Vì vậy, những yêu cầu vitamin và khóang chất trong chế độ ăn của một người với bệnh gan phải được đánh giá trên nền tảng của từng cá thể.. Một người với bệnh gan tiến triển không bao giờ
Trang 1Chế độ ăn - Dinh dưỡng - Tập luyện cho người bệnh gan
(Phần 5)
PHẦN 5: CÁC VITAMIN VÀ NHỮNG KHOÁNG CHẤT Gan là kho chứa chính của cơ thể cho việc dự trữ những chất dinh dưỡng Nó hấp thu và dự trữ rất nhiều vitamin và khoáng chất từ máu Nếu chế độ ăn của một người không cung cấp một số lượng thích hợp các chất dinh dưỡng này cho một ngày nhất định thì gan sẽ giải phóng ngay số lượng cần thiết của chúng vào trong máu Tuy nhiên, khả năng của gan có giới hạn
là không chuyển hoá các vitamin và các khoáng chất Bất kỳ số lượng dư thừa vitamin nào mà gan không thể chuyển hóa được nói chung sẽ được đào thải
ra khỏi cơ thể Chưa nói đến tại một vài khía cạnh, gan có thể trở nên bị nguy hiểm bởi xu hướng chuyển hoá quá mức thừa của những vitamin và những khoáng chất
Nếu một người ăn một chế độ cân bằng, tốt cho sức khỏe thì tất cả những vitamin và khoáng chất được yêu cầu cho nhu cầu cơ bản và hoạt động hàng ngày được cung cấp đầy đủ Mặc dù vậy, nhiều người cảm thấy rằng họ nên ăn bổ sung vitamin và khoáng chất để cho chắc chắn Trong khi điều này có thể tốt đối với một người khỏe mạnh hoàn tòan thì nó có thể nguy hiểm thật sự cho một vài người có bệnh gan Vì vậy, những lượng bổ sung quá nhiều vitamin và khoáng chất có thể có hại nhiều hơn là tốt đối với một cái gan đã tổn thương thật sự
Tuy nhiên, có những ngoại lệ đối với quy luật này: đầu tiên là không một ai ăn được chế độ ăn cân bằng, tốt cho sức khỏe Vì thế, một số người theo chế độ ăn chay nghiêm ngặt Ở những tình huống này, việc bổ sung vitamin và khoáng chất là cần thiết Những người với bệnh gan chắc chắn, đặc biệt những bệnh ứ mật như xơ gan tắc mật nguyên phát, hấp thu một số
Trang 2vitamin nghèo nàn Những người này cũng có thể yêu cầu sự bổ sung Những người với bệnh gan rượu cần sự bổ sung vitamin bởi vì những ảnh hưởng làm tiêu hao chất dinh dưỡng của rượu đối với cơ thể Mặt khác, một vài bệnh gan là do thừa một vitamin hay khoáng chất xác định Ví dụ bệnh hemochromatosis - bệnh gan thừa sắt Một vài bệnh gan có liên quan đến thiếu sắt do chảy máu đường ruột, ví dụ có thể xảy ra ở những người có dãn tĩnh mạch thực quản chảy máu do xơ gan mất bù Vì vậy, những yêu cầu vitamin và khóang chất trong chế độ ăn của một người với bệnh gan phải được đánh giá trên nền tảng của từng cá thể Tóm lại, phải cân nhắc khi bổ sung vitamin và khoáng chất.
