc,
ẩn sau mỗi trái tim người học
+ Phương pháp giảng dạy chưa thực sự phù hợp với một bộ phận không nhỏ họcsinh yếu kém dẫn đến chất lượng chưa cao
Trang 5+ Thực trạng việc dạy học thường diễn ra một cách khô khan, nặng nề, ít gâyhứng thú cho học sinh.
+ Do sĩ số lớp đông nên rất khó cho giáo viên trong việc theo sát, kèm cặp từnghọc sinh trong mỗi tiết dạy
+ Một số phụ huynh và học sinh chưa nhận thức rõ được vai trò của môn họcnày Hoặc do vấn đề về hoàn cảnh
+ Chương trình Ngữ văn 7 khó hiểu, nhất là các tác phẩm trữ tình Trung đại,trong khi đó tiết Tìm hiểu chung về văn biểu cảm (Tiết 20) lại không có sự tích hợpchặt chẽ với các văn bản biểu cảm đã học
+ Học sinh mất căn bản, nghèo nàn về vốn từ, rất ngại đọc sách để thưởng thứcđược những văn bản biểu cảm hay Ham chơi hơn ham học, chưa có hứng thú với mônhọc nên rất ngại khâu luyện tập, rèn kĩ năng làm bài cho bản thân Thử hỏi làm sao cóđược kĩ năng làm bài
Vì vậy, trong đề tài nghiên cứu này đưa ra giải pháp thay thế: rèn cho học sinh
có kĩ năng làm bài văn biểu cảm Có như vậy, bài viết của các em mới có chất lượngcao hơn
2.3 Giải pháp thay thế:
Ngoài lòng yêu trẻ, yêu nghề, thái độ cư xử công bằng đầy tình thương, biết tựkiềm chế bản thân, gương mẫu để học sinh noi theo, tôn trọng nhân cách trẻ, biết hợptác với trẻ trong quá trình dạy học và giáo dục, biết tạo dựng bầu không khí dân chủtrong lớp học Còn phải biết vận dụng một số phương pháp phù hợp đặc trưng bộ mônmột cách sáng tạo để các em nắm vững lí thuyết về văn biểu cảm, về yếu tố biểu cảm,
về phương thức biểu cảm - Một phương thức cũng biểu đạt bằng ngôn từ như tự sự,miêu tả,… phản ánh tình cảm của con người với thế giới xung quanh Hiểu bài văn biểucảm là sự thể hiện nội tâm của con người nên dù trực tiếp, hay gián tiếp (thông qua hìnhảnh ẩn dụ, hoán dụ, một câu chuyện hoặc một phong cảnh… để giãi bày suy nghĩ, cảmxúc), người viết cũng phải thường sử dụng các biện pháp kết hợp giữa quan sát và trảinghiệm bản thân với quá trình liên tưởng, tưởng tượng, so sánh, suy ngẫm
Dù dạy văn biểu cảm về sự vật và con người hay văn biểu cảm về tác phẩm văn học,giáo viên luôn phải định hướng cho các em biết biểu đạt tình cảm đẹp, trong sáng, chânthật, và hướng dẫn các em nắm vững quy trình để làm một bài văn biểu cảm tốt Quytrình đó bao gồm :
1 Các bước làm bài văn biểu cảm:
a.Tìm hiểu đề và tìm ý:
* Tìm hiểu đề :
- Một đề bài thường ra dưới dạng khái quát nhằm thích hợp với tất cả đối tượnghọc sinh Do đó, quá trình tìm hiểu đề bài sẽ diễn ra như một hoạt động nhằm cá thểhóa đề bài cho từng học sinh Kết quả của quá trình này là mỗi học sinh có một đề bàicho riêng mình Trong đề bài văn biểu cảm, giáo viên cần định hướng cho các em tìmhiểu đề bằng cách tìm ra lời giải cho các câu hỏi sau :
+ Em định phát biểu cảm nghĩ, tình cảm, mong muốn về đồ vật (con vật, loàicây, cảnh vật ) nào? về người nào? về tác phẩm nào?
+ Em viết bài biểu cảm đó nhằm mục đích gì? (giãi bày cảm xúc, tình cảmnào?)
