1. Trang chủ
  2. » Công Nghệ Thông Tin

Tài liệu Căn bản về TCP/IP TCP/IP doc

4 338 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Căn bản về TCP/IP
Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 149,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho phép truyền thông giữa các môi trường khác nhau Do đó hiểu được cái gốc của các protocols này giúp ta hiểu được sự quan trọng của chúng trong các mạng ngày nay.. Như ta biết, truyền

Trang 1

Căn bản về TCP/IP TCP/IP (Transmission Control

Protocol/Internet Protocol) là một bộ protocols (giao

thức) được thiết kế để đạt hai mục tiêu chính:

1 Cho phép truyền thông qua các môi trường mạng diện rộng (Wide Area Network - WAN)

2 Cho phép truyền thông giữa các môi trường khác nhau

Do đó hiểu được cái gốc của các protocols này giúp ta hiểu được sự quan trọng của chúng trong các mạng ngày nay

Lịch sử của TCP/IP

Vào cuối thập niên 1960, cơ quan Advanced Research Projects Agency (DARPA) của bộ Quốc Phòng Mỹ thực hiện nhiều loạt thí nghiệm để gởi

các gói dữ kiện đi mọi hướng (packet-switching) trên mạng Hai mục tiêu chính của công tác này là:

1 Triển khai một mạng để giúp các trung tâm nghiên cứu chia sẽ các thông tin

2 Triển khai một mạng để nối chặt chẽ các địa điểm quốc phòng trong trường hợp Mỹ bị tấn công bằng vũ khí nguyên tử

Kết quả là ra đời giao thức TCP/IP.Tiếp theo nhằm hoàn thiện TCP/IP hơn

nữa các chuẩn Request for Comments (RFC) được ra đời

Giao thức TCP/IP :

Trang 2

Như ta biết, truyền thông giữa hàng triệu computers trên Internet xảy ra được nhờ có giao thức TCP/IP Vì nó rất tiện dụng nên Microsoft đã dùng TCP/IP làm giao thức chính cho mạng Windows2000 Trong TCP/IP bao gồm các giao thức sau:

· TCP (Transmission Control Protocol): Là giao thức truyền thông

định hướng kết nối, việc truyền trong mạng là tin cậy dựa trên các tính năng retransmission, flowcontrol và kiểm tra lỗi

· UDP (User Datagram Protocol): Tương tự như TCP nhưng UDP là

giao thức không có tính định hướng kết nối, việc truyền các dữ liệu trong mạng đơn giản hơn TCP, nhanh hơn nhưng lại không tin cậy do không có việc kiểm tra lỗi retransmission và flowcontrol

· IP (Internet Protocol): Dùng để forward gói tin đi đúng đích

Rất nhiều giao thức mạng hiện nay được xây dựng dựa trên giao thức TCP/IP như:

· SMTP (Simple Mail Transfer Protocol): Chuyên việc chuyển Email

· FTP (File Transfer Protocol): Chuyên việc gởi File

(upload/download) giữa các hosts

· SNMP (Simple Network Management Protocol): Dùng cho các

programs quản lý mạng để user có thể quản lý mạng từ xa

· File Transfer Protocol (FTP): Ðể upload/download files giữa các

hosts

· Telnet: Cho ta Terminal Emulation (giả làm một Terminal) để nói

chuyện với một Host chạy program Telnet Server

· Packet Internet Groper (Ping): Dùng để thử TCP/IP configurations và

connections

· IPCONFIG: Ðể kiểm cấu hình TCP/IP của local host

· NSLOOKUP: Dùng line command để đọc các records trong DNS

(Domain Name System) database

· TRACERT: hiển thị các route giữa hai hosts

Ðịa chỉ IP

Trang 3

Mỗi máy trên LAN/Internet phải có một địa chỉ IP duy nhất Một địa chỉ IP

gồm có 32 bit, chia làm 4 nhóm gọi là Octet (có 8 bits, tức là 1 Byte dữ

kiện) và đuợc viết dưới dạng, ví dụ:

11000000 01101010 00000011 11001000

Và được diễn giải dưới dạng decimal cho dễ nhớ: 192.100.3.200

Vì địa chỉ IP rất khó nhớ nên người ta quy ước dùng các tên dễ nhớ hơn như

www.yahoo.com, www.vps.org, v.v rồi ứng dụng Domain Name Server (DNS) đổi các tên này ra các địa chỉ IP và ngược lại

Mỗi địa chỉ IP được chia thành hai phần:

· Network ID (hay Network Address): Dùng để chuyển các gói tin đến

đúng Network (còn gọi là Subnet hay Segment)

· Host ID (hay Host Address):

Thí dụ như ba địa chỉ IP 192.168.104.1, 192.168.104.4, 192.168.104.7 có cùng Network ID 192.168.104

Một Subnet của các computers giống như một con đường của những căn nhà, mỗi căn nhà có một con số để phân biệt nhưng địa chỉ của tất cả các căn nhà đều có chung tên đường, ngoại ô, thành phố v.v

Các địa chỉ IP được chỉ định cho mỗi Host không thay đổi này được gọi là

Static Address Khi ta dial-up Internet để connect qua ISP (Internet Service Provider), computer của ta thường được ISP phát cho một địa chỉ

IP để dùng tạm trong thời gian máy ta connect trong lúc ấy Lần tới, ta

dial-up Internet sẽ đuợc ISP cấp cho một địa chỉ IP khác, một trong những địa chỉ IP mà ISP đã đuợc cơ quan đăng ký địa chỉ IP của thế giới cung cấp

Các lớp địa chỉ IP:

Để xác đinh phần nào là host, phần nào là network trong một đại chỉ IP người ta sử dụng subnetmask, các subnetmask bao gồm 32bit và cũng được chia làm 4 otec, phần host luôn có giá trị là 0 còn phần network luôn có giá trị là 1

Các lớp địa chỉ IP: được phân biệt từ octet đầu tiên của địa chỉ IP Bao gồm:

Lớp A:Được bắt đầu với các bit của octet đầu là:01xxxxxx (default netmask 255.0.0.0)

Lớp B:Được bắt đầu với các bit của octet đầu là:10xxxxxx(default netmask

Trang 4

255.255.0.0)

Lớp C:Được bắt đầu với các bit của octet đầu là:11xxxxxx(default netmask 255.255.255.0)

Ngoài ra còn có các lớp D và E dành cho các mục đích khác nhau, như địa chỉ lớp D dùng làm địa chỉ multicast

Private address:

Private address chỉ được dùng trong mạng LAN của bạn, để tránh nhầm lẫn khi ra ngoài Internet, các lớp địa chỉ này khi ra ngoài Internet sẽ được chuyển sang địa chỉ khác Các dãy địa chỉ riêng bao gồm:

Lớp A: toàn bộ dải địa chỉ 10.0.0.0

Lớp B: thuộc dải:172.16.0.0-172.31.255.255

Lớp C: toàn bộ dải địa chỉ 192.168.0.0

Chia subnet: Chia subnet có mục đích làm tăng số lượng mạng con trong

mạng của bạn, giả dụ với 1 địa chỉ 192.168.1.0 nếu bạn không chia subnet thì mạng của bạn chỉ gồm một lớp mạng với 254 host, nếu bạn muốn tăng số lượng mạng con lên bạn sẽ cần dùng đến kỹ thuật chia subnet.Chia subnet có nghĩa bạn sẽ mượn một số bit ở phần host "đặt" sang phần net

Giả sử bạn có địa chỉ 192.168.1.0 netmask 255.255.255.0, rõ ràng rằng bạn chỉ có một mạng, bây giờ giả sử bạn cần có 6 mạng con, khi đấy bạn sẽ cần

3 bit của phần host chuyển sang phần net(2^3=8, có hai lớp mạng con không đựoc dùng là lớp đầu 192.168.1.0 và lớp sau cùng là địa chỉ broadcast), như vậy netmask mới của bạn bây giờ sẽ là: 255.255.255.224, bạn lấy 256-224=32, như vậy các lớp mạng con của bạn sẽ là: 192.168.1.0,192.168.1.32,192.168.1.64, 192.168.1.96

Ngày đăng: 19/01/2014, 04:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w