A CÁC VITAMIN
Các vitamin là những chất hữu cơ từ những động vật và thực vật Chúng là thành phần cơ bản để phát triển, lớn lên và hoạt động của con người Các vitamin được biết như những chất dinh dưỡng vi lượng bởi vì cơ thể chỉ cần một số lượng nhỏ (so với protein hay nước làm ví dụ) để duy trì sức khoẻ Bình thường số lượng được yêu cầu cung cấp bằng một chế độ ăn đầy đủ
Cũng giống như thức ăn, và dược phẩm, các vitamin cũng phải đi qua gan để được chuyển hóa Nếu ăn vào quá nhiều, bất kỳ vitamin nào cũng có khả năng gây nên những vấn đề sức khoẻ nghiêm trọng Đấy là sự thật thậm chí đối với những người có chức năng gan bình thường Tuy nhiên, ở những người có bệnh gan thì khả năng gây tổn hại sẽ cao hơn nhiều Phụ thuộc vào mức độ trầm trọng của tổn thương gan mà người nào đó thậm chí có thể cần phải loại bỏ khỏi chế độ ăn của họ những thức ăn mà nó làm tăng mạnh những vitamin được xác định Chúng có thể bao gồm những thức ăn thông thường như một vài món ăn ngũ cốc buổi sáng
Mặt khác, một vài bệnh gan có khuynh hướng khiếm khuyết vitamin
và phải ăn bổ sung vitamin Nếu bác sĩ của bạn khuyên bổ sung một vitamin
Trang 3cụ thể thì chắc chắn là nó được uống cùng bữa ăn để được hấp thu vào trong
cơ thể thích đáng Hơn nữa những vitamin bổ sung nên được bảo quản ở chỗ mát mẻ và khô ráo, vì hiệu lực của chúng có thể bị giảm bởi ánh sáng mặt trời và ẩm ướt
Các vitamin có thể được phân loại dựa vào đặc điểm hoà tan của chúng – tan được trong mỡ và tan được trong nước Sự khác biệt này có hàm ý quan trọng cho những người bệnh gan và sẽ được nói đến ở những phần sau trên những loại vitamin khác nhau.
1/CÁC VITAMIN TAN TRONG MỠ
Các vitamin tan trong mỡ bao gồm vitamin A, D, E và K Chúng được hấp thu vào cơ thể chỉ với sự giúp đỡ của mỡ hay mật Những vitamin này được tích lũy ở trong những tế bào mỡ Ở những người bệnh gan ứ mật (có sự suy yếu hay hư hỏng dòng chảy của mật bên trong ống mật), chúng có thể làm hấp thu kém cho cơ thể Ở những trường hợp này, bổ sung vitamin là cần thiết Loại vitamin tốt nhất để dùng ở trường hợp này là một vitamin tan trong dầu nhưng có cấu tạo tan trong nước được Thường thì các vitamin của trẻ em tất cả đều tan được trong nước Khi nhỏ đường tiêu hoá còn non nớt, việc bổ sung được thiết kế đặc biệt để chúng có khả năng tiêu hoá dễ dàng nhất Mỗi một vitamin tan được trong mỡ sẽ được thảo luận chi tiết thêm ở dưới.
a)Vitamin A
Vitamin A cần để duy trì thị lực bình thường, đặc biệt là nhìn vào buổi tối, và chủ yếu cho hệ miễn dịch Nó cũng đóng vai trò sống còn trong việc xây dựng và duy trì sức khỏe cho da, xương, răng Vitamin A thuộc một nhóm hợp chất là retinoids (được tham khảo với các chất như retinol, retinoic acid, hay retinyl esters) Khoảng 80 đến 90% tổng số trong cơ thể được dự
Trang 4trữ dưới dạng retinoid được tìm thấy trong gan Gan có quyết định quan trọng là nơi nào vitamin A được cần nhất trong cơ thể
Đối với những người không mắc bệnh gan, 1000 mcg mỗi ngày (3333