+ Em viết bài biểu cảm đó để ai đọc? (cô giáo, thầy giáo, bố mẹ, bạn bè .)
- Lời giải đáp cho ba câu hỏi trên sẽ quyết định nội dung bài viết (đối tượng biểu cảm
và tình cảm cần thể hiện?); giọng điệu bài viết (viết cho bạn bè phải là giọng văn thânmật, có thể suồng sã; còn viết cho thầy cô hoặc bố mẹ phải thân thiết nhưng nghiêmtúc, trang trọng)
* Tìm ý:
Trang 6- Tìm ý cho bài văn biểu cảm chính là tìm cảm xúc, tìm những ý nghĩ, tìmnhững rung động để diễn đạt thành nội dung của bài Ý nghĩ, cảm xúc, tình cảm thìmuôn màu muôn vẻ Như đã nói ở trên, ở bài văn biểu cảm, sự rung động của ngườiviết đều bắt nguồn từ việc quan sát cuộc sống xung quanh, từ những gì người viết đósống và trải qua, hoặc tiếp xúc với tác phẩm Vì thế, muốn tìm ý cho bài văn biểu cảmkhông phải cứ ngồi một chỗ mà đợi ý nghĩ, cảm xúc đến mà phải lục lọi trong trí nhớ,trong kỉ niệm những gì mình biết về đối tượng và từ từ nhớ lại các chi tiết; Phải biết suynghĩ để tìm ra ý và cách nào đó để có thể bày tỏ cảm xúc, tình cảm, ý nghĩ của mìnhmột cách chân thật và tế nhị (Lập ý) Khi có một đề bàì, hãy quan sát kĩ đối tượng đềbài nêu ra, hình dung cụ thể đối tượng biểu cảm (cảnh vật, vật, sự việc, con người…)trong thời gian và không gian Bởi tình cảm con người thường được gợi lên từ đấy Phảibiết lắng nghe tiếng lòng mình khi giao hòa cùng đối tượng, để từ đó nói lên cảm xúc ýnghĩ của chính mình Cũng như thao tác tìm ý truyền thống là cách đặt câu hỏi và trả lờicho câu hỏi mà mình đặt ra Trong kiểu bài này, cần hướng các em hệ thống câu hỏitập trung quanh các dạng như sau:
- Tình cảm, cảm xúc, ấn tượng, suy nghĩ sâu sắc nhất của em về đối tượng là gì?
- Những đặc điểm, tính chất gì của đối tượng tác động nhiều nhất tới cảm xúc
và suy nghĩ của em?
- Đối tượng làm em nghĩ đến, liên tưởng đến những gì?
- Em có kỉ niệm gắn bó sâu sắc nào với đối tượng?
- Đối tượng có ý nghĩa như thế nào trong đời sống của em?
- Giúp các em biết được một số phương pháp lập ý thường gặp bằng cách cungcấp địa chỉ những đoạn văn mẫu cho các em tham khảo để bài làm giàu cảm xúc và có
Bước này, có thể hoạt động theo nhóm để thu thập được nhiều ý hay hoặc giáoviên chọn những học sinh khá giỏi phát biểu trước, sau đó đến các em có học lực trungbình, yếu để các em có sự rút kinh nghiệm từ các bạn của mình (nếu là giờ dạy phụđạo buổi chiều, thì giáo viên nên dành nhiều thời gian cho việc cung cấp thêm từ ngữ,uốn nắn cách diễn đạt, cách dùng từ, những ý mà các em tìm được: Dùng những từ ngữchứa đựng cảm xúc: “ Nhớ, biết ơn, không thể nào quên, cảm động, yêu mến, ân hận,thương,…”; Dùng lời kêu, lời gọi,…)
b Lập dàn ý:
