Hợp đồng vận tải quốc tế theo luật hàng không dân dụng Việt Nam Vận chuyển bằng đường hàng không gồm các lĩnh vực là vận chuyển vậnchuyển hành khách, vận chuyển hàng hoá, và vận chuyển b
Trang 1KHOA LUẬT
————————
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ Học phần: Luật thương mại quốc tế Giảng viên: GS TS Nguyễn Bá Diến
Đề bài:
Hợp đồng vận tải quốc tế theo Luật Hàng không dân dụng Việt Nam
Sinh viên thực hiện:
Họ và tên :
Mã số sinh viên :
Hà Nội – 11/2021
Trang 2Trước hết, hoạt động kinh doanh vận tải hàng không dân dụng là một ngànhkinh doanh có điều kiện và do doanh nghiệp vận chuyển hàng không (hãng hàngkhông) thực hiện tuân thủ theo quy định của pháp luật Việt Nam cũng như phápluật quốc tế về hàng không Vận tải hàng không được coi là phương tiện chínhtrong du lịch quốc tế và vận chuyển hàng hóa cần giao ngay
Bên cạnh những ưu điểm về tốc độ vận chuyển, thời gian nhanh chóngnhưng những hạn chế về cước vận tải hàng hóa cao, không phù hợp với hàng hóacồng kềnh có khối lượng lớn, đòi hỏi lớn về đầu tư vật chất kỹ thuật cũng nhưđào tạo nhân lực phục vụ Cho nên, hàng hóa chủ yếu vận chuyển bằng đườnghàng không bao gồm: thư, bưu kiện; hàng chuyển phát nhanh: chứng từ, tài liệu,sách báo, hàng cứu trợ khẩn cấp, ; Hàng hóa thông thường gồm: Hàng giá trịcao, quý hiếm, hàng dễ hư hỏng, hàng nhạy cảm với thị trường, động vật sống 1
2.1 Quy định hiện hành:
2.1.1 Cơ sở pháp lý
Vận tải hàng không quốc tế mang tính quốc tế cao và dựa trên cơ sở áp dụngcác quy định của Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế (IATA), Tổ chức hàngkhông dân dụng quốc tế (ICAO) Hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa bằngđường hàng không quốc tế được điều chỉnh các điều ước quốc tế sau đây:
- Công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc về vận tải hàng không quốc tế, ký kết tại Vacsava – Ba Lan ngày 12/10/1929, gọi tắt là Công ước Vacsava 1929
- Nghị định thư sửa đổi Công ước Vacsava 1929, ký kết ngày 28/9/1956 tại Hague, nên được gọi là Nghị định thư Hague 1955 - Công ước bổ sung Công ước Vacsava, ký kết tại Guadalajara ngày 18/9/1961, gọi tắt là Công ước Guadalaijara, áp dụng trong trường hợp vận tải hàng không được tiến hành bởi
một người không phải là người vận chuyển theo hợp đồng
- Hiệp định liên quan tới giới hạn của Công ước Vaesava và Nghị định thư Hague, ký kết tại Montreal ngày 13/5/1966, gọi là Hiệp định Montreal 1996
- Nghị định thư sửa đổi Công ước Vacsava, ký kết năm 1971
- Các Nghị định thư Montreal 1975 bổ sung Công ước Vacsava, gồm các
nghị định thư số 1, 2, 3, 4 liên quan đến việc thay thế đồng tiền để tính giới hạntrách nhiệm bồi thường của người vận chuyển hàng không, thời gian thông báotổn thất, khiếu nại người vận chuyển hàng không là đồng Fr vàng bằng Quyềnrút vốn đặc biệt (SDR)
Luật Hàng không là một ngành luật mới mẻ ở Việt Nam và được quy địnhbởi yếu tố công nghệ hàng không, trong khi Việt Nam là thành viên của các Công
Trang 3ước Vacsava 1929, Nghị định thư Hague 1995, Nghị định thư Montreal1975, Cho nên, Việt Nam học hỏi, chuyển hóa các điều ước quốc tế trong lĩnh vực hàng không vào pháp luật của mình về Luật Hàng không dân dụng năm 1991.
Hiện nay là Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006, sửa đổi bổ sung năm
2014
Hợp đồng vận tải quốc tế theo luật hàng không dân dụng Việt Nam
Vận chuyển bằng đường hàng không gồm các lĩnh vực là vận chuyển vậnchuyển hành khách, vận chuyển hàng hoá, và vận chuyển bưu phẩm, bưu kiện vàthư Mỗi lĩnh vực lại mang trong mình một tầm quan trọng nhất định trong sự pháttriển nền kinh tế đất nước và cần được quan tâm Việc xây dựng và hoàn thiện cácđạo luật liên quan đến vận tải quốc tế về đường hàng không là cần thiết
Khi nói tới hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không, mọingười thường hiểu là nói tới hợp đồng thương mại, mà trong đó hàng hoá là cácđộng sản hữu hình Vì vậy hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàngkhông là hợp đồng có đền bù
Theo quy định Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2006, sửa đổi bổ sung
2014 Điều 128, khoản 1, ý 1 có định nghĩa: “Hợp đồng vận chuyển hàng hoá là sựthoả thuận giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển, theo đó người vậnchuyển có nghĩa vụ vận chuyển hàng hoá đến địa điểm đến và trả hàng hoá chongười có quyền nhận; người thuê vận chuyển có nghĩa vụ thanh toán cước phí vậnchuyển”
Để giải nghĩa thêm cho tính chất thương mại của hợp đồng theo định nghĩanày, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2006 sửa đổi bổ sung 2014 Điều 128,khoản 1, ý 2 có qui định thêm: “Người vận chuyển là tổ chức cung cấp dịch vụvận chuyển thương mại bằng đường hàng không”
Có thể hiểu hợp đồng thương mại là hợp đồng do thương nhân giao kết vàthực hiện trong khi tiến hành nghề nghiệp của mình Vì vậy các hợp đồng thươngmại thường là các hợp đồng có đền bù, bởi thương nhân là những người chuyênthực hiện các hành vi thương mại hay luôn luôn nhằm các mục tiêu lợi nhuậntrong các hoạt động của mình
I Cơ sở ghi nhận
1.1 Pháp luật nước ngoài