IU mỗi ngày) cho đàn ông và 800 mcg (2667 IU/ ngày) đối với phụ nữ là khối lượng tối đa của vitamin A nên ăn vào Điều này có thể dễ dàng được chứa trong một chế độ ăn cân bằng Mặc dù vậy, xấp xỉ ¼ những người trưởng thành ở Mỹ ăn bổ sung những thứ có chứa vitamin A Đây là vitamin được thấy nhiều ở những thức ăn sau: gan, lòng đỏ trứng, sữa, những sản phẩm bơ khác, bơ thực vật, dầu gan, và dầu cá Một người với bệnh gan tiến triển không bao giờ nên bổ sung vitamin A và không nên ăn số lượng quá nhiều những thức ăn được nên ở trên
Những cấu tạo thực vật của vitamin A được biết như các carotenoid (cũng được gọi là carotene) Carotene được coi như là một tiền vitamin A, bởi
vì cơ thể phải chuyển chất này thành vitamin A trước khi nó có thể được cơ thể sử dụng như một vitamin A hoạt động Hầu hết các carotenoid thông thường được tìm thấy trong thức ăn là beta-carotenoid Những thức ăn có nhiều beta-carotenoid gồm dưa đỏ, cà rốt, khoai tây ngọt, và rau xanh
Ăn quá nhiều vitamin A (liều xấp xỉ 25.000 đến 50.000 IU mỗi ngày) là rất nguy hiểm cho gan vì nó có thể gây nên bệnh gan do thừa vitamin A Trong thực tế, tình trạng này có thể dẫn đến xơ gan Thừa vitamin A có thể là kết quả của việc bổ sung vitamin quá nhiều hay những thói quen ăn uống khác thường Những người với bệnh gan nên tránh ăn gan vì nó chứa một lượng lớn vitamin A, hơn hẳn bất kỳ cơ quan nội tạng nào khác Thật thú vị, hàng trăm năm trước, các bác sĩ tin rằng một vài những rối loạn về mắt có thể chữa bằng cách áp dụng một miếng gan để trực tiếp lên mắt bệnh nhân, bởi vì việc chứa vitamin A cao của nó Các thuốc như Accutance (isoretinoin)
và Retin-A (tretinoin), cả hai được điều trị trong mụn trứng cá (acne), chúng
có nguồn gốc từ vitamin A Vì thế không nên dùng cho những người bệnh gan
Trang 5tiến triển Thuốc ngừa thai uống có thể tăng việc hấp thu vitamin A, do đó dẫn đến những giới hạn cao nguy hiểm
Khả năng của vitamin A gây nên ngộ độc gan có thể tăng bởi việc uống rượu hay dùng quá nhiều những vitamin tan trong dầu khác (như vitamin E) hay việc thiếu vitamin C Ngộ độc vitamin A có thể biểu hiện chỉ một vài giờ sau khi một người dùng một liều quá lớn Tuy nhiên, quá liều vitamin A có thể cũng diễn tiến chậm ở người dùng lượng trung bình vitamin A qua một thời gian dài Triệu chứng của quá liều vitamin A có thể bao gồm buồn nôn, nôn, rối loạn phương hướng về thị giác, đau đầu, và đau xương khớp Gan có thể lớn lên và tổn thương để lại sẹo, thậm chí dẫn đến xơ gan Tăng áp lực tĩnh mạch cửa đi cùng với vàng da và trướng bụng có thể xảy ra Ngộ độc vitamin A thì thường nhưng không phải luôn luôn, sẽ đảo ngược với sự dừng dùng vitamin A
Cuối cùng là những người bệnh gan được khuyên giảm dùng vitamin này Ngoại lệ cho quy định này áp dụng chỉ đối với những người ở giai đoạn tiến triển của ứ mật, những người bị quáng gà Một thí dụ: một người ở giai đoạn 4 của xơ gan tắc mật nguyên phát (PBC) mà người này cũng đang uống cholestyramine, một thuốc dùng để điều trị ngứa mà là suy giảm hơn nữa việc hấp thu vitamin A Người ta đã nhận thấy rằng khoảng 20% những người PBC có thiếu vitamin A Hầu hết những người này biểu hiện những triệu chứng không rõ ràng của thiếu vitamin A Vì vậy, những người mắc PBC nên được kiểm tra mức vitamin A của họ Thậm chí đã được tìm thấy là thiếu, thì chỉ những người bị quáng gà mới nên được nhận sự bổ sung vitamin A Khi
bổ sung vitamin A thì quan trọng là cho thêm kẽm để đạt được tối đa việc hấp thu vitamin A Cấu tạo tan nước của vitamin A- Aquasol- một viên dạng nang dùng mỗi ngày (50.000 IU) thì được hấp thu tốt nhất
Không giống như những retinoid, các carotenoid không độc đối với gan
và không gây nên thừa vitamin A Tuy nhiên, beta-carotene có thể gây da có
Trang 6màu vàng cam, gây nên triệu chứng sai lầm của cả vàng da và cả tổn hại suy gan Ngoài ra, quá thừa beta- carotene có thể đẩy một người bệnh gan thêm nguy cơ mất xương và loãng xương
Vitamin A được tìm thấy ở gan động vật và những trái cây cam và xanh, và nhưng rau như măng tây, bông cải xanh, cà rốt, và dưa đỏ Nguồn gốc từ động vật chứa vitamin A có khuynh hướng chứa hàm lượng vitamin này nhiều hơn (6 lần) so với nguồn gốc từ thực vật Vì thế, người ta khuyên những người mắc bệnh gan tránh dầu gan cá moruy và gan động vật Rau thì
có thể ăn tự do Tuy nhiên, thực hiện dùng sinh tố hàng ngày với lượng lớn trái cây và/ hay rau nên tránh ở những người mắc bệnh gan nặng
Nó có thể là ý kiến hay đối với tất cả những người mắc bệnh gan mạn tính là
bổ sung những chế độ ăn của họ với calcium và vitamin D
Trang 7Những thức ăn chứa dồi dào lượng vitamin D bao gồm sữa (nó được bổ sung vitamin D), cá ở xứ lạnh, dầu cá, dầu gan cá moruy, và lòng đỏ trứng Chế độ ăn mỗi ngày được chính phủ Mỹ đề nghị về vitamin D là 5mcg (200IU) Những người có bệnh gan được xem là khuyếm khuyết vitamin D nên được ăn bổ sung khoảng 400 và 800 IU mỗi ngày Hãy nhớ là việc bổ sung quá nhiều vitamin D có thể dẫn đến việc lắng đọng nguy hiểm calcium ở thận, tim và những mạch máu Sự cần thiết bổ sung vitamin D nên được quyết định dựa trên nhu cầu cơ bản của từng bệnh nhân bằng cách theo dõi mức độ 25- hydroxy vitamin D trong máu và mức độ calcium trong máu và trong nước tiểu Cấu trúc tan trong nước của vitamin D – vitamin D2 (ergocalciferol) – nên được dùng khi có thể
c)Vitamin E
Vitamin E được biết như tocopherol, hoạt động như một chất chống oxy hóa trong cơ thể Nó bảo vệ tế bào hồng cầu và những cơ quan trong cơ thể chống lại tổn thương Một vài nghiên cứu cho thấy rằng việc bổ sung vitamin E có thể bảo vệ gan khỏi gốc cơ bản – chất làm tổn hại trung gian được sinh ra từ việc dùng rượu quá nhiều Vì vậy, những người uống rượu thường xuyên, và đặc biệt những người bị bệnh gan do rượu, có thể có lợi từ việc bổ sung vitamin E Do vitamin E yêu cầu có mật để hấp thu, nên những người bị tắc mật có thể bị thiếu Thiếu vitamin E thì nhìn thấy thường xuyên nhất ở những người mà bilirubin đã tăng trên 3 mg/dl và alkaline phosphatase (AP) trên 1.000 IU/l Vì vậy, những người ứ mật (như những người xơ gan tắc mật nguyên phát) hay những người xơ gan mất bù (bởi bất
kỳ bệnh gan nào) có thể có lợi từ việc bổ sung vitamin E Một sự thiếu vitamin E có thể dẫn đến sự miễn dịch bị tổn thương, cảm giác mất thăng bằng, và thiếu sự hoạt động đồng bộ Trên thực tế, sự thiếu vitamin E có thể gây nên những rối loạn thần kinh sau ghép gan Ở những trường hợp nặng, việc thiếu vitamin E kéo dài, mù có thể xảy ra
Trang 8Chế độ hỗ trợ hàng ngày được đề nghị bởi chính phủ Mỹ về vitamin E thường nhất là 100 IU mỗi ngày (mặc dù nó được trong khoảng từ 30 đến 400
IU mỗi ngày) