Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance hay còn gọi là ODA) đã có lịch sử dài hơn nửa thế kỷ, phản ánh một trong những mối quan hệ quốc tế giữa một bên là các nước phát triển hoặc các tổ chức quốc tế và bên kia là các nước đang phát triển thông qua việc cung cấp các khoản viện trợ phát triển. Ở các nước đang phát triển nói chung và ở Việt Nam nói riêng, ODA là một bộ phận quan trọng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội và ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của nó trong tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo.
Trang 1ĐỀ BÀI: NGHIÊN CỨU CÔNG TÁC ODA CỦA VIỆT NAM
I KHÁI QUÁT SƠ BỘ VỀ NGUỒN VỐN ODA
Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development Assistance hay còn gọi là ODA) đã có lịch sử dài hơn nửa thế kỷ, phản ánh một trong những mối quan hệ quốc tế giữa một bên là các nước phát triển hoặc các tổ chức quốc tế và bên kia là các nước đang phát triển thông qua việc cung cấp các khoản viện trợ phát triển Ở các nước đang phát triển nói chung và ở Việt Nam nói riêng, ODA là một bộ phận quan trọng trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội và ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của nó trong tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo
Vậy ODA là gì?
I.1 Khái niệm ODA
Theo PGS TS Nguyễn Quang Thái ( viện chiến lược phát triển): Hỗ trợ phát triển chính thức ODA là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiện ưu đãi (về lãi suất thời gian ân hạn và trả nợ) của các cơ quan chính thức thuộc các nước và các
tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ (NGO)
Theo chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc: ODA là viện trợ không hoàn lại hoặc là cho vay ưu đãi của các tổ chức nước ngoài, với phần viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25% giá trị của khoản vốn vay
Định nghĩa về ODA cũng được chính phủ Việt Nam sử dụng trong Quy chế quản
lý và sử dụng vốn ODA ban hành kèm theo Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng
11 năm 2006 ODA được hiểu là :” Hoạt động hợp tác phát triển giữa nhà nước hoặc Chính Phủ nước CHXHCN Việt Nam với nhà tài trợ là chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên chính phủ”
Như vậy, hỗ trợ phát triển chính thức - ODA đúng như tên gọi của nó là nguồn vốn
từ các cơ quan chính thức bên ngoài cung cầp (hỗ trợ) cho các nước đang và kém phát triển, hoặc các nước đang gặp khó khăn về tài chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của các nước này
Các đồng vốn bên ngoài chủ yếu chảy vào các nước đang phát triển và chậm phát triển gồm có: ODA, tín dụng thương mại từ các ngân hàng, đầu tư trực tiếp nước ngoài( FDI) , viện trợ cho không của các tổ chức phi chính phủ(NGO) và tín dụng tư nhân Các dòng vốn quốc tế này có những mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau Nếu một nước kém phát triển không nhận được vốn ODA đủ mức cần thiết để cải thiện các cơ sở
Trang 2hạ tầng kinh tế- xã hội thì cũng khó có thể thu hút được các nguồn vốn FDI cũng như vay vốn tín dụng để mở rộng kinh doanh nhưng nếu chỉ tìm kiếm các nguồn ODA mà không tìm cách thu hút các nguồn vốn FDI và các nguồn tín dụng khác thì không có điều kiện tăng trưởng nhanh sản xuất, dịch vụ và sẽ không có đủ thu nhập để trả nợ vốn vay ODA
I.2 Đặc điểm của ODA
Vốn ODA mang tính ưu đãi
- Vốn ODA có thời gian cho vay( hoàn trả vốn dài), có thời gian ân hạn dài Chẳng hạn, vốn ODA của WB, ADB, JBIC có thời gian hoàn trả là 40 năm và thời gian
ân hạn là 10 năm Thông thường, trong ODA có thành tố viện trợ không hoàn lại( cho không), đây cũng chính là điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thương mại Thành tố cho không được xác định dựa vào thời gian cho vay, thời gian ân hạn và so sánh lãi suất viện trợ với mức lãi suất tín dụng thương mại Sự ưu đãi ở đây là so sánh với tập quán thương mại quốc tế Sự ưu đãi còn thể hiện ở chỗ vốn ODA chỉ dành riêng cho các nước đang và chậm phát triển, vì mục tiêu phát triển
- Có hai điều kiện cơ bản nhất để các nước đang và chậm phát triển có thể nhận được ODA là: Điều kiện thứ nhất: Tổng sản phẩm quốc nội( GDP) bình quân đầu người thấp Nước có GDP bình quân đầu người càng thấp thì thường được tỷ lệ viện trợ không hoàn lại của ODA càng lớn và khả năng vay với lãi suất thấp và thời hạn ưu đãi càng lớn Điều kiện thứ hai: Mục tiêu sử dụng vốn ODA của các nước này phải phù hợp với chính sách và phương hướng ưu tiên xem xét trong mối quan hệ giữa bên cấp và bên nhận ODA
- Thông thường các nước cung cấp ODA đều có những chính sách và ưu tiên riêng của mình, tập trung vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay có khả năng kỹ thuật
và tư vấn Đồng thời, đối tượng ưu tiên của các nước cung cấp ODA cũng có thể thay đổi theo từng giai đoạn cụ thể Vì vậy, nắm bắt được xu hướng ưu tiên và tiềm năng của các nước, các tổ chức cung cấp ODA là rất cần thiết Về thực chất, ODA là sự chuyển giao có hoàn lại hoặc không hoàn lại trong những điều kiện nhất định một phần tổng sản phẩm quốc dân từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển Do vậy, ODA rất nhạy cảm về mặt xã hội và chịu sự điều chỉnh của dư luận xã hội từ phía nước cung cấp cũng như từ phía nước tiếp nhận ODA
Vốn ODA mang tính ràng buộc
- ODA có thể ràng buộc ( hoặc ràng buộc một phần hoặc không ràng buộc) nước nhận về địa điểm chi tiêu Ngoài ra mỗi nước cung cấp viện trợ cũng đều có những ràng buộc khác và nhiều khi các ràng buộc này rất chặt chẽ đối với nước nhận
- Vốn ODA mang yếu tố chính trị: Các nước viện trợ nói chung đều không quên dành được lợi ích cho mình vừa gây ảnh hưởng chính trị vừa thực hiện xuất khẩu
Trang 3hàng hoá và dịch vụ tư vấn vào nước tiếp nhận viện trợ Nhìn chung 22% viện trợ của DAC phải được sử dụng để mua hàng hoá và dịch vụ của các quốc gia viện trợ
- Kể từ khi ra đời cho tới nay, viện trợ luôn chứa đựng hai mục tiêu cùng tồn tại song song Mục tiêu thứ nhất là thúc đẩy tăng trưởng bền vững và giảm nghèo ở các nước đang phát triển Động cơ nào đã thúc đẩy các nhà tài trợ đề ra mục tiêu này? Bản thân các nước phát triển nhìn thấy lợi ích của mình trong việc hỗ trợ, giúp đỡ các nước đang phát triển để mở mang thị trường tiêu thụ sản phẩm và thị trường đầu tư Viện trợ thường gắn với các điều kiện kinh tế xét về lâu dài, các nhà tài trợ sẽ có lợi về mặt an ninh, kinh tế, chính trị khi kinh tế các nước nghèo tăng trưởng Mục tiêu mang tính cá nhân này được kết hợp với tinh thần nhân đạo, tính cộng đồng Vì một số vấn đề mang tính toàn cầu như sự bùng nổ dân số thế giới, bảo vệ môi trường sống, bình đẳng giới, phòng chống dịch bệnh, giải quyết các xung đột sắc tộc, tôn giáo v.v đòi hỏi sự hợp tác,