Vận tải hàng không quốc tế mang tính quốc tế cao và dựa trên cơ sở ápdụng các quy định của Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế (IATA) Với nội dungchính là ngành kinh doanh tổng hợp, vận tải hàng không không chỉ là vận chuyểnhàng hoá, hành khách mà còn kết hợp các nguồn kinh doanh khác như dịch vụ
Trang 4khách sạn, du lịch, kho hàng và dịch vụ mặt đất các tổ chức vận tải hàng khôngquốc tế đã được thành lập như:
- Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế (International Civil Aviation Organization
- ICAO) là tổ chức cấp chính phủ, thành lập năm 1947, Việt Nam (tham gia từnăm 1980)
Hiệp hội vận tải hàng không quốc tế (International Air Transport Association IATA) là tổ chức phi Chính phủ, thành lập năm 1945, với thành viên chính thức làcác hãng hàng không quốc tế và thành viên liên kết là các hàng hàng không nộiđịa
Công ước bổ sung Công ước Vacsava, ký kết tại Guadalajara ngày 18/9/1961 gọitắt là Công ước Guadalajara, áp dụng trong trường hợp vận tải hàng không đượctiến hành bởi một người không phải là người vận chuyển theo hợp đồng
- Hiệp định liên quan tới giới hạn của Công ước Vacsava và Nghị định thư Hague,
ký kết tại Montreal ngày 13/5/1966, gọi là Hiệp định Montreal 1996
- Nghị định thư sửa đổi Công ước Vacsava, ký kết năm 1971
- Các Nghị định thư Montreal 1975 bổ sung Công ước Vacsava, gồm các nghị địnhthư số 1,2,3,4 liên quan đến việc thay thế đồng tiền để tính giới hạn trách nhiệmbồi thường của người vận chuyển hàng không, thời gian thông báo tổn thất, khiếunại người vận chuyển hàng không là đồng Fr vàng bằng Quyền rút vốn đặc biệt(SDR)
- Hiệp hội các hãng hàng không châu Á - Thái Bình Dương (Association of AsiaPacific Airline - AAPA), thành lập năm 1965
- Công ước quốc tế để thống nhất một số quy tắc về vận tải hàng không quốc tế(The Convention for the Unification of Certain Rules Relating to InternationalCarriage by Air) ký kết tại Vacsava - Ba Lan ngày 12 | tháng 10 năm 1929, gọi tắt
là Công ước Vacsava 1929 Được coi là điều ước quốc tế chủ yếu về vận tải hàngkhông quốc tế, Công ước Vacsava nhằm giải quyết các xung đột pháp luật giữacác nước trong vận tải hàng không
- Nghị định thư sửa đổi Công ước Vacsava 1929, ký kết ngày 28/9/1955 tại Hague,nên được gọi là Nghị định thư Hague 1955
1.2 Pháp luật Việt Nam
Các văn bản pháp luật chủ yếu của Việt Nam điều chỉnh hợp đồng vậnchuyển hàng không bao gồm:
- Bộ luật Dân sự 2015
- Luật Thương mại 2005 sửa đổi bổ sung 2019
- Luật Doanh nghiệp 2020
- Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 sửa đổi 2019
- Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2006, sửa đổi 2014
- Luật Tố tụng dân sự 2015
- Các nghị định, thông tư, văn bản hướng dẫn thi hành
Trang 5II Hợp đồng vận tải hàng không quốc tế
2.1 Khái quát về vận chuyển hàng không
Vận chuyển hàng không theo một nghĩa chung nhất là quá trình sử dụng tàubay để phục vụ cho vận chuyển công cộng, trên cơ sở thường lệ hay không thường
lệ Nói theo nghĩa rộng, nó là sự tập hợp các yếu tố kinh tế kỹ thuật nhằm khaithác, chuyên chở bằng tàu bay một cách có hiệu quả
Theo quy định của Luật hàng không dân dụng Việt Nam thì vận chuyểnhàng không là việc vận chuyển hành khách, hành lý, hàng hóa, bưu phẩm, bưukiện, thư bằng đường hàng không Vận chuyển hàng không bao gồm vận chuyểnhàng không thường lệ và vận chuyển hàng không không thường lệ
Kinh doanh vận chuyển hàng không là ngành kinh doanh có điều kiện và dodoanh nghiệp vận chuyển hàng không thực hiện Kinh doanh vận tải hàng khôngphải đáp ứng các điều kiện về phương án bảo đảm có tàu bày khai thác, tổ chức bộmáy, vốn, phương án kinh doanh và chiến lược phát triển sản phẩm quy định tạiĐiều 6,7,8, 9 của Nghị định 89/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều củanghị định 92/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ quy định về cácngành, nghề kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực hàng không dân dụng và nghịđịnh số 30/2013/NĐ-CP ngày 08/4/2013 của Chính phủ về kinh doanh vận chuyểnhàng không và hoạt động hàng không chung Kinh doanh vận tải hàng không baogồm hai hình thức kinh doanh vận chuyển hàng không và kinh doanh hàng khôngchung
a) Kinh doanh vận chuyển hàng không là việc vận chuyển hành khách, hành
lý, hàng hóa, bưu gửi bằng đường hàng không nhằm mục đích sinh lợi
b) Kinh doanh hàng không chung là hoạt động hàng không chung nhằmmục đích sinh lợi bằng tàu bay trừ tàu bay không người lái, phương tiện bay siêunhẹ theo quy định Luật hàng không dân dụng Việt Nam
2.2 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không.
Hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không là hợp đồngthương mại Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2006 định nghĩa:
“Hợp đồng vận chuyển hàng hoá là sự thoả thuận giữa người vận chuyển vàngười thuê vận chuyển, theo đó người vận chuyển có nghĩa vụ vận chuyển hànghoá đến địa điểm đến và trả hàng hoá cho người có quyền nhận; người thuê vậnchuyển có nghĩa vụ thanh toán cước phí vận chuyển” (Điều 128, khoản 1, đoạn 1)
Trang 62.3 Hình thức của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không.
- Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2006, sửa đổi, bổ sung 2014 đã thống nhất
các quy tắc của pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế liên quan tới hình thức củahợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không
- Trong đó việc hợp đồng vận chuyển hàng không nói chung và hợp đồng vận
chuyển hàng hoá bằng đường hàng không nói riêng là hợp đồng trọng hình thức.Pháp luật buộc hợp đồng phải lập thành văn bản
- Nếu như hợp đồng vận chuyển hành khách và hành lý bằng đường hàng không
được thể hiện bằng vé máy bay và thẻ hành lý, thì hình thức của hợp đồng vậnchuyển hàng hoá bằng đường hàng không là vận đơn hàng không (the air waybill)hoặc biên lai hàng hoá (the cargo receipt) Các chứng từ này luôn luôn được xem
là chứng cứ đầu tiên về việc giao kết hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đườnghàng không, về việc chấp nhận hàng hoá để vận chuyển và về các điều kiện vậnchuyển được xác định trong đó Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2006, sửađổi 2014 Điều 129, khoản 1 có qui định: “Vận đơn hàng không là chứng từ vậnchuyển hàng hoá bằng đường hàng không và là bằng chứng của việc giao kết hợpđồng, việc đã tiếp nhận hàng hoá và các điều kiện của hợp đồng”
2.4 Nội dung của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không
Nội dung của hợp đồng là nói tới các điều kiện của hợp đồng mà các bêncam kết thi hành
Các điều kiện của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng khôngđược thể hiện trong hai loại văn bản - Đó là chứng từ vận chuyển (vận đơn hoặcbiên lai hàng hoá), và Điều lệ vận chuyển hàng không Ngoài ra các qui định củapháp luật về hợp đồng vận chuyển hàng không cũng chứa đựng các điều kiện củahợp đồng Điều lệ vận chuyển hàng không là nơi chứa đựng các điều kiện áp dụngchung cho tất cả các loại hợp đồng vận chuyển, riêng cho các hợp đồng vậnchuyển hàng hoá Còn chứng từ vận chuyển hàng hoá xác định các điều kiện cótính cách cá biệt cho một hợp đồng vận chuyển hàng hoá cụ thể
Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2006, tại Điều 111, khoản 1 có quyđịnh: “Điều lệ vận chuyển là bộ phận cấu thành của hợp đồng vận chuyển hangkhông, qui định các điều kiện của người vận chuyển đối với việc vận chuyển hànhkhách, hành lý, hàng hoá, bưu phẩm, bưu kiện, thư bằng đường hang không”
Pháp luật Việt Nam quy định tại Điều 111, khoản 1 Luật Hàng không dândụng Việt Nam 2006, sửa đổi 2014: “Điều lệ vận chuyển là bộ phận u thành củahợp đồng vận chuyển hàng không, qui định các điều kiện của người vận chuyểnđổi với việc vận chuyển hành khách, hành lý, hàng hoá, bưu phẩm, bưu kiện, thư
bằng đường hàng không”
Trang 72.5 Hiệu lực của hợp đồng vận chuyển hàng hoa bằng đường hàng không
Hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không khi đã được giaokết hợp pháp đều sẽ có hiệu lực ràng buộc giữa các bên
Nếu vi phạm các điều kiện của hợp đồng sẽ bị pháp luật cưỡng chế theo luậtđịnh bằng các biện pháp cưỡng chế
Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đườnghàng không
Bất kì loại hợp đồng hay giao dịch nào cũng cần đáp ứng điều kiện mà giaodịch pháp lý đã quy định, đặc biệt với pháp luật Việt Nam Bộ Luật Dân sự 2015cũng đã đề cập gọi là giao dịch dân sự tại Điều 117:
“1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giaodịch dân sự được xác lập;
b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật,không trái đạo đức xã hội
2 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sựtrong trường hợp luật có quy định
Có nghĩa là bất kể là hợp đồng vận chuyển bằng đường nào thì phải tuân thủ cácđiều kiện do pháp luật đặt ra liên quan tới các yếu tố trên
2.6 Thực hiện hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không
Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không tạo lập quyền vànghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng
Vậy nên từ các đặc điểm của loại hợp đồng này người ta thiết lập các quichế của việc thực hiện hợp đồng (nếu hợp đồng giữa các bên không qui địnhkhác), trong đó có các đặc thù sau
Thứ nhất, người gửi hàng có quyền định đoạt hàng hóa bằng việc:
Lấy lại hàng hóa tại cảng hàng không đi hoặc cảng hàng không đến
Giữ lại hàng hóa đang vận chuyển tại bất kỳ điểm hạ cánh nào, bằng việc đưa rachỉ dẫn trả hàng hóa ở điểm đến hoặc trong hành trình vận chuyển cho người kháckhông phải là người nhận hàng hóa được chỉ định ban đầu
Yêu cầu đưa hàng hóa quay trở lại cảng hàng không đi
Trang 8Thứ hai, người nhận hàng hóa có quyền yêu cầu người vận chuyển trả hànghóa cho mình khi hàng hóa tới địa điểm đến sau khi trả các chi phí và thực hiệncác điều kiện vận chuyển theo qui định
Thứ ba, người gửi hàng và người nhận hàng có thể thực hiện một cáchtương ứng tất cả các quyền đã nêu trên Người gửi hàng hóa hoặc người nhậnhàng hóa có thể nhân danh mình để thực hiện các quyền này, không phụ thuộc vàoviệc người đó hành động vì lợi ích của mình hay lợi ích của người kia
Nhưng vẫn cần thực hiện đúng các quy định mà hợp đồng đã đề ra
Thứ tư, việc thực hiện các quyền nêu trên không ảnh hưởng đến:
Mối quan hệ giữa người gửi hàng hóa và người nhận hàng hóa
Mối quan hệ giữa các người thứ ba có quyền phát sinh hoặc từ người gửi hàng hóahoặc từ người nhận hàng hóa
Thứ năm, cuối cùng để đảm bảo thuận lợi trong vận chuyển hàng háo nhất
là quốc tế, pháp luật thường quy định người gửi hàng hóa có nghĩa vụ cung cấpcác thông tin và các giấy tờ cần thiết để đáp ứng các thủ tục hải quan, cảnh sát vàcác thủ tục của bất cứ cơ quan nhà nước nào khác trước khi giao hàng hóa chongười nhận hàng hóa
2.7 Trách nhiệm của các bên trong hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không
Hợp đồng chính là sự thảo thuận giữa các bên với nhau và hợp đồng vận chuyểnhàng hóa bằng đường hàng không chính là sự thỏa thuận giữa người vận chuyển
và người thuê vận chuyển
Đây là hợp đồng song vụ, tức là quyền và nghĩa vụ đôi bên tương đươngnhau Tuy nhiên, mỗi bên có những đặc điểm riêng, do đó cần nghiên cứu tráchnhiệm về các vi phạm của mỗi bên riêng biệt một cách tương đối
2.8 Trách nhiệm của người gửi hàng hóa
Người gửi hàng phải chịu trách nhiệm về sự chính xác của các chi tiết và lờikhai có liên quan đến hàng hoá trong vận đơn hàng không và phải chịu tráchnhiệm bồi thường cho người vận chuyển hay bất cứ người nào khác mà người vậnchuyển có trách nhiệm tất cả những thiệt hại mà họ phải gánh chịu do sự khôngchính xác, không đúng hay không đầy đủ của các chi tiết mà người gửi hàng cungcấp
