1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tài liệu CÁC LOẠI HÌNH SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT TRONG XÃ HỘI PHƯƠNG ĐÔNG CỔ TRUNG ĐẠI pdf

14 3,9K 68
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhìn lại một cách khái quát chế độ sở hữu ruộng đất trong xã hội Phương Đông cổ trung đại
Tác giả Nguyễn Tuấn Anh
Thể loại Bài nghiên cứu
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CÁC LOẠI HÌNH SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT TRONG XÃHỘI PHƯƠNG ĐÔNG CỔ TRUNG ĐẠI Tác giả: Nguyễn Tuấn Anh Email: Nguyenbeanh@gmail.com Nhìn lại một cách khái quát chế độ sở hữu ruộng đất trong xã hội

Trang 1

CÁC LOẠI HÌNH SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT TRONG XÃ

HỘI PHƯƠNG ĐÔNG CỔ TRUNG ĐẠI

Tác giả: Nguyễn Tuấn Anh Email: Nguyenbeanh@gmail.com

Nhìn lại một cách khái quát chế độ sở hữu ruộng đất trong xã hội Phương Đông cổ trung đại, chúng ta có thể tạm phân chia thành 3 hình thức

sở hữu lớn, cơ bản: Đó là sở hữu công xã, sở hữu của nhà nước về ruộng đất công và sở hữu tư nhân về ruộng đất

1 Hình thức sở hữu công xã

Nói về chế độ sở hữu ruộng đất trong xã hội Phương Đông, một đặc điểm khác với phương Tây mà chúng ta phải kể đến là hình thức sở hữu công

xã - một hình thức sở hữu đầu tiên của loài người đã tồn tại lâu dài trong các

xã hội có giai cấp ở Phương Đông Ví dụ như: ở Việt Nam, tàn dư của nó là chế độ công điền, công thổ, còn lại mãi cho tới ngày cải cách ruộng đất mới

bị thủ tiêu Hay ở ấn Độ tình hình cũng diễn ra tương tự như vậy Hình thức

sở hữu công xã tồn tại dai dẳng cùng với sự tồn tại của công xã nông thôn nơi đây

Sở hữu công xã là sở hữu công cộng về ruộng đất của công xã Hình thức sở hữu này vốn đã được hình thành từ trong những công xã thị tộc và công xã gia đình, những cơ cấu xã hội đầu tiên của loài người Hai thời kì công xã thị tộc và công xã gia đình này, sự phát triển của xã hội loài người dường như chưa có gì khác biệt nhiều Dù là ở phương Đông hay là ở phương Tây thì chiếm hữu ruộng đất vẫn là hình thức phổ biến trong các công xã Song từ sau thời kỳ công xã gia đình, tức thời kì công xã nông thôn thì giữa phương Đông và phương Tây đã bắt đầu xuất hiện những điểm khác biệt trong chính quá trình phát triển của các hình thức sở hữu trong lòng các công

Trang 2

xã Bước sang xã hội có giai cấp và nhà nước dưới thòi cổ – trung đại thì những điểm khác biệt đó càng được định hình rõ nét

Chính Mác trong những bản dự thảo gửi cho Vê-ra Giu-su-lích, một nhà học giả xã hội dân chủ Nga, ngày 08/3/1881 đã chỉ ra 2 con đường phát triển khác nhau của công xã nông thôn ở phương Đông và phương Tây mà quy định đến chế độ sở hữu ruộng đất của công xã C.Mác viết rằng: “Là giai đoạn cuối cùng của hình thái nguyên thủy của xã hội, công xã nông cũng đồng thời là giai đoạn quá độ sang hình thái thứ hai, tức là giai đoạn quá độ

từ xã hội xây dựng trên chế độ công hữu chuyển sang xã hội xây dựng trên chế độ tư hữu Hình thái thứ hai cố nhiên bao gồm một loạt những xã hội xây dựng trên chế độ nô lệ và chế độ nông nô

Nhưng như thế có phải là nói rằng con đường lịch sử của công xã nông thôn nhất định phải tiến tới kết quả ấy không? Tuyệt nhiên không Tính song trùng cố hữu của công xã nông thôn đã tạo cho nó một khả năng phát triển theo một trong hai con đường như sau: hoặc yếu tố tư hữu của công xã thắng yếu tố công hữu hoặc yếu tố công hữu thắng yếu tố tư hữu Tất cả những cái