nỗ lực của cả cộng đồng quốc tế không phân biệt nước giàu, nước nghèo Mục tiêu thứ hai
là tăng cường vị thế chính trị của các nước tài trợ Các nước phát triển sử dụng ODA như một công cụ chính trị: xác định vị thế và ảnh hưởng của mình tại các nước và khu vực tiếp nhận ODA
ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ
Khi tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA do tính chất ưu đãi nên gánh nặng nợ thường chưa xuất hiện Một số nước do không sử dụng hiệu quả ODA có thể tạo nên sự tăng trưởng nhất thời nhưng sau một thời gian lại lâm vào vòng nợ nần do không có khả năng trả nợ Vấn đề là ở chỗ vốn ODA không có khả năng đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu trong khi việc trả nợ lại dựa vào xuất khẩu thu ngoại tệ Do đó, trong khi hoạch định chính sách sử dụng ODA phải phối hợp với các nguồn vốn để tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu
I.3 Phân loại
Phân loại theo phương thức hoàn trả:
Viện trợ không hoàn lại: Viện trợ không hoàn lại tức là bên nước ngoài cung cấp
viện trợ mà bên nhận không phải hoàn trả lại, phần viện trợ sẽ được bên nhận thực hiện các chương trình, dự án theo thỏa thuận giữa các bên Viện trợ không hoàn lại thường được thực hiện dưới các dạng:
- Hỗ trợ kỹ thuật
- Viện trợ bằng hiện vật
Viện trợ có hoàn lại: Nhà tài trợ cho nước cần vốn vay một khoản tiền (tùy theo một quy mô và mục đích đầu tư) với mức lãi suất ưu đãi và thời gian trả nợ thích hợp Những điều kiện ưu đãi thường là:
- Lãi suất thấp (tùy thuộc vào mục tiêu vay và nước vay)
- Thời hạn vay nợ dài (từ 20 – 30 năm)
Trang 4- Có thời gian ân hạn (từ 10 – 12 năm)
ODA cho vay hỗn hợp: Các khoản ODA kết hợp một phần ODA không hoàn lại và một phần tín dụng thương mại theo các điều kiện của Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển, thậm chí có loại ODA vốn vay kết hợp tới 3 loại hình gồm một phần ODA không hoàn lại, một phần ưu đãi và một phần tín dụng thương mại
Phân loại theo nguồn cung cấp:
- ODA song phương: Là các khoản viện trợ trực tiếp từ nước này đến nước
kia thông qua hiệp định ký kết giữa hai Chính phủ
- ODA đa phương: Là viện trợ chính thức của một tổ chức quốc tế (IMF, WB,
…) hay tổ chức khu vực (ADB, EU, …) hoặc của một Chính phủ của một nước dành cho Chính phủ của một nước nào đó, nhưng có thể được thực hiện thông qua các tổ chức đa phương như UNDP (Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc), UNICEF (Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc) … có thể không Các tổ chức tài chính quốc tế cung cấp ODA chủ yếu:
- Ngân hàng thế giới (WB)
- Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF)
- Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB)
Phân loại theo mục tiêu sử dụng:
- Hỗ trợ cán cân thanh toán: gồm các khoản ODA cung cấp để hỗ trợ ngân
sách Chính phủ, thường được thực hiện thông qua các dạng:
- Chuyển giao trực tiếp cho nước nhận ODA
- Hỗ trợ nhập khẩu (viện trợ hàng hóa)
- Tín dụng thương mại: tương tự như viện trợ hàng hóa nhưng có kèm theo
điều kiện ràng buộc
- Viện trợ chương trình (viện trợ phi dự án): Nước viện trợ và nước nhận
viện trợ ký hiệp định cho một mục đích tổng quát mà không cần xác định tính chính xác khoảng viện trợ sẽ được sử dụng như thế nào
- Viện trợ dự án: Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn thực hiến ODA.