Bài văn biểu cảm cũng có kết cấu ba phần (mở bài, thân bài, kết bài) như cáckiểu văn bản khác Mở bài nhằm giới thiệu đối tượng và cảm xúc chính về đối tượng.Phần thân bài là sự phát triển các cảm xúc chính đã nêu ra ở phần mở bài Phần kết bàikhép lại các ý đã trình bày Gv cần hướng dẫn cho các em kĩ năng lập dàn ý, sao cho bốcục phải rõ ràng, hợp lí
- Mở bài: Nêu rõ đối tượng biểu cảm
(Em định bày tỏ cảm nghĩ về ai? Cái gì? Con gì? Chuyện gì? )
- Thân bài:Trình bày cảm xúc chính
VD:
+ Về thầy cô: Ngoại hình, tính cách, tài năng, kỉ niệm, cảm xúc hiện tại
+Về loài cây: Vẻ đẹp, phẩm chất, kỉ niệm, ý nghĩa
+Về món quà em thích nhất: Hoàn cảnh nhận, vẻ đẹp, công dụng, kỉ niệm vui,buồn
Trang 7- Kết bài: Nêu cảm xúc chung, cảm xúc cuối cùng đọng lại: Suy ngẫm, bàihọc, lời hứa, hy vọng,…
Còn nếu là tác phẩm văn học, cần có kĩ năng trình bày cảm xúc, ý nghĩ trên cơ
sở hiểu biết nhất định về kĩ năng phân tích tác phẩm, cảm, hiểu sâu sắc những khíacạnh, những chi tiết thú vị, đặc sắc của tác phẩm có ảnh hưởng nhiều nhất tới tưtưởng, tình cảm của mình Nói cách khác, các em phải hiểu rằng: đây là hướng cảm thụtác phẩm làm cơ sở để bày tỏ cảm nghĩ của mình một cách thuyết phục chứ không phải
là tự do, tùy tiện Nếu người giáo viên rèn được cho các em viết tốt kiểu bài này sẽ tạo
cơ sở bước đầu rất hữu ích để sau này các em có thể làm tốt kiểu bài phân tích, bìnhgiảng tác phẩm văn học
d Đọc lại bài và sửa bài
Đa số học sinh khi làm bài không biết cách phân phối thời gian hợp lí nên vừaviết xong là đã hết giờ, thậm chí hết thời gian nhưng vẫn chưa làm xong bài Do đó,khâu tự sửa bài sau khi viết không được coi trọng Giáo viên cần nhắc nhở các em chútrọng hơn đến việc đọc, rà soát lại lỗi chính tả, lỗi dùng từ, dấu câu,…của bài trướckhi nộp
Qua các tiết lý thuyết và luyện tập ở trên lớp cùng với các bài tập mà các emđược thực hành ở nhà dưới sự kiểm tra, rèn giũa tận tình của giáo viên Các em sẽquen dần và trở nên thành thạo hơn trong việc tạo lập một văn bản biểu cảm Nếu khi
đã có được kĩ năng làm bài, các em sẽ không còn e ngại khi đứng trước một đề văn, sẽcảm thấy tự tin hơn, yêu thích hơn, hứng thú đối với môn học này
2.4 Một số nghiên cứu gần đây liên quan đến tài:
-Kinh nghiệm: “Hướng dẫn học sinh cách phân đoạn phần thân bài khi làm bàivăn tự sự trong phân môn Tập làm văn lớp 6 THCS
-Sáng kiến kinh nghiệm: “ Hướng dẫn học sinh cách làm bài nghị luận về tácphẩm truyện ( hoặc đoạn trích) trong chương trình Ngữ văn lớp 9 của giáo viên PhanThị Vân Trường THCS Xuân Trường - Huyện Xuân Trường - Tỉnh Nam Định
- Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng môn Ngữ văn: “Nâng cao chất lượngmôn Tập làm văn lớp 8A1 Trường THCS Nguyễn Văn Linh thông qua việc giúp học
Trang 8sinh rèn kĩ năng lập dàn ý” của cô Nguyễn Thị Thanh Hòa Trường THCS Nguyễn VănLinh.