Người gửi hàng phải cung cấp tin tức và gửi kèm vận đơn hàng khôngnhững chứng từ cần thiết để đáp ứng các thủ tục hải quan, thuế nhập thị trước khihàng có thể giao được giao cho người nhận hàng; chịu trách nhiệm với người vậnchuyển về mọi thiệt hại do thiếu, không đủ hoặc không hợp quy cách của bất kỳ
Trang 9thông tin hay chứng từ nào khi thiệt hại là do lỗi của người vận chuyển hoặc đại lýcủa họ Người vận chuyển không có nghĩa vụ thẩm tra tính đúng đắn hoặc đầy đủcủa các thông tin hoặc chứng từ đó Người gửi hàng có quyền định đoạt về hànghoá nghĩa là có quyền rút hàng ra tại sân bay đi hay sân bay đến, giữ hàng trênđường vận chuyển, yêu cầu giao hàng cho người nhận khác tại sân bay đến haytrên đường hoặc gửi hàng trả lại
Tuy nhiên, quyền này phải được thực hiện sao cho không tổn hại đến quyềnlợi của người vận chuyển, những người thuê chở khác và phải trả lại mọi chi phíkhi thực hiện yêu cầu của mình Người gửi hàng có nghĩa vụ và trách nhiệm thanhtoán cước phí vận chuyển đúng thời gian theo phương thức và điều kiện thanhtoán của hợp đồng vận chuyển
2.9 Trách nhiệm của người gửi vận chuyển
Trách nhiệm của người vận chuyển hàng không đối với hàng hoá được quyđịnh trong Công ước Vacsava và các hiệp định, nghị định thư sửa đổi, bổ sung.Theo Công ước Vacsava, người vận chuyển hàng không phải chịu trách nhiệm vềnhững thiệt hại do việc hàng hoá hoặc hành lý bị mất mát hay hư hỏng nếu sự cốgây ra mất mát, hư hỏng đó xảy ra trong quá trình vận chuyển hàng không (làkhoảng thời gian mà hành lý hoặc hàng hoá nằm trong sự bảo quản của người vậnchuyển, dù ở sân bay , ở trong máy bay hoặc trong trường hợp máy bay phải hạcánh ngoài sân bay thì ở bất kỳ nơi nào) Thời gian vận chuyển bằng máy baykhông mở rộng ra cả quãng đường vận chuyển bằng đường b, đường biển hayđường sông ngoài phạm vi sân bay
Tuy vậy, nếu việc vận tải như vậy là để thực hiện hợp đồng vận chuyểnbằng đường hàng không, nhằm mục đích xếp hàng, giao hàng, hoặc chuyển tảihàng hoá thì bất kỳ một thiệt hại nào cũng có thể được suy đoán là gây ra bởi một
sự cố xảy ra trong quá trình vận tải hàng không, trừ khi có sự chứng minh ngượclại Người vận chuyển hàng không còn phải chịu trách nhiệm về thiệt hại do chậmtrễ xảy ra trong quá trình vận chuyển hành khách, hàng hoá hoặc hành lý Ngườivận chuyển không phải chịu trách nhiệm nếu chứng minh được mình đã áp dụnghoặc không thể áp dụng mọi biện pháp cần thiết để tránh thiệt hại; hoặc chứngminh thiệt hại trong việc hoa tiêu, chỉ huy máy bay, vận hành máy bay TheoCông ước Vacsava và Nghị định thư Hague, giới hạn trách nhiệm của người vậnchuyển đối với hành lý ký gửi và hàng hoá, đối với hàng hoá và hành lý là 250
Fr / kg (tương đương với khoảng 20 USD / kg), trừ trường hợp người gửi hàng đã
kê khai giá trị lúc gửi hàng và nộp thêm một khoản tiền nếu có yêu cầu (đồng Fr.Pháp, tương đương với 65,5 mg vàng có độ nguyên chất 90 %) Trong trường hợpnày trách nhiệm của người vận chuyển không vượt quá số tiền đã kê khai TheoHiệp định Montreal 1966, giới hạn trách nhiệm này là 9,07 USD / 1 Pound tươngđương 20 USD/1kg Các nghị định thư bổ sung Montreal 1975 đã đổi giới hạntrách nhiệm trên ra đồng SDR để áp dụng cho các nước là thành viên của Quỹ tiền
tệ quốc tế (IMF), với mức tương đương là 17 SDR / kg hàng hoá hoặc hành lý bị
Trang 10mất mát hư hỏng Những giới hạn trách nhiệm nêu trên sẽ không áp dụng nếuchứng minh được rằng thiệt hại do hành động hoặt thiếu sót cố ý của người vậnchuyển, người phục vụ hoặc đại lý của người vận chuyển nhằm gây thiệt hai hoặc
do cẩu thả dù biết rằng thiệt hại có thể xảy ra Tổng số tiền mà người vận chuyển,người phục vụ và đại lý phải chịu không vượt quá giới hạn đã nêu trên đây
Theo quy định của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 sửa đổi
bổ sung 2014 và Điều lệ vận chuyển hàng hoá quốc tế của Hãng hàng không quốcgia Việt Nam ngày 28/12/2019 trách nhiệm người vận chuyển được quy định nhưsau:
Thời hạn trách nhiệm tương tự như quy định của các công ước quốc tế
- Cơ sở trách nhiệm: Người vận chuyển chịu trách nhiệm về mất mát, hư
hỏng của hàng hoá và chậm giao hàng Người vận chuyển được miễn trách nhiệmtrong các trường hợp sau: do đặc tính tự nhiên hay khuyết tật vốn có của hànghoá; do cưỡng chế của chính quyền và toà án; do xung đột vũ trang; do lỗi của chủhàng hay người áp tải của chủ hàng
- Giới hạn trách nhiệm: Trong trường hợp việc vận chuyển có kê khai giá
trị thì giới hạn trách nhiệm là giá trị đã kê khai và cước phí vận chuyển đến nơiđến
2.10 Giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không
Khi xảy ra tranh chấp liên quan đến hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằngđường hàng không, người gửi hàng hóa, người nhận hàng hóa hoặc người đại diệnhợp pháp của họ có quyền khiếu nại, khởi kiện người vận chuyển để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của họ khi bị xâm hại
Việc khiếu nại trong vận chuyển hàng không đối với hàng hóa là bắt buộc
để điều hòa nền không vận, không gây rắc rối bằng việc chạy theo kiện tụng vàbảo đảm sự thiện chí Do đó có nguyên tắc là việc người nhận hàng hóa mà khôngkhiếu nại, trừ khi có chứng minh ngược lại, thì sự không khiếu nại là bằng chứngrằng hàng hóa đã được chuyển giao ở trạng thái thỏa đáng và phù hợp với chứng
từ vận chuyển hoặc bản ghi được lưu giữ bằng các cách thức khác
Với tranh chấp phát sinh từ hợp đồng vận chuyển hàng hóa quốc tế bằngđường hàng không (là hợp đồng vận chuyển mà theo thỏa thuận của các bên tronghợp đồng địa điểm xuất phát và địa điểm đến trên lãnh thổ của hai quốc gia hoặctrên lãnh thổ của một quốc gia nhưng có điểm dừng thỏa thuận trên lãnh thỏ củamột quốc gia khác, không kể có gián đoạn trong vận chuyển hoặc chuyển tải), tòa
án Việt Nam sẽ có thẩm quyền giải quyết theo lựa chọn của người khởi kiện trongnhững trường hợp sau:
Trang 11 Người vận chuyển có trụ sở chính hoặc địa điểm kinh doanh chính tại Việt Nam;
Người vận chuyển có địa điểm kinh doanh và giao kết hợp đồng vận chuyển tạiViệt Nam;
Việt Nam là địa điểm đến của hành trình vận chuyển
III Phân tích các qui định pháp luật Việt Nam về hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không.
Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2006 sửa đổi bổ sung 2014 ra đời đãkhắc phục được những thiếu sót của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 1991,phù hợp với các Điều ước quốc tế và xu hướng chung của thế giới
3.1 Về hợp đồng vận chuyển hàng không
Luật Hàng không dân dụng 2006 sửa đổi bổ sung 2014 đã kế thừa LuậtHàng không dân dụng 1991, 1995 giữ cơ cấu điều tiết mối quan hệ giữa người vậnchuyển là hãng hàng không với khách hàng thông qua hợp đồng vận chuyển hànghóa; trách nhiệm dân sự của người vận chuyển Về nội dung, nhằm chuẩn hóa cácquy định về quyền và nghĩa vụ và những vấn đề liên quan đến việc ký kết và thựchiện hợp đồng vận chuyển theo tiêu chuẩn mới nhất của quốc tế, nâng cao sứccạnh tranh của thị trường vận chuyển hàng không Việt Nam, Luật Hàng khôngdân dụng 2006, 13 chuyển hóa toàn bộ các quy định của Công ước Montreal 1999
về thống nhất một số quy tắc vận chuyển hàng không quốc tế năm 1999, so vớiLuật Hàng không dân dụng 1991, 1995 chuyển hóa các quy định của Công ướcWarsaw 1929 được sửa đổi bởi Nghị định thư Hague
Theo Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2006, các hãng hàng không cóthể được thành lập dưới các hình thức doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần,công ty tư nhân bao gồm cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo các quyđịnh của pháp luật về doanh nghiệp, với điều kiện ngành kinh doanh chính là vậnchuyển hàng không Luật
Hàng không dân dụng năm 2006 quy định rõ kinh doanh vận chuyển hàngkhông là ngành kinh doanh có điều kiện, phải được Bộ Giao thông vận tải cấpgiấy phép sau khi được Thủ tướng Chính phủ đồng ý Luật Hàng không dân dụngnăm 2006 cũng quy định cụ thể những điều kiện chính để được vận chuyển nộiđịa, vẫn tuân thủ nguyên tắc của Công ước Chicago 1944 chỉ dành cho các hãnghàng không Việt Nam, đồng thời quy định hãng hàng không nước ngoài đượctham gia vận chuyển trong những trường hợp đặc biệt Đặc biệt, Luật nă 2006 quyđịnh về thẩm quyền của Bộ Giao thông vận tải giao nhiệm vụ cho các hãng hàngkhông Việt Nam là doanh nghiệp của Nhà nước hoặc tổ chức đấu thầu khai tháccác đường bay đến các vùng có nhu cầu thiết yếu về vận chuyển hàng không đốivới sự phát triển kinh tế - xã hội
Trang 123.2 Về trách nhiệm dân sự của người vận chuyển
Điểm khác biệt cơ bản nhất của Luật Hàng không dân dụng 2006 sửa đổi bổsung 2014 so với Luật Hàng không dân dụng 1991 và 1995 trong quan hệ giữangười vận chuyển với khách hàng chính là vấn đề trách nhiệm dân sự của ngườivận chuyển Đây là điều ước quan trọng của tư pháp hàng không quốc tế với mụcđích là bảo vệ và cân bằng lợi ích của người vận chuyển và của khách hàng baogồm hai vấn đề chính: chế độ trách nhiệm và thẩm quyền giải quyết tranh chấp
Từ năm 1996 trở lại đây, mức trách nhiệm dân sự quy định tại pháp luật về hàngkhông đã trở nên “lạc hậu” so với mức mà các doanh nghiệp vận chuyển hàngkhông đã áp dụng (cụ thể là so với mức áp dụng của Vietnam Airlines) trên thực
tế Vì vậy Luật Hàng không dân dụng 2006 đã thay đổi so với luật cũ để phù hợphơn với điều kiện kinh tế xã hội hiện nay của đất nước Nếu luật cũ áp dụng theođiều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia thì Luật Hàng không dândụng 2006 sửa đổi bổ sung 2014 đã nâng mức giới hạn trách nhiệm của người vậnchuyển lên cao hơn so với cam kết quốc tế của Việt Nam
3.3 Về trách nhiệm dân sự của người vận chuyển
Điểm khác biệt cơ bản nhất của Luật Hàng không dân dụng 2006 so vớiLuật Hàng không dân dụng 1991 và 1995 trong quan hệ giữa người vận chuyểnvới khách hàng chính là vấn đề trách nhiệm dân sự của người vận chuyển Đây làđiều ước quan trọng của tư pháp hàng không quốc tế với mục đích là bảo vệ vàcân bằng lợi ích của người vận chuyển và của khách hàng bao gồm hai vấn đềchính: chế độ trách nhiệm và thẩm quyền giải quyết tranh chấp Từ năm 1996 trởlại đây, mức trách nhiệm dân sự quy định tại pháp luật về hàng không đã trở nên
“lạc hậu” so với mức mà các doanh nghiệp vận chuyển hàng không đã áp dụng(cụ thể là so với mức áp dụng của Vietnam Airlines) trên thực tế Vì vậy LuậtHàng không dân dụng 2006 đã thay đổi so với luật cũ để phù hợp hơn với điềukiện kinh tế xã hội hiện nay của đất nước Nếu luật cũ áp dụng theo điều ước quốc
tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia thì Luật Hàng không dân dụng 2006 đã nângmức giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển lên cao hơn so với cam kết quốc
tế của Việt Nam
3.4 Về hoạt động vận chuyển
Luật Hàng không dân dụng 2006 đã bổ sung thêm các quy định pháp lýđiều chỉnh hai loại hoạt động vận chuyển: vận chuyển quốc tế thường lệ và vậnchuyển quốc tế không thường lệ cũng như các điều kiện cho việc thực hiện cácloại hoạt động đó Điều này phù hợp với Công ước Chicago 1944, và các Hiệpđịnh vận chuyển hàng không đã ký kết Trong giai đoạn hiện nay các chuyến baykhông thường lệ ngày càng có xu hướng cạnh tranh với các chuyến bay quốc tếthường lệ nên việc quy định chế độ pháp lý cụ thể với chuyến bay không thường
lệ sẽ đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng không đột xuất và đặc biệt cần thiết nhưngđồng thời không gây ảnh hưởng đến chuyến bay thường lệ
Trang 14Tài liệu tham khảo
1 Giáo trình Luật Thương Mại quốc tế, trường Đại học Luật Hà Nội, Chủ biên PGS TS Nông Quốc Bình, đồng chủ biên GS.TS Nguyễn Bá Diến.
2 Công ước viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
3 Luật Thương mại 2005, sửa đổi bổ sung 2019
4 Điều lệ vận chuyển hàng hoá quốc tế của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam ngày 28/12/2019
5 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2006, sửa đổi 2014
Trang 15đã tiếp nhận hàng hóa để vận chuyển và về điều kiện của họp đồng (theo quy địnhcủa Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006, sửa đổi bổ sung năm 2014) Theo Công ước Vacsava 1929 và Nghị định thư Hague 1995, người gửi hàng
có trách nhiệm lập AWB và chịu trách nhiệm về nội dung ghi trên AWB Khingười gửi hàng đã ký AWB thì được coi như đã thừa nhận các điều kiện của hợpđồng Việt Nam đều là thành viên của Công ước và Nghị định thư này nên cácquy định đều tuân thủ theo về các điều kiện của vận đơn
Trong Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006, sửa đổi bổ sung năm 2014,mục Vận chuyển hàng hóa từ điều 128 đến điều 142, Điều 128: Quy định về
Hợp đồng vận chuyển hàng hóa; Điều 129: Quy định về Vận đơn hàng không và biên lai hàng hóa; Điều 130: Quy định nội dung của vận đơn hàng không và biên lai hàng hóa; Điều 131: Lập vận đơn hàng không, cũng theo các nguyên tắc, quy
định của Công ước Vacsava 1929 và Nghị định thư Hague 1995 2.1.3 Trách nhiệm của các bên trong hợp đồng vận tải hàng không quốc tế ❖ Trách nhiệm của người vận chuyển
Trách nhiệm của người vận chuyển hàng không đối với hàng hóa được được quyđịnh trong Công ước Vacsava và các hiệp định, nghị định thư sửa đổi bổ sung
Theo quy định của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006, sửa đổi bổ sung năm 2014 và Điều lệ vận chuyển hàng hóa quốc tế của Hãng hàng không
quốc gia Việt Nam ngày 28/12/2019, trách nhiệm của người vận chuyển được quyđịnh như sau:
- Thời hạn trách nhiệm tương tự như quy định của các công ước quốc tế về hàng không mà Việt Nam tham gia
- Cơ sở trách nhiệm: Người vận chuyển chịu trách nhiệm về mất mát, hưhỏng của hàng hoá và chậm giao hàng Người vận chuyển được miễn trách nhiệmtrong các trường hợp sau: do đặc tính tự nhiên hay khuyết tật vốn có của hànghoá; do cưỡng chế của chính quyền và toà án; do xung đột vũ trang; do lỗi củachủ hàng hay người áp tải của chủ hàng
Trang 16- Giới hạn trách nhiệm: Trong trường hợp việc vận chuyển có kê khai giátrị thì giới hạn trách nhiệm là giá trị đã kê khai và cước phí vận chuyển đến nơiđến Trong trường hợp không kê khai giá trị vận chuyển, giới hạn trách nhiệmbằng giới hạn trách nhiệm dân sự cho vận chuyển quốc tế bằng máy bay hay bằnggiới hạn quy định trong các công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia (theo quyđịnh tại Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006, sửa đổi bổ sung năm
2014) Tuy nhiên, ngày 26/08/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 97/2020/NĐ-CP, Nghị định về tăng mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người vận chuyển trong vận chuyển bằng đường hàng không điều 3 đã
quy định cụ thể như sau:
1 Đối với vận chuyển hành khách, mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của hành khách tăng từ một trăm nghìn (100.000) đơn vị tính toán lên thành một trăm hai mươi tám nghìn tám trăm hai mươi mốt (128.821) đơn vị tính toán cho mỗi hành khách
2 Đối với vận chuyển hành khách, mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vận chuyển chậm tăng từ bốn nghìn một trăm năm mươi (4.150) đơn
vị tính toán lên thành năm nghìn ba trăm bốn mươi sáu (5.346) đơn vị tính toán cho mỗi hành khách
3 Đối với vận chuyển hành lý, bao gồm cả hành lý ký gửi và hành lý xách tay, mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do mất mát, thiếu hụt, hư hỏng hoặc do vận chuyển chậm tăng từ một nghìn (1.000) đơn vị tính toán lên thành một nghìn hai trăm tám mươi tám (1.288) đơn vị tính toán cho mỗi hành khách
4 Đối với vận chuyển hàng hóa, mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do mất mát, thiếu hụt, hư hỏng hoặc do vận chuyển chậm tăng từ mười bảy (17) đơn vị tính toán lên thành hai mươi hai (22) đơn vị tính toán cho mỗi kilôgam hàng hóa
❖ Trách nhiệm của người gửi hàng (người thuê chở hàng)
Người gửi hàng phải chịu trách nhiệm về sự chính xác của các chi tiết và lờikhai có liên quan đến hàng hoá trong vận đơn hàng không và phải chịu tráchnhiệm bồi thường cho người vận chuyển hay bất cứ người nào khác mà ngườivận chuyển có trách nhiệm tất cả những thiệt hại mà họ phải gánh chịu do sựkhông chính xác, không đúng hay không đầy đủ của các chi tiết mà người gửihàng cung cấp
Người gửi hàng phải cung cấp tin tức và gửi kèm vận đơn hàng khôngnhững chứng từ cần thiết để đáp ứng các thủ tục hải quan, thuế nhập thị trước khihàng có thể giao được giao cho người nhận hàng; chịu trách nhiệm với người vậnchuyển về mọi thiệt hại do thiếu, không đủ hoặc không hợp quy cách của bất kỳthông tin hay chứng từ nào khi thiệt hại là do lỗi của người vận chuyển hoặc đại
Trang 17lý của họ
Người vận chuyển không có nghĩa vụ thẩm tra tính đúng đắn hoặc đầy đủ của các thông tin hoặc chứng từ đó
Người gửi hàng có quyền định đoạt về hàng hoá nghĩa là có quyền rút hàng
ra tại sân bay đi hay sân bay đến, giữ hàng trên đường vận chuyển, yêu cầu giaohàng cho người nhận khác tại sân bay đến hay trên đường hoặc gửi hàng trả lại.Tuy nhiên, quyền này phải được thực hiện sao cho không tổn hại đến quyền lợicủa người vận chuyển, những người thuê chở khác và phải trả lại mọi chi phí khithực hiện yêu cầu của mình
Người gửi hàng có nghĩa vụ và trách nhiệm thanh toán cước phí vận chuyểnđúng thời gian theo phương thức và điều kiện thanh toán của hợp đồng vận
chuyển
❖ Khiếu nại và khởi kiện người vận chuyển
Theo Công ước Vacsava và Nghị định thư Hague 1955, người có quyềnnhận hàng phải khiếu nại người vận chuyển ngay sau khi phát hiện ra hư hại vàmuộn nhất trong vòng 7 ngày từ ngày nhận hành lý và 14 ngày, kể từ ngày nhậnhàng hoá Trường hợp chậm trễ, khiếu nại phải được thực hiện chậm nhất 21ngày kể từ
ngày mà hành lý hoặc hàng hoá đã đặt dưới quyền định đoạt của người nhận
Nếu khiếu nại không được giải quyết thoả đáng thì người khiếu nại có thể kiện trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày máy bay đến nơi đến, hoặc ngày đáng lẽ máy bay phải đến, hoặc ngày mà việc vận chuyển hàng không bị chấm dứt (khoản
1 Điều 29 Công ước Vacsava)
Theo quy định của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006, sửa đổi
bổ sung năm 2014, việc khiếu nại và bồi thường trong vận tải hàng không đượcthực hiện trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hàng hoá được vận chuyển tới địađiểm đến hoặc từ ngày lẽ ra máy bay đến địa điểm đến hoặc từ ngày việc vậnchuyển bị
dình chỉ Sau 30 ngày, kể từ ngày gửi hồ sơ mà không được trả lời hoặc chấp nhậnthì chủ hàng có quyền khởi kiện
Tiếp theo, là quy định về Thẩm quyền giải quyết của Tòa án Việt Nam đối với tranh chấp trong vận chuyển hàng không quốc tế, thể hiện cụ thể qua điều 172
như sau:
“Điều 172 Thẩm quyền giải quyết của Toà án Việt Nam đối với tranh chấp trong vận chuyển hàng không quốc tế
Trang 181 Toà án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng vận chuyển hàng không quốc tế hành khách, hành lý, hàng hoá theo lựa chọn của người khởi kiện trong các trường hợp sau đây:
a) Người vận chuyển có trụ sở chính hoặc địa điểm kinh doanh chính tại Việt Nam;
b) Người vận chuyển có địa điểm kinh doanh và giao kết hợp đồng vận chuyển tại Việt Nam;
c) Việt Nam là địa điểm đến của hành trình vận chuyển
2 Hợp đồng vận chuyển quốc tế quy định tại khoản 1 Điều này là hợp đồng vận chuyển mà theo thoả thuận của các bên trong hợp đồng, địa điểm xuất phát và địa điểm đến trên lãnh thổ của hai quốc gia hoặc trên lãnh thổ của một quốc gia nhưng có địa điểm dừng thoả thuận trên lãnh thổ của một quốc gia khác, không kể có gián đoạn trong vận chuyển hoặc chuyển tải
3 Đối với tranh chấp về thiệt hại xảy ra trong trường hợp hành khách bị chết hoặc bị thương thì ngoài quy định tại khoản 1 Điều này, Toà án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong trường hợp hành khách có nơi cư trú chính và thường xuyên tại Việt Nam vào thời điểm xảy ra tai nạn, với điều kiện: a) Người vận chuyển có hoạt động khai thác vận chuyển hành khách trực tiếp bằng tàu bay của mình hoặc bằng tàu bay của người vận chuyển khác theo hợp đồng giao kết giữa những người vận chuyển về việc liên danh khai thác các chuyến bay vận chuyển hành khách;
b) Người vận chuyển sử dụng trụ sở của mình hoặc trụ sở của người vận chuyển khác có hợp đồng liên danh giao kết với mình để kinh doanh vận chuyển hành khách bằng đường hàng không tại Việt Nam
4 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về tố tụng dân sự của Việt Nam.”.
Ngoài ra, còn quy định về việc Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, tại
điều 173, cụ thể như sau:
“Điều 173 Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài
1 Các bên của hợp đồng vận chuyển hàng hoá có thể thoả thuận giải quyết tranh chấp phát sinh bằng Trọng tài Thoả thuận trọng tài phải được lập thành văn bản
2 Đối với tranh chấp phát sinh từ hợp đồng vận chuyển hàng hoá quốc tế liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người vận chuyển, việc giải quyết bằng Trọng tài tại Việt Nam chỉ được thực hiện trong các trường hợp quy
Trang 19định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 172 của Luật này.”
3 Quy định tại khoản 2 Điều này được coi là một phần của bất kỳ điều khoản hoặc thoả thuận trọng tài nào Mọi điều khoản và thoả thuận trọng tài trái với quy định này đều bị coi là vô hiệu.”