Điều kiện được nhận viện trợ dự án là “phải có dự án cụ thể, chi tiết về các hạng mục sẽ
sử dụng ODA”
I.4 Vai trò và ý nghĩa của ODA
Trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn
- Các chương trình và dự án ODA đã góp phần cải thiện và phát triển sản xuất nông nghiệp, thay đổi bộ mặt nông thôn Việt Nam, như: các chương trình phát triển thủy lợi, giao thông nông thôn, nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, phát triển lưới điện nông thôn…
Trang 5- Các dự án hỗ trợ phát triển hạ tầng nông thôn đã góp phần cải thiện đời sống người dân các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là trong việc tiếp cận tới các dịch vụ công trong các lĩnh vực y tế, giáo dục , góp phần quan trọng vào công tác xoá đói giảm nghèo tại các vùng nông thôn
- Bên cạnh đó, các chương trình, dự án ODA cũng đã hỗ trợ công tác nghiên cứu khoa học, công nghệ nông nghiệp giúp nâng cao chất lượng, an toàn sản phẩm nông nghiệp, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm
Về năng lượng
Nhờ có ODA, Việt Nam đã xây dựng hàng loạt các dự án nguồn thuỷ điện, nhiệt điện và năng lượng tái tạo, lưới điện và trạm phân phối góp phần nâng cao năng lực sản xuất, truyền tải, phân phối, quản lý hệ thống điện, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng phụ tải cao với tốc độ 15%-17%/năm
Về giao thông vận tải
Đây là ngành tiếp nhận vốn ODA nhiều nhất Trong thời kỳ 1990-2013, ngành Giao thông Vận tải đã hoàn thành và đang thực hiện 132 dự án với tổng vốn ODA hơn 17
tỷ USD, trong đó đã hoàn thành 83 dự án với vốn ODA đạt 5 tỷ USD và đang thực hiện
49 dự án với số vốn ODA khoảng 12 tỷ USD Các chương trình, dự án ODA trong lĩnh vực này đã hỗ trợ Việt Nam xây dựng và hoàn thiện hệ thống giao thông quốc gia cũng như giao thông vùng và tại các tỉnh, thành
Trong giáo dục và đào tạo
- Tất cả các cấp học đều nhận được sự hỗ trợ thông qua các chương trình và
dự án ODA, giúp tăng cường năng lực dạy và học, hỗ trợ trẻ em bị thiệt thòi được đến trường, đẩy mạnh giáo dục cho tất cả mọi người Bên cạnh đó, còn phải kể đến các dự án
hỗ trợ kỹ thuật, chủ yếu bằng viện trợ không hoàn lại, đã đào tạo và đào tạo lại cho hàng vạn cán bộ Việt Nam ở các cấp về nhiều lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, công nghệ, quản lý kinh tế, tài chính ngân hàng, quản trị công
- Các chương trình và dự án ODA đưa tới Việt Nam những chuyên gia quốc
tế từ khu vực và thế giới, thông qua đó, cán bộ Việt Nam đã học hỏi được không những
về chuyên môn mà còn phong cách làm việc chuyên nghiệp, tinh thần trách nhiệm đối với công việc được giao
Về y tế
- Các chương trình, dự án ODA đã tăng cường cơ sở vật chất và kỹ thuật cho công tác khám và chữa bệnh, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, xây dựng cơ sở sản xuất kháng sinh, trung tâm truyền máu quốc gia
- Ngoài ra, nhiều chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, phòng chống HIV/AIDS và các bệnh truyền nhiễm được thực hiện bằng vốn ODA đã đem lại hiệu quả tích cực Sự hỗ trợ của ODA đối với ngành y tế trong thời gian qua đã góp phần vào những tiến bộ đạt được trong việc thực hiện các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDG) liên quan tới y tế
Trang 6 Về việc phát triển đô thị và bảo vệ môi trường
Từ nguồn vốn ODA, hầu hết các thành phố, thị xã, thị trấn đã được xây dựng mới, cải tạo hoặc mở rộng hệ thống cung cấp nước sinh hoạt, thoát nước và một số nhà máy xử
lý nước thải Nhiều thành phố ở Việt Nam đã được cải thiện về môi trường bằng các dự
án vốn ODA, điển hình thành công là dự án kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè ở thành phố Hồ Chí Minh, với sự hỗ trợ vốn vay của Ngân hàng Thế giới (WB), dòng kênh tưởng như đã chết này lại hồi sinh, trở thành con kênh xanh, sạch, đẹp
Về lĩnh vực khoa học, công nghệ
Nhiều kỹ năng và kinh nghiệm quản lý tiên tiến được chuyển giao cho các cơ quan, các trung tâm nghiên cứu, cũng như các bộ, ngành và địa phương với sự hỗ trợ của các chương trình, dự án ODA về công nghệ cao, tiên tiến trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, công nghệ xây dựng Dự án phát triển
hạ tầng khu công nghệ cao và Trung tâm vũ trụ Việt Nam tại khu Công nghệ cao Hòa Lạc, Hà Nội do Nhật Bản tài trợ là một thí dụ điển hình
Về xây dựng thể chế
Thông qua việc tiếp nhận nguồn vốn ODA, Việt Nam đã học hỏi được những kiến thức, kinh nghiệm quốc tế để hoàn thiện môi trường thể chế, pháp lý trong quá trình chuyển tiếp sang nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế và khu vực, nhất là quá trình chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Nhiều dự thảo luật và văn bản quy phạm pháp luật dưới luật đã được xây dựng với sự hỗ trợ của nguồn vốn ODA, như: Luật Xây dựng, Luật Đất đai, Luật Thương mại, Luật Đầu tư nước ngoài, Luật Doanh nghiệp…
II NGHIÊN CỨU CÔNG TÁC QUẢN LÝ ODA CỦA VIỆT NAM
II.1 Tổng quan về quản lý Nhà nước về ODA
II.1.1 Khái niệm
- Theo Nghị định số 131/2006/NĐ-CP thì: “Quản lý nhà nước về ODA là sự tác động có tổ chức của Nhà nước đổi với toàn bộ nguồn vốn ODA bằng quyền lực của nhà nước, thông qua cơ chể quản lý vốn ODA, nhằm thực hiện được các mục tiêu đặt ra đổi với quá trình thu hút và sử dụng vốn ODA”
- Hoặc có thể hiểu: “Quản lý nhà nước về vốn ODA là quá trình nhà nước lập
kể hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra việc thu hút và sử dụng ODA, nhằm đạt được các mục tiêu của nhà nước đặt ra với kểt quả và hiệu quả cao trong điều kiện phát triển của đất nước”
II.1.2 Tầm quan trọng của quản lý nhà nước về ODA
- ODA là một nguồn vốn có ý nghĩa quan trọng đối với các nước tiếp nhận trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, nguồn vốn này cũng có thể sử dụng không hiệu quả,
Trang 7gây gánh nặng nợ nần cho đất nước nếu như không có sự quản lý nhà nước chặt chẽ Phải nhấn mạnh tầm quan trọng của quản lý nhà nước về vốn ODA vì các lý do chủ yếu sau:
a Giá trị thực tế của vốn ODA thấp hơn giá trị danh nghĩa của nó
- Điều này có nghĩa tính ưu đãi của vốn ODA giảm, chi phí để có vốn này sẽ tiến gàn tới vốn thương mại trên thị trường tài chính, nếu không có sự quản lý chặt trong thu hút thì chi phí này càng cao
- Chi phí thực tế mà nước tiếp nhận phải trả để sử dụng vốn ODA lớn hơn tiền lãi phải trả cho nhà tài trợ
+ Chi phí liên quan đến khoản ODA (chi phí có ghi trong hợp đồng và chi phí tiềm ẩn)
+ Nhà tài trợ ràng buộc điều kiện đối với vốn ODA khi nước tiếp nhận phải chấp nhận một phần giá trị khoản ODA là hàng hoá dịch vụ do nhà tài trợ đó sản xuất (Trung bình là ở mức 20% giá trị vốn ODA)
- Các nhà tài trợ có quyền chủ động nhất định trong quyết định cung cấp ODA theo dự án, chương trình Do đó, các dự án, chương trình mà các nhà tài trợ này lựa chọn để cung cấp vốn ODA lại có thể không phải là dự án quan trọng và tối ưu nhất đối với nước tiếp nhận
- Tác động của yếu tố tỷ giá hối đoái làm cho giá trị vốn ODA phải hoàn lại tăng lên hay gánh nặng nợ nước ngoài của nước tiếp nhận sẽ tăng lên
- Viễn thông, thực hiện một loại giá trên cả nước (sẽ xoá bỏ sự phân biệt về giá giữa người Việt Nam và người nước ngoài)
b Nước tiếp nhận dễ bị rơi vào tình trạng sử dụng không hiệu quả nguồn vốn ODA
- Trình độ và kinh nghiệm quản lý nguồn vốn ODA còn thấp, thể hiện trong khâu xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và sử dụng vốn ODA vào các lĩnh yực chưa hợp lý, khả năng đàm phán thuyết phục các nhà tài trợ chưa cao; khả năng khảo sát, xây dựng dự án còn kém, nên xảy ra hiện tượng, tình trạng theo hồ sơ, theo dự án thì đem lại hiệu quả cao nhưng khi đàu tư, sử dụng vốn thì rơi vào tình trạng thua lỗ
- Nhằm thống nhất ý chí, quan điểm giữa các bên có liên quan trong quá trình thu hút và sử dụng ODA Bao gồm: các cơ quan quản lý Nhà nước về ODA, các nhà tài trợ, các ban quản lý dự án
- Định hướng thu hút và sử dụng ODA trên cơ sở xác định mục tiêu chung, mục tiêu bộ phận và hướng mọi nỗ lực của các bên có liên quan vào thực hiện các mục tiêu đó
- Tổ chức, điều hòa, phối họp và hướng dẫn hoạt động của các cơ quan quản
lý Nhà nước có liên quan, các nhà tài trợ, các ban quản lý dự án, làm giảm bớt sự bất đồng và bất định trong quá trình sử dụng ODA
Trang 8- Tạo ra động lực cho các bên có liên quan đến ODA bằng các kích thích, đánh giá, khen thưởng những nhân tố có thành tích, đồng thời điều chỉnh những lệch lạc, sai sót của các bên trong quá trình sử dụng ODA
Quản lý Nhà nước về ODA nhằm nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng ODA
II.1.3 Nội dung của quản lý nhà nước về ODA
- Nội dung quản lý Nhà nước về ODA được cụ thể hóa thành nội dung của các chức năng quản lý Nhà nước về ODA Trong đó: “Chức năng quản lý Nhà nước về ODA chỉnh là tập hợp công việc, nhiệm vụ mang tính chất cùng loại mà các cơ quan quản
lý Nhà nước về ODA phải thực hiện trong quả trình thu hút, sử dụng ODA nhằm đạt được những mục tiêu đã đặt ra
- Theo giai đoạn tác động thì nội dung quản lý Nhà nước về thu hút và sử dụng ODA bao gồm:
Định hướng thu hút, sử dụng ODA
- Đó là Nhà nước quyết định trước những nhiệm vụ, những mục tiêu và những giải pháp trong quá trinh thu hút và sử dụng ODA trong khoảng thời gian dài thường là 5 năm, 10 năm, hay lâu hơn
- Định hướng thu hút, sử dụng ODA được Nhà nước thực hiện thông qua các hình thức chủ yếu sau:
Xây dựng chiến lược thu hút, sử dụng ODA
- Xây dựng chiến lược thu hút, sử dụng ODA là Nhà nước xây dựng một hệ thống các quan điểm cơ bản về thu hút, sử dụng ODA và các giải pháp chủ yếu được lựa chọn một cách có căn cứ khoa học cho thu hút, sử dụng ODA nhằm đạt được mục tiêu đã
đề ra
- Xây dựng quy hoạch thu hút và sử dụng ODA