Các đề tài, tài liệu trên chủ yếu bàn về:
+ Việc giúp học sinh biết cách mở bài ở các dạng văn
+ Giúp học sinh hiểu rõ tính chất tổng hợp của kiểu bài nghị luận về một tácphẩm truyện (hoặc đoạn trích); Trình bày những cảm nhận, đánh giá phải có lí lẽ, lậpluận, đồng thời phải qua phân tích, chứng minh bằng các dẫn chứng cụ thể; Kết hợpđồng thời, linh hoạt nhiều phép lập luận (giải thích, chứng minh, phân tích, )
+ Giúp học sinh thấy rõ được tầm quan trọng của việc lập dàn ý trước khi làmbài
Bản thân tôi là mong muốn có một nghiên cứu cụ thể và đánh giá được hiệu quảcủa việc vận dụng đề tài vào thực tiễn Vì nó không chỉ góp phần tích cực vào việc đàotạo cho đất nước những thế hệ học sinh thành thục về kĩ năng mà còn góp phần vàoviệc thực hiện mục tiêu đào tạo của trường THCS: bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, xâydựng nhân cách con người Việt nam mới cho học sinh, giáo dục cho các em tình yêuquê hương, đất nước, thái độ lao động mới và những đức tính tốt đẹp khác như lòngnhân ái, tinh thần dũng cảm, tinh thần nhân văn, ý thức chủ động sáng tạo trong cuộcsống và khát vọng vươn tới những giá trị của Chân - Thiện - Mĩ
2.5.Vấn đề nghiên cứu:
Việc rèn cho học sinh có được kĩ năng làm bài văn biểu cảm ở các phần bài tập,các tiết luyện tập và việc cho bài tập về nhà sau đó kiểm tra, uốn nắn có làm nâng caochất lượng học tập môn Tập làm văn của học sinh lớp 7A2 Trường THCS Nguyễn VănLinh không?
2.6 Giả thuyết nghiên cứu:
Có! Việc rèn cho học sinh có được kĩ năng làm bài văn biểu cảm ở các phần bàitập, các tiết luyện tập và việc cho bài tập về nhà sau đó kiểm tra, uốn nắn đã nâng caođược chất lượng học tập môn Tập làm văn của học sinh lớp 7A2 Trường THCSNguyễn Văn Linh
3 PHƯƠNG PHÁP:
3.1 Khách thể nghiên cứu:
Tôi lựa chọn hai lớp 7A3 và 7A2 để thực hiện nghiên cứu vì đó là hai lớp có sựtương đương về trình độ và sĩ số lớp, đầu năm đã được ban giám hiệu xếp lớp dựa vàohọc lực và hạnh kiểm của các lớp tương đồng nhau Cụ thể như sau:
3.2 Thiết kế nghiên cứu:
Chọn tất cả học sinh của hai lớp 7A3 và 7A2 để thực hiện nghiên cứu Lớp 7A3được chọn làm nhóm đối chứng, lớp 7A2 là nhóm thực nghiệm Tôi dùng bài kiểm tra(Bài viết số 1- Tiết12) làm bài kiểm tra trước tác động so sánh với bài kiểm tra sau tácđộng (Bài viết số 2- Tiết 31,32) do tôi trực tiếp biên soạn và tổ chức kiểm tra (Vì haibài kiểm tra trên tương đương nhau về thời điểm đầu học kỳ và thời lượng kiểm tra)
Trang 9Kết quả kiểm tra trước tác động, điểm trung bình của hai nhóm có sự khác nhau,
do đó tôi dùng phép kiểm chứng T-test để kiểm chứng sự chênh lệch điểm số trung bìnhcủa 2 nhóm, thu được kết quả sau:
Bảng 2: Giá trị trung bình
Điểm trung bình Nhóm thực nghiệm Nhóm đối chứng
P = 0,1675 > 0,05 từ đó kết luận sự chênh lệch điểm số trung bình của hai nhómthực nghiệm và nhóm đối chứng là không có ý nghĩa Do đó, hai nhóm được xem làtương đương
Sử dụng thiết kế 2: Kiểm tra trước và sau tác động đối với các nhóm tương đương Bảng 3: Thiết kế nghiên cứu :
O3
Đối chứng
(7A3) O2 Sử dụng kế hoạch bài học theo các tiến trìnhlên lớp với các hoạt động bình thường. O4Ở thiết kế này, tôi sử dụng phép kiểm chứng T-Test độc lập
3.3 Quy trình nghiên cứu:
+ Chuẩn bị bài của giáo viên:
Trực tiếp dạy lớp 7A3: (Nhóm trước tác động ) Thiết kế bài học theo các tiếntrình lên lớp với các hoạt động bình thường