❖ Nhận xét, bình luận:
Các quy định của pháp luật Việt Nam về Hàng không đã thể hiện rõ sự kếthừa, học hỏi khi áp dụng các tiêu chuẩn, điều ước quốc tế mà Việt Nam gia nhậpcũng như cam kết thực hiện điều ước quốc tế và coi đây là nghĩa vụ pháp lý quốc
tế bắt buộc Do vậy, cùng với pháp luật trong nước, các điều ước quốc tế cũng lànguồn pháp luật Việt Nam điều chỉnh hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đườnghàng không
Bên cạnh đó, khi mà gần đây Chính phủ đã tăng mức giới hạn trách nhiệmbồi thường thiệt hại của người vận chuyển thể hiện sự cam kết cao hơn quốc tế nóichung, phần nào nâng cao được vị thế cạnh tranh, uy tín của vận chuyển hàngkhông quốc tế của Việt Nam
Như vậy, nhìn chung hệ thống pháp luật của Việt Nam điều chỉnh về hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không đã tương đối đồng bộ và có tính hệ thống Mọi nội dung và những vấn đề có liên quan đến hợp đồng vậnchuyển hàng hóa bằng đường hàng không đã được điều chỉnh bởi hệ thống vănbản pháp lý cụ thể, chi tiết và đầy đủ Hệ thống này không những phù hợp với hệthống pháp luật trong nước, có mối liên hệ chặt chẽ đến các ngành luật khác đểđảm bảo không có sự xung đột mà còn phù hợp với các điều ước quốc tế mà ViệtNam tham gia, các thông lệ quốc tế và xu hướng phát triển chung của thế giới
Bình luận hợp đồng vận tải quốc tế theo Luật hàng không dân dụng Việt Nam
2.1 Khái quát về vận chuyển hàng không
Vận chuyển hàng không theo một nghĩa chung nhất là quá trình sử dụng tàu bay
để phục vụ cho vận chuyển công cộng, trên cơ sở thường lệ hay không thường lệ.Nói theo nghĩa rộng, nó là sự tập hợp các yếu tố kinh tế kỹ thuật nhằm khai thác,chuyên chở bằng tàu bay một cách có hiệu quả Như vậy, vận chuyển hàng không
là một phương thức vận chuyển đáp ứng nhu cầu di chuyển vị trí của đối tượngvận chuyển Qua đó chúng ta có thể xác định vận chuyển hàng không là việcchuyên chở hành khách, hàng hoá, hành lý và bưu kiện trong không gian từ nơinày đến nơi khác bằng tàu bay
2.2 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không
Trang 20Khi nói tới hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không, mọi ngườithường hiểu là nói tới hợp đồng thương mại, mà trong đó hàng hoá là các độngsản hữu hình Vì vậy hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không làhợp đồng có đền bù Bởi vậy Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2006 (sửa đổi2014) định nghĩa: “Hợp đồng vận chuyển hàng hoá là sự thoả thuận giữa ngườivận chuyển và người thuê vận chuyển, theo đó người vận chuyển có nghĩa vụ vậnchuyển hàng hoá đến địa điểm đến và trả hàng hoá cho người có quyền nhận;người thuê vận chuyển có nghĩa vụ thanh toán giá dịch vụ vận chuyển” (Điều 128,khoản 1, đoạn 1) Để giải nghĩa thêm cho tính chất thương mại của hợp đồng theođịnh nghĩa này, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2006 có qui định thêm:
“Người vận chuyển là tổ chức cung cấp dịch vụ vận chuyển thương mại bằngđường hàng không” (Điều 128, khoản 1, đoạn 2) Có thể hiểu hợp đồng thươngmại là hợp đồng do thương nhân giao kết và thực hiện trong khi tiến hành nghềnghiệp của mình Vì vậy các hợp đồng thương mại thường là các hợp đồng có đền
bù, bởi thương nhân là những người chuyên thực hiện các hành vi thương mại hayluôn luôn nhằm các mục tiêu lợi nhuận trong các hoạt động của mình
2.3 Phân loại hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không
Vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không lại được phân loại theo các cáchthức khác nhau Các cách phân loại này xuất phát từ các hoạt động thực tế của vậnchuyển hàng không có tính khách quan, và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trongviệc điều tiết các hợp đồng vận chuyển hàng không Người ta thường nhắc tới cácloại vận chuyển như: Vận chuyển hàng không quốc tế và vận chuyển hàng khôngnội địa; vận chuyển hàng không thường lệ và vận chuyển hàng không khôngthường lệ Tất nhiên xét từ góc độ hình thức pháp lý, có các loại hợp đồng vậnchuyển hàng hoá tương ứng với các loại vận chuyển nêu trên, bao gồm: hợp đồngvận chuyển hàng hoá quốc tế bằng đường hàng không và hợp đồng vận chuyểnhàng hoá nội địa bằng đường hàng không; hợp đồng vận chuyển hàng hoá thường
lệ bằng đường hàng không và hợp đồng vận
Trang 21chuyển hàng hoá không thường lệ bằng đường hàng không1 Tuy nhiên hợp đồng
là hình thức pháp lý của các hoạt động vận chuyển này, do đó khi nói về các quichế pháp lý tương ứng với các loại hợp đồng vận chuyển này, người ta thường chỉnhắc tới tên của các dạng hoạt động vận chuyển như vậy
2.4 Đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không
Giống như các chủng loại hợp đồng khác, hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằngđường hàng không cũng có khởi đầu bằng việc một bên đề nghị giao kết hợp đồng
để mong muốn được bên kia chấp nhận Tuy nhiên việc phân biệt ai là người đưa
ra đề nghị và ai là người chấp nhận trong mối quan hệ giữa người gửi hàng hoá vàngười vận chuyển thì không phải là không có tranh luận Đề nghị giao kết hợpđồng là việc thể hiện ý định giao kết hợp đồng ra bên ngoài và với một số điềukiện nhất định để khi người được đề nghị chấp nhận, thì hợp đồng được thiết lập
Bộ luật Dân sự 2015 định nghĩa: “Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ýđịnh giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đốivới bên đã được xác định hoặc tới công chúng (sau đây gọi chung là bên được đềnghị).” (Điều 386, khoản 1)
2.5 Hình thức của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không
Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2006 (sửa đổi 2014) đã thống nhất hoá cácqui tắc của pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế liên quan tới hình thức của hợpđồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không Việc hợp đồng vận chuyểnhàng không nói chung và hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng khôngnói riêng là hợp đồng trọng hình thức Pháp luật buộc hợp đồng phải lập thành vănbản và phải tuyên bố giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển liên quan tớithiệt hại xảy ra đối với hành khách hoặc người gửi hành lý, hàng hoá trong quátrình vận chuyển Nếu như hợp đồng vận chuyển hành khách và hành lý bằngđường hàng không được thể hiện bằng vé máy bay và thẻ hành lý, thì hình thứccủa hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không là vận đơn hàngkhông (the air waybill) hoặc biên lai hàng hoá (the cargo receipt) Các chứng từnày luôn luôn được xem là chứng cứ đầu tiên về việc giao kết hợp đồng vậnchuyển hàng hoá bằng đường hàng không, về việc chấp nhận hàng hoá để vậnchuyển và về các điều kiện vận chuyển được xác định trong đó Theo nội dungnày, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2006 qui định: “Vận đơn hàng không
là chứng từ vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không và là bằng chứng củaviệc giao kết hợp đồng, việc đã tiếp nhận hàng hoá và các điều kiện của hợp đồng(Điều 129, khoản 1)”
2.6 Nội dung của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường hàng không
Nói tới nội dung của hợp đồng là nói tới các điều kiện của hợp đồng mà các bên
1 Nguyễn Ngọc Thái (2010) Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường hàng không