đó tùy thuộc ở hoàn cảnh lịch sử mà công xã đã tồn tại”(2)

Vậy là Mác đã phân biệt rõ ràng hai con đường phát triển của công xã nông thôn Theo Mác, ở xã hội phương Đông các công xã nông thôn đã phát triển theo con đường thứ 2 tức là yếu tố công hữu lấn át yếu tố tư hữu Chính công xã nông thôn ở Châu á đã phát triển theo con đường thứ hai và yếu tố công hữu đã tồn tại lâu dài trong công xã nông thôn châu Á Hay nói cách khác, chính yếu tố công hữu ruộng đất ấy là cơ sở cho sự tồn tại dài lâu của hình thái công xã nông thôn trong các xã hội có giai cấp ở phương Đông Ví

dụ như ở Ấn Độ – nơi điển hình của công xã nông thôn ở châu Á, Mác đã nói rằng những công xã nông thôn ở đây xuất hiện và tồn tại trong một thời gian dài từ thời viễn cổ cho đến thời kỳ Mác nghiên cứu nó, tức là tồn tại qua

Trang 3

nhiều hình thái xã hội khác nhau ở Châu Á, suốt từ thời đại nguyên thủy cho tới khoảng thế kỷ XIX tức là lúc chủ nghĩa tư bản thâm nhập vào châu Á Chính yếu tố công hữu ruộng đất là yếu tố cơ bản làm cơ sở cho sự tồn tại dai dẳng ấy của công xã nông thôn nơi đây

Trong hình thức sở hữu công cộng về ruộng đất của công xã, công xã có quyền chiếm dụng ruộng đất được nhà vua xác nhận Công xã phân phối bình quân cho các thành viên, có quyền chi phối ruộng đất của mình

Người nông dân trong công xã chỉ có quyền chiếm hữu, được sử dụng những ruộng đất do công xã chia để cày cấy, hưởng hoa lợi Song họ phải coi ruộng đất là của chung, không được coi là của riêng mình để đem bán, đem cho người khác Chính C.Mác trong tác phẩm “Các hình thái trước nền sản xuất tư bản chủ nghĩa” đã viết: “Trong hình thái đặc biệt phương Đông, người thành viên công xã, với tư cách như thế, là người đồng chiếm hữu của

sở hữu công xã Chế độ sở hữu chỉ tồn tại dưới hình thức sở hữu công xã…

Cá nhân chỉ là người chiếm hữu Quyền sở hữu là công xã, quyền chiếm hữu

là tư nhân…” và “Trong hình thái Á Châu, ít ra là trong hình thức thường thấy của nó, không có sở hữu của cá nhân riêng rẻ, mà chỉ có chiếm hữu cá nhân, người sở hữu thực tế, chân chính, là công xã, do đó, sở hữu chỉ tồn tại với tư cách là sở hữu tập thể về ruộng đất mà thôi” (3)

Và trong rất nhiều tác phẩm của mình, Mác, Ăngghen đã lí giải sự tồn tại lâu dài công xã nông thôn ở Châu Á, gắn liền với nó là sự tồn tại lâu dài của chế độ sở hữu công cộng về ruộng đất của công xã Theo các ông, ở Châu

Á và phương Đông, vì khí hậu và địa thế đã hình thành đặc trưng kinh tế là nền nông nghiệp tưới nước vào ruộng Mà trong trình độ văn minh còn phát triển chậm thì muốn tưới nước vào ruộng đòi hòi phải lao động tập thể, sử dụng tập thể Do đó, công xã nông thôn cùng với chế độ sở hữu ruộng đất công của nó là phù hợp với nền nông nghiệp phương Đông Mặt khác, sự

Trang 4

xuất hiện từ rất lâu của Nhà nước chuyên chính phương Đông do nhu cầu tổ chức lao động tập thể, điều khiển việc sử dụng duy trì lâu dài công xã nông thôn làm cơ sở cho sự tồn tại của nó Theo đó, chế độ sở hữu công cộng về ruộng đất của công xã tồn tại lâu dài cùng với sự tồn tại của công xã nông thôn

Như vậy, ở phương Đông trong đó có Việt Nam ta, chế độ sở hữu công

xã đã tồn tại lâu dài trong suốt các thời đại xã hội có giai cấp, từ thời đại chiếm hữu nô lệ sang thời đại phong kiến Song điều khiến chúng ta cần lưu ý

là, ở từng thời đại và từng nước, chế độ sở hữu công xã tồn tại với những nét đậm – nhạt khác nhau cùng sự tồn tại của công xã nông thôn Ví dụ: ở cuối thời phong kiến trong khi công xã nông thôn và chế độ sở hữu công cộng về ruộng đất của công xã vẫn tồn tại phổ biến, chiếm ưu thế trong xã hội Ấn Độ, thì ở Trung Quốc thời điểm ấy, công xã nông thôn cùng với chế độ sở hữu công xã chỉ còn là những tàn tích mà thôi Mác đã nói về sự khác nhau ấy giữa Ấn Độ và Trung Quốc như sau: “ở các nước này (Ấn Độ và Trung Quốc – N.L.B) sự thống nhất của nền tiểu nông với nền công nghiệp gia đình hình thành cái cơ sở rộng lớn của phương thức sản xuất; đối với ấn Độ thì còn phải cộng thêm vào đó cả hình thức của các công xã nông thôn dựa trên cơ sở chế

độ sở hữu cộng đồng về ruộng đất; chế độ này cũng là hình thái nguyên thủy trước kia ở Trung Quốc”(4)

Dù tồn tại dai dẳng trong xã hội phương Đông, song đúng như Nguyễn Lương Bích đã viết: “Hình thức sở hữu công xã vẫn là hình thức sở hữu nguyên thủy được bảo lưu trong các xã hội có giai cấp, không phải là hình thức sở hữu cơ bản của bất kỳ một xã hội có giai cấp nào, hoặc phong kiến hoặc nô lệ”(5)

2 Hình thức sở hữu nhà nước

Cùng đồng thời với hình thức sở hữu công xã về ruộng đất đã đẻ ra một

Trang 5

hình thức sở hữu khác đi kèm với nó và đồng thời dựa vào nó để tồn tại, phát triển Đó chính là hình thức sở hữu tối cao của nhà nước về ruộng đất công hữu của các công xã trong toàn quốc Sự xuất hiện gần như đồng thời này đã được Mác lí giải phần nào trong nhiều tác phẩm, ví như trong bài luận văn nhan đề: “Sự thống trị của Anh ở Ấn Độ”, đăng trên báo “Diễn đàn Nữu – ước”, Mác đã viết: “ở châu Á từ thời kì xa xôi lắm, thường thường chỉ có ba ngành quản lý: Bộ tài chính hay là bộ cướp bóc nhân dân của chính nước mình, bộ chiến tranh hay là bộ cướp bóc nhân dân nước khác và sau cùng là

bộ công trình công cộng Những điều kiện khí hậu và đặc điểm của đất đai, nhất là trên những khoảng đất rộng lớn vùng thảo nguyên kéo dài từ Xa – ha – ra qua A – ra – bi, Ba tư, Ấn Độ và Ta – ta – ri, đến tận những nơi cao nhất của vùng cao nguyên châu á, đã là cho hệ thống tưới nước nhân tạo bằng sông đào và công trình thủy lợi trở thành cơ sở của nông nghiệp phương Đông ở Ai Cập và Ấn Độ cũng như ở Mê-dô-pô-ta-mi, ở Ba Tư và ở các nước khác, người ta lợi dụng nạn lụt để làm cho đất đai thêm màu mỡ; người

ta lợi dụng mùa nước lớn để cho nước chảy vào những sông đào tưới nước Yêu cầu cơ bản về việc sử dụng nước một cách tập thể và tiết kiệm ở phương Tây đã buộc các nhà kinh doanh tư nhân phải liên hiệp thành những hội tự nguyện, như ở Phơ-lăng-đơ-rơ và ở ý, nhưng ở phương Đông là nơi mà nền văn minh còn ở trình độ quá thấp và phạm vi đất đai quá rộng, người ta không thể tổ chức những hội tự nguyện như thế được, cho nên yêu cầu đó đòi hỏi bức thiết phải có sự can thiệp của chính quyền tập trung của Nhà nước

Do đó mới nẩy ra chức năng kinh tế mà tất cả các chính phủ châu á đều bắt buộc phải thực hiện, đó là chức năng tổ chức các công trình công cộng Chế

độ dùng nhân công để làm cho đất đai thêm tốt là một chế độ phụ thuộc vào chính phủ trung ương và một khi chính phủ ấy có thái độ lơ là đối với công tác thủy lợi thì chính phủ đó lập tức bị sụp đổ; nó đã giải thích một sự thật mà

Trang 6

không thể giải thích bằng cách nào khác được là: ngày nay chúng ta thấy từng địa khu hoang vu và xấu, trước kia là những đất đau được trồng trọt rất tốt Chẳng hạn như Pa-mia, Pê-tơ-ra Y-ê-men và những tỉnh rộng lớn của Ai Cập, Ba-tư và In-đu-stan Chế độ đó cũng giải thích một sự thật là chỉ cần một cuộc chiến tranh tàn phá là đủ làm cho đất nước trở thành hoang vu hàng thế

kỷ và mất hết nền văn minh của nó”(6)

Qua lời bàn của Mác, chúng ta nhận thấy chính nhu cầu xây dựng những công trình thủy lợi để tưới nước vào ruộng, chính nhu cầu tổ chức lao động tập thể và phân phối, sử dụng lao động tập thể trong nông nghiệp mà từng cá nhân hay từng công xã không thể làm được, đặt ra đòi hỏi khách quan phải có một chính quyền tập trung) Chính quyền nhà nước này sẽ tồn tại với tư cách đại diện cho các công xã, liên hiệp các công xã để làm tốt tất cả những công việc trên Nhà nước có vai trò quyết định đến nền nông nghiệp phương Đông:

“…? các nước châu Á, nông nghiệp bị suy sụp dưới sự cai trị của chính phủ này, nhưng lại được khôi phục dưới sự cai trị của một chính phủ khác Ở đây thu hoạch cũng là tùy ở chính phủ tốt hay xấu giống như ở Châu Âu mức thu hoạch là tùy ở thời tiết tốt hay xấu”(7)

Trong điều kiện lịch sử lúc bấy giờ khi mà ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu, quan trọng nhất, khi mà đặc trưng của nền kinh tế phương Đông chính là nền kinh tế nông nghiệp, thì tất yếu rằng nhà nước phương Đông muốn thực hiện những chức năng của mình, đòi hỏi phải nắm quyền sở hữu tối cao về ruộng đất của công xã Chỉ khi nắm sức mạnh kinh tế đó mới có thể có đủ sức mạnh chính trị, chi phối, điều hành toàn xã hội Phương Đông, trong thời kì phương thức sản xuất châu Á, ruộng đất thuộc quyền sở hữu tối cao và duy nhất của Nhà nước, đứng đầu là nhà vua chuyên chế Đến sau thời

kì này, ruộng đất thuộc quyền sở hữu tối cao của nhà vua phong kiến, song quyền sở hữu tối cao ấy không còn là duy nhất như trước vì thời kì này đã có

Trang 7

ruộng đất tư nhân thuộc quyền tư hữu của chủ ruộng đất

Trên cơ sở quyền sở hữu tối cao ấy thì nhà vua (hay vua chúa) đứng đầu nhà nước, với tư cách đại diện cho các công xã trong toàn quốc, thực hiện 2 quyền hạn cơ bản sau:

Thứ nhất, nhà vua hay vua chúa đứng đầu nhà nước tiến hành định kỳ

phân phối ruộng đất cho các thành viên công xã và thu tô thuế của những ruộng đất cày cấy ấy để dùng cho bản thân cũng như các công việc của nhà nước

Ví như ở Trung Quốc thời cổ trung đại, tình hình này rất phổ biến Ví dụ chế độ tính điền thời Chu là một điển hình ở đây ruộng đất trong toàn quốc trên danh nghĩa là thuộc về thiên tử, nhưng thực tế thì do các công xã chiếm giữ Công xã phân phối đều ruộng đất cho nông dân công xã theo thời hạn nhất định Cứ vài năm là ruộng được phận phối cho nhân dân một lần Nông dân cày ruộng ấy phải nộp chừng 1/10 thu hoạch cho thôn xã để nộp lên chính phủ (gọi là thập nhất chi thuế) Hay ở Việt Nam chúng ta đến thế kỷ X tình hình vẫn diễn ra tương tự, nhà nước thông qua làng xã để phân chia ruộng đất cùng cho nông dân, và thông qua công xã để nhà nước tiến hành thu thuế Có thể nói lúc ấy ở Việt Nam, tính tự trị của làng xã rất cao Về sau, từ thời Lý, Trần, đặc biệt từ thời Lê sơ với nhiều chính sách ruộng đất như chính sách lộc điều, quân điền… đã thiết lập quan hệ lệ thuộc của làng

xã, thủ tiêu trình tự trị của làng xã

Tất nhiên, trong mỗi thời kỳ thì quyền này cũng được biểu hiện không giống nhau hoàn toàn.Ví như: nếu trong thời phương thức sản xuất châu Á , nhà nước thỏa thuận với các công xã cho công xã sử dụng đất đai mà công xã khai phá và hoạch định ranh giới phân chia với các công xã láng giềng, thì bước sang thời kì sau đó, nhà nước thỏa thuận với công xã cho công xã sử dụng đất đai đã được lịch sử hoạch định và công xã được quyền thừa kế…

Trang 8

Thứ hai, trên cơ sở quyền sở hữu tối cao của mình, nhà nước phương

Đông tự ý trích những phần ruộng đất các công xã để phân phong cho bọn quan liêu của mình, với danh nghĩa thưởng công hay đài thọ cho họ để họ trung thành với nhà nước Không những vậy, trong nhiều trường hợp, nhà nước còn có quyền thu hồi những ruộng đất đã phân phối, phân phong, hoặc

có thể lấy từ người này đem cho người khác

Qua tìm hiểu những quyền sở hữu ruộng đất tối cao của nhà nước, chung

ta nhận thấy rằng: có thể phân chia quyền sở hữu của nhà nước thành hai loại Thứ nhất là quyền sở hữu tối cao, mang tinh pháp lý Tức quyền sở hữu tối cao này tuy được xác định trên danh nghĩa, được cả nước thừa nhận, nhưng trên thực tế ruộng đất do công xã quàn lý trực tiếp Thông qua công xã để phân chia ruộng đất cho nông dân và thông qua công công xã để nhà nước thu thuế Thứ hai là quyền sở hữu thực của nhà nước Quyền sở hữu thực của nhà nước được thể hiện đối với phần ruộng đất mà nhà nước trực tiếp sử dụng phục vụ cho nhà nước, triều đình…hay là những ruộng đát mà nhà nước trực tiếp dùng phân cấp, phân phong cho quý tộc, công thần của mình

Song điều chung ta cần chú ý là chế độ sở hữu tối cao của Nhà nước về ruộng đất công xã không thể tồn tại độc lập Chế độ sở hữu tối cao của nhà nước về ruộng đất công xã tồn tại dựa vào chế độ sở hữu công về rộng đất của công xã Chừng nào công xã nông thôn cùng với chế độ sở hữu của nó không còn, thì lúc ấy chế độ sở hữu của nhà nước về ruộng đất nông xã cùng

bị thủ tiêu Đây có thể xem là quy luật phát triển của hình thức sở hữu tối cao của nhà nước về ruộng đất trong các xã hội phương Đông

Bàn về mối quan hệ giữa quyền sở hữu ruộng đất công xã của nhà nước

và quyền sở hữu ruộng đất công của công xã, Vũ Huy Phúc trong quyển “Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX” đã viết “Làng xã là người đồng sở hữu công điền, cùng thổ với Nhà nước”, “công điền công thổ

Trang 9

có 2 chủ thể đồng thời, một ông chủ to lớn ở xa, một ông chủ nhỏ bé nhưng lại ở gần và thực tiếp”, “về mặt suy luận có thể thừa nhận một quyền sở hữu kết hợp, sở hữu kép của 2 chủ sở hữu hay nhiều chủ sở hữu” “vị trí trung gian của làng xã cũng xuất phát từ cơ sở quyền sở hữu đó Nhưng trên đã nói, sở hữu kép đối với ruộng đất công xã cho phép cả nhà nước và công xã đều được chiếm hữu địa tô”

Hay Đặng Phong trên tạp chí Nghiên cứu kinh tế/1976 cho rằng: Hai thứ quyền sở hữu đó tuy khác nhau về bản chất nhưng tồn tại trên mỗi thửa ruộng công Ông xem đó là chế độ đồng sở hữu hường tính và con đó là “cái bản chất bí ẩn của chế độ ruộng công”

Vũ Huy Phúc trong tạp chí Nghiên cứu của lịch sử, số 4/1981 cũng đã cho rằng: “Nếu xét từ thiết chế pháp lý đến sự sử dụng phân chia ruộng đất công làng xã trong thực tiễn, xét từ quy định trên giấy tờ đến thực tế lịch sử, xét từ danh nghĩa đến thực tế, xét cả về mặt đìa tô tức quan hệ phân phối sản phẩm nữa thì thấy cả nước với làng xã với tư cách là cộng đồng đều là chủ sở hữu các ruộng đất công xã”(8)

Với “chế độ đồng sở hữu” ấy, sở hữu nhà nước bị hạn chế nhiều, làng

xã có quyền chiếm hữu và sử dụng ruộng đất tương đối cao Nhà nước chỉ thu

tô, thuế và quy định kỳ phân chia ruộng đất Còn phần lớn cách phân chia và

sử dụng thì làng nào có cách thức của làng ấy Thực tế ở các nước Ai Cập ,

Ấn Độ, Trung Quốc và cả Việt Nam thời cổ và trung đại cũng cho chung ta thấy khi công tác xã nông thôn cùng với chế độ sở hữu của nó bị thu hẹp thì chế độ sở hữu nhà nước cũng bị thu hẹp, thủ tiêu theo nó Chế độ phong cấp, ban phát đất đai cho quý tộc, quan lại theo đó cũng dần không còn nữa Qua

đó để ta thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa hai hình thức sở hữu ruộng công thời bấy giờ

3 Sở hữu tư nhân

Trang 10

Mác đã từng nói rằng: “Trong hình thái Á châu (ít ra là trong hình thức thường thấy của nó) không có sở hữu của cá nhân riêng rẽ, mà chỉ có chiến hữu cá nhân, người sở hữu thực tế, chân chính, là công xã; do đó, sở hữu chí tồn tại với tư cách là sở hữu tập thể về ruộng đất mà thôi”(9) hay “Việc không

có chế độ tư hữu ruộng đất quả thật là chiếc chìa khoá để hiểu toàn bộ phương Đông”(10)

Như vậy theo Mác, trong thời kỳ phương thức sản xuất châu á, nhà nước

là kẻ sở hữu tối cao về ruộng đất trên phạm vi toàn quốc Thời kỳ này không

có quyền sở hữu tư nhân, mặc dù tư nhân hay cộng đồng vẫn có quyền có ruộng đất trong tay và quyền sử dụng đất

Đó là sự khái quát chung của Mác Trên thực tế, sự xuất hiện hình thức

sở hữu tư nhân về ruộng đất của mỗi nước ở vào những thời điểm khác nhau

Ví dụ ở Trung Quốc, chế độ tư hữu về ruộng đất xuất hiện từ thời Xuân Thu Thời kì Xuân Thu ở Trung Quốc đã có tình trạng ruộng công trước đây của nông dân công xã biến thành ruộng tư của họ ngày một nhiều Lúc đó bọn quý tộc cũng lớn mạnh dần, ruộng công xã cũng dần bị chúng chiếm đoạt làm ruộng tư Vậy là chế độ tỉnh, chế độ tư hữu xuất hiện

Trong khi đó Việt Nam ta, chế độ tư hữu ruộng đất xuất hiện từ khi nào? Thực ra ngay từ thời kỳ Bắc thuộc, ở nước ta đã có ruộng đất từ hữu vì chính quyền thực dân qua các vương triều phường Bắc từ Hán đến Đường đều ra sức lấn cướp ruộng đất làng xã để lập các đồn đền Song phải từ thế kỷ XI, XII thì sở hữu tư nhân về ruộng đất ở nước ta mới rõ Nhà nước lúc này còn thông qua luật pháp bảo vệ và pháp triển chế độ tư hữu ruộng đất

Nhưng phải nói rằng hình thức sở hữu tư nhân cơ bản nhất, đặc trưng cho chế độ phong kiến đó là hình thức sở hữu địa chủ Hình thức sở hữu địa chủ tồn tại lâu dài trong chế độ phong kiến so với các hình thức sở hữu tư nhân khác

Ngày đăng: 19/01/2014, 05:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w