Trực tiếp dạy lớp 7A2: (nhóm sau tác động) Thiết kế bài học bằng cách phối hợpnhịp nhàng các phương pháp như : Vấn đáp, thảo luận nhóm, phân tích ngữ liệu,…Giáo viên đầu tư cho việc soạn giảng nhiều hơn, chuẩn bị đèn chiếu, phiếu học tập chocác em Chú trọng rèn kĩ năng thực hành trên lớp, giao thêm bài tập vừa sức (cho họcsinh yếu) bài tập nâng cao (cho học sinh khá giỏi) về nhà Sau đó sửa chữa, uốn nắnkịp thời cho các em
Tiến hành thực hiện: Thời gian tôi tiến hành thực nghiệm theo như kế hoạch dạyhọc đã lên ở lịch báo giảng
Thứ/ Ngày Lớp Tiết theo
lịch báo
Tiết theophân phối
Tên bài dạy
Trang 10giảng chương trình
bài văn biểu cảm
3.4 Đo lường và thu thập dữ liệu :
Dữ liệu thu thập đó là kết quả bài kiểm tra của nhóm thực nghiệm và nhóm đốichứng Bài kiểm tra trước tác động là bài viết số 1 Bài kiểm tra sau tác động là bài viết
số 2 do tôi trực tiếp ra đề (Nội dung kiểm tra trình bày ở phần phụ lục) Sau đó tôi tiếnhành chấm bài theo đáp án đã xây dựng
4 PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ BÀN LUẬN:
4.1 Phân tích dữ liệu :
Dữ liệu thu thập được mô tả ở Bảng thang đo ( xem phụ lục )
Bảng 5: Bảng so sánh điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động:
chứng là có ý nghĩa, tức là chênh lệch kết quả điểm trung bình nhóm thực nghiệm cao
hơn điểm trung bình nhóm đối chứng là không ngẫu nhiên mà do kết quả của tác động
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD = 0.87
Theo tiêu chí Cohen, chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD = 0.87 cho thấymức độ ảnh hưởng của việc rèn kĩ năng làm văn biểu cảm trong quá trình học tập của
nhóm thực nghiệm là lớn.
Giả thuyết của đề tài “Nâng cao chất lượng môn ngữ văn lớp 7a2 Trường THCS
Nguyễn Văn Linh thông qua việc giúp học sinh rèn kĩ năng làm văn biểu cảm đã được
kiểm chứng
Trang 115.2 5.4 5.6 5.8 6 6.2 6.4 6.6 6.8 7 7.2
Trước TĐ Sau TĐ
Nhóm đối chứng Nhóm thực nghiệm
Biểu đồ so sánh ĐTB trước tác động và sau tác động của nhóm thực nghiệm
và nhóm đối chứng
4.2 Bàn luận kết quả:
Kết quả của bài kiểm tra sau tác động đối với nhóm thực nghiệm điểm trung bình là
7.11, đối với nhóm đối chứng điểm trung bình là 6.27 Độ chênh lệch điểm số giữa hai nhóm
là 0.84 Điều đó cho thấy điểm trung bình của hai lớp đối chứng và thực nghiệm đã có sự
khác biệt rõ rệt, lớp được tác động có điểm trung bình cao hơn lớp đối chứng
Phép kiểm chứng T-test giá trị trung bình bài kiểm tra sau tác động của hai lớp là
p = 0.00084 < 0.05 Như vậy sự chênh lệch là có ý nghĩa giữa hai nhóm thực nghiệm
và đối chứng Điều này đã chứng tỏ rằng việc rèn cho học sinh có được kĩ năng làmvăn biểu cảm thông qua phương pháp dạy học tích cực trên lớp, cùng với sự kiểm trauốn nắn kịp thời cho các em sau đó là có ý nghĩa Hay nói cách khác điểm trung bìnhsau khi tác động của nhóm thực nghiệm lớn hơn nhóm đối chứng không phải là ngẫunhiên mà đó chính là kết quả của quá trình tác động mang lại, nghiêng về nhóm thựcnghiệm
Theo bảng tiêu chí Cohen, chênh lệch giá trị trung bình chuẩn (SMD) = 0.87 chothấy mức độ ảnh hưởng của việc rèn cho học kĩ năng làm văn biểu cảm là có ảnh hưởng
và kết quả mà nó mang lại là lớn Như vậy giả thiết của đề tài là “Rèn cho học sinh có
được kĩ năng làm bài văn biểu cảm ở các phần bài tập, các tiết luyện tập và việc cho bàitập về nhà sau đó kiểm tra, uốn nắn có làm nâng cao chất lượng học tập môn Tập làmvăn của học sinh lớp 7A2 Trường THCS Nguyễn Văn Linh không” thì giờ đây đã đượckiểm chứng trong thực tế và cho thấy rằng việc rèn cho học sinh có được kĩ năng làmbài văn biểu cảm ở các phần bài tập, các tiết luyện tập và việc cho bài tập về nhà sau đókiểm tra, uốn nắn có làm tăng kết quả học tập của học sinh mà mức độ ảnh hưởng của
nó là lớn.
* Hạn chế: Rèn cho học sinh có được kĩ năng làm bài văn biểu cảm ở các phầnbài tập, các tiết luyện tập và việc cho bài tập về nhà sau đó kiểm tra, uốn nắn trong dạyhọc phân môn tập làm văn 7 là một giải pháp rất tốt, nhưng để áp dụng có hiệu quả,người giáo viên cần phải đầu tư rất nhiều vào kế hoạch bài học; Phải biết phối hợp tốtvới các phương pháp tích cực như vấn đáp, thảo luận nhóm, phân tích, rèn luyện theomẫu, luyện tập… để tổ chức cho học sinh hoạt động theo định hướng của giáo viên.Trong quá trình nghiên cứu, học sinh lớp thực nghiệm khá đông đòi hỏi giáo viên phảibao quát học sinh tốt hơn, quan tâm đến đối tượng học sinh yếu nhiều hơn, phải rèn kỹnăng cơ bản về cách dùng từ, diễn ý, thì học sinh yếu mới tiếp thu tốt Đặc biệt, là phảibồi đắp tình cảm để làm trỗi dậy tấm lòng vị tha, nhân hậu, bao dung nơi các em
Trang 125 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHI :
5.1 Kết luận: Trên cơ sở thực hiện chủ trương của Bộ GD&ĐT: Đổi mới
phương pháp dạy học truyền thống sang phương pháp dạy học hiện đại “lấy học sinh làm trung tâm” Đặc biệt dạy học văn lí thuyết song song với thực hành, từ lý thuyết áp
dụng vào thực hành Với tinh thần ấy, đề tài “Nâng cao chất lượng môn ngữ văn lớp
7a2 Trường THCS Nguyễn Văn Linh thông qua việc giúp học sinh rèn kĩ năng làm văn
biểu cảm” đã tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:
Tìm hiểu điểm khái quát nhất về lí luận dạy học môn ngữ văn nói chung, môn
Tập làm văn nói riêng trường THCS Nguyễn Văn Linh, mục tiêu, chương trình khung
của môn tập làm văn 7 và những điểm chủ yếu nhất về lí luận của việc vận dụngphương pháp rèn kỹ năng làm văn biểu cảm khi tạo lập văn bản vào các hoạt động dạyhọc môn tập làm văn sao cho phù hợp nhằm đạt tới mục tiêu, yêu cầu và phát huy đượctính tích cực, sáng tạo của học sinh, ứng dụng từ lý thuyết vào thực tế bài làm
Tôi tiến hành khảo sát, thiết kế các bài học môn Ngữ văn 7 có sử dụng phươngpháp rèn kĩ năng làm văn biểu cảm và đã tiến hành giảng dạy ở lớp trước tác động vàsau tác động Sau đó tiến hành kiểm tra và thu thập dữ liệu Dùng phép kiểm chứng T-Test để kiểm chứng sự chênh lệch và kiểm tra mức độ ảnh hưởng bằng bảng tiêu chíCohen thì cho thấy rằng việc vận dụng rèn kĩ năng làm văn biểu cảm vào dạy học mônNgữ văn đã tạo ra giá trị trung bình chuẩn của nhóm với mức độ ảnh hưởng của nó làlớn
Như vậy, việc vận dụng phương pháp rèn kĩ năng làm văn biểu cảm vào dạyhọc môn Ngữ văn ở trường THCS Nguyễn Văn Linh đã làm nâng cao kết quả học tậpcủa học sinh
5.2 Khuyến nghị:
Đối với lãnh đạo nhà trường: Cần quan tâm hơn nữa đến cơ sở vật chất, trangthiết bị, đồ dùng dạy học đối với môn Ngữ văn
Đối với giáo viên:
- Trong tiết dạy giáo viên cần đầu tư nhiều công sức để chuẩn bị bài giảng chu đáo, tíchhợp, liên hệ thực tế, hướng dẫn làm bài tập để học sinh có những kiến thức đúng đắn vàbiết quy trình làm bài, diễn đạt hành văn Khi dạy phải có sự linh hoạt Đặc biệt, cầnhướng dẫn, khuyến khích học sinh đọc sách, bắt đầu từ việc đọc các văn bản trongSGK Thực tế cho thấy học sinh rất lười đọc sách dẫn đến đọc yếu, gây khó khăn choviệc cảm thụ văn bản Chính vì thế, giáo viên cần khơi nguồn và nuôi dưỡng thói quenđọc sách của học sinh bằng cách: trong mỗi tiết dạy giáo viên lấy dẫn chứng, ví dụ,trích các câu nói, đoạn thơ, đoạn văn hay từ các sách tham khảo, sách nâng cao, các tácphẩm văn học và cho các em trực tiếp nhìn thấy Khi làm được như thế, thì tự các em sẽtìm đến với sách, làm bạn với sách
- Một học sinh muốn học tốt văn biểu cảm cần phải có kĩ năng diễn đạt trôi chảy, hấpdẫn Chúng ta nên giao các bài tập rèn viết ở nhà cho học sinh sau mỗi tiết học; Nênhướng dẫn các em cách viết nhật kí để giúp các em nuôi dưỡng tình cảm đẹp khi cònngồi trên ghế nhà trường Để từ việc học sinh biết làm các dạng văn, biết diễn đạtnhững tư tưởng, tình cảm, cảm xúc, biết nhận thức, biết yêu, ghét , mà hình thànhnhân cách sống tốt hơn; Biết yêu quí và giữ gìn trân trọng những điều tốt đẹp trongcuộc sống và yêu thích môn học hơn
Với kết quả của đề tài này, tôi mong rằng các bạn đồng nghiệp quan tâm, chia sẻ
và đặc biệt có thể ứng dụng trong quá trình dạy học môn ngữ văn của toàn khối để tạohứng thú và nâng cao kết quả học tập cho học sinh Rất mong được sự đóng góp ý kiếncủa Hội đồng khoa học các cấp để đề tài hoàn thiện hơn Xin chân thành cám ơn
Trang 13TÀI LIỆU THAM KHẢO :
1 Chuẩn kiến thức kĩ năng Ngữ văn 7 (NXB giáo dục - Tác giả: Nguyễn Thị Mai
Hoa – Đinh Chí Sáng)
2 Đổi mới phương pháp dạy học và những bài dạy minh họa Ngữ văn 7 (Nhà xuất
bản Đại Học Sư Phạm – Tác giả: Nguyễn Trọng Hoàn, Hồ Giao Linh, Ngô Thị Kiều Linh)
3 Phương pháp dạy học môn Ngữ Văn “Tập làm văn” thể loại văn biểu cảm 7 (Tác
giả: Hoàng Đức Huy – Nhà xuất bản Đà Nẵng)
4 Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THCS - NXB giáo dục
5 Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy SGK lớp 7 - NXB giáo dục
6 Tài liệu Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng (Bộ giáo dục và đào tạo)
7 Sách bài tập Ngữ văn lớp 7 tập 1 - (Bộ giáo dục và đào tạo - NXB giáo dục)
8 Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 7 tập 1 - (Bộ giáo dục và đào tạo - NXB giáo dục)
9 Sách giáo viên Ngữ văn lớp 7 tập 1 - (Bộ giáo dục và đào tạo - NXB giáo dục)