Quy hoạch thu hút và sử dụng ODA là một định hướng thu hút và sử dụng ODA Trong đó đi xác định rõ quy mô và giới hạn thu hút và sử dụng ODA trong những khoảng thời gian nhất định Nó tạo ra khung cảnh và những đường nét thu hút và sử dụng ODA
Nó là cơ sở, là tiền đề xây dựng các kế hoạch, chương trình và dự án ODA có quy mô vùng và quôc gia
- Về bản chất, xây dựng quy hoạch thu hút và sử dụng ODA là cụ thể hóa chiến lược thu hút và sử dụng ODA về không gian (theo vùng kinh tế và theo ngành kinh tế) và theo thời gian (theo từng giai đoạn nhất định)
- Xây dựng kế hoach thu hút và sử dụng ODA
- Xây dựng chính sách thu hút và sử dụng ODA
- Xây dựng các chương trình, dự án thu hút và sử dụng ODA
- Chương trình thu hút và sử dụng ODA là tổ họp các mục tiêu, các thủ tục, các nguyên tắc, các nhiệm vụ, các bước tiến hành, các yếu tố cần thiết khác để thu hút và
Trang 9sử dụng ODA có hiệu quả theo những mục tiêu đã đặt ra trong một thời kỳ nhất định, thường là từ 1-5 năm
Tổ chức thực hiện thu hút và sứ dụng ODA
Đó là tập hợp những nhiệm vụ mà Nhà nước phải thực hiện nhằm thiết lập hệ thống quản lý và vận hành hệ thống này nhằm thu hút và sử dụng ODA theo nội dung định hướng thu hút và sử dụng ODA đã đặt ra
Nội dung tổ chức thực hiện thu hút và sử dụng ODA, bao gồm:
- Tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước về thu hút và sử dụng ODA: thiết lập cơ cấu tổ chức của bộ máy quản lý Nhà nước về thu hút và sử dụng ODA từ cấp trung ương tới địa phương, xây dựng và hoàn thiện thể chế hoạt động của bộ máy này, xây dựng đội ngũ nhân viên làm việc trong bộ máy theo những tiêu chuẩn và yêu câu thu hút và sử dụng ODA đặt ra
- Vận hành bộ máy quản lý Nhà nước về thu hút và sử dụng ODA: tạo động lực nó hoạt động theo những kế hoạch đặt ra, phối họp các hoạt động giữa các bộ phận, đơn vị trong bộ máy, hướng dẫn họ thực hiện theo kế hoạch đặt ra và tuân thủ quy định của pháp luật, xử lý những vướng mắc, tồn tại, cản trở trong quá trình thu hút và sử dụng ODA, bảo đảm cho việc thực hiện kế hoạch đặt ra có hiệu quả nhất
Kiểm soát việc thu hút và sứ dung ODA
Đó là tổng thể những hoạt động của các cơ quan quản lý Nhà nước về ODA nhằm kịp thời phát hiện và xử lý những sai sót, ách tắc, đổ vỡ, những khó khăn, vướng mắc cũng như những cơ hội trong thu hút và sử dụng ODA để đạt được những mục tiêu, kế hoạch đặt ra
Về thực chất, đó là đi đánh giá chính xác những kết quả hoạt động trong thu hút và
sử dụng ODA (việc đánh giá này được tiến hành cả trong và sau khi kết thúc quá trinh thu hút và sử dụng ODA) để có những can thiệp họp lý của Nhà nước tới việc thu hút và sử dụng ODA
Đổi mới phương thức thu hút và sứ dụng ODA
Mọi giải pháp và hình thức quản lý thu hút ODA luôn luôn biến động theo xu thế biến động chung của thế giới Do đó, Nhà nước cũng phải luôn theo dõi những biến động này để kịp thời có các điều chỉnh cần thiết (về quan điểm, định hướng, chiến lược, mục tiêu ) thích hợp
II.2 Thực trạng thu hút và sử dụng ODA của Việt Nam
II.2.1 Thu hút nguồn vốn ODA ở Việt Nam
Với một quốc gia đang phát triển rất nhanh như Việt Nam, nhu cầu vốn rất lớn Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA là một trong những nguồn vốn đầu tư phát
Trang 10triển quan trọng đối với Việt Nam Trước đây, Việt Nam nhận được hai nguồn vốn ODA song phương chủ yếu, một từ các nước thuộc tổ chức SEV (Hội đồng tương trợ kinh tế), trong đó chủ yếu là từ Liên Xô (cũ) Đây là một nguồn viện trợ không nhỏ và có ý nghĩa quan trọng nhất cả về nội dung, quy mô và chất lượng, cũng như giá cả, điều kiện tín dụng… Khoản viện trợ này đã giúp chúng ta xây dựng một số ngành quan trọng nhất của
sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế
Nguồn viện trợ ODA thứ hai từ các nước DAC và một số nước khác, chủ yếu
là Thụy Điển, Phần Lan, Đan Mạch, Na Uy, Pháp, Ấn Độ… Nguồn ODA này đã có ý nghĩa tích cực trên một số mặt trong sự nghiệp phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam
Kể từ khi nối lại quan hệ với các nhà tài trợ (từ tháng 11-1993), Việt Nam đã đón nhận được sự cam kết và viện trợ vốn ODA của nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế, trở thành điểm đến hấp dẫn đối với ODA cho phát triển kinh tế xã hội
Trong thời kì 1993 - 2007,Việt Nam đã đạt được những kết quả ấn tượng trong thu hút và sử dụng vốn ODA Theo thống kê, số vốn ODA các nhà tài trợ cam kết cho Việt Nam là 37 tỷ USD, chiếm khoảng 2% tổng ODA toàn cầu
Trong 3 tháng đầu 2008, công tác vận động thu hút vốn đầu tư ODA của Việt Nam có nhiều thuận lợi do Việt Nam được đánh giá là một trong những nước sử dụng vốn ODA hiệu quả nhất Tính đến hết quý I/2008, tổng giá trị ODA ký kết thông qua các hiệp định cụ thể với các nhà tài trợ đạt 369,06 triệu USD, tăng 16% so với cùng kỳ năm 2007, trong đó vốn vay đạt 342,69 triệu USD và vốn viện trợ không hoàn lại đạt 26,37 triệu USD Trong số này có những dự án tài trợ lớn như: ADB tài trợ cho dự án “Đường hành lang ven biển phía Nam thuộc tiểu vùng Mê Kông mở rộng” 150 triệu USD; Nhật Bản tài trợ “Chương trình ngân hàng - tài chính III” 75 triệu USD; dự án “Giáo dục trung học cơ
sở vùng khó khăn nhất” trị giá 50 triệu USD, “Chương trình tín dụng hỗ trợ giảm nghèo lần thứ 6” (PRRSC6) trị giá 30,67 triệu USD… Mặc dù gặp nhiều khó khăn do những biến động của thị trường, tình hình lạm phát vẫn gia tăng, nhưng nhờ những nỗ lực và các giải pháp của Chính phủ đề ra nhằm hoàn thiện thể chế về quản lý và sử dụng vốn ODA, tình hình thu hút vốn ODA trong quý 2/2008 vẫn được đánh giá rất khả quan Trong quý 2/2008 này Việt Nam ký với Nhật Bản các hiệp định trị giá khoảng 1 tỷ USD cho một số
dự án cơ sở hạ tầng thiết yếu, ký với Liên minh châu Âu (EU) hiệp định trị giá 10,8 triệu USD cho dự án: “Phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam”, ký với Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) hiệp định trị giá 1,5 triệu Euro (khoảng 2,3 triệu USD) viện trợ không hoàn lại cho Quỹ Đầu tư phát triển đô thị thành phố Hồ Chí Minh (HIFU)… Ngoài ra còn một
số chương trình, dự án ODA đang hoàn tất thủ tục để đi đến ký kết Những kết quả này cho thấy, sự tin tưởng, đồng tình và ủng hộ của cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế đối với công cuộc đổi mới và các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam Hơn nữa, các nhà tài trợ quốc tế đánh giá rất cao về môi trường phát triển kinh tế - xã hội của nước
ta đang ngày một hấp dẫn, thông thoáng với những tiêu chí của một nền kinh tế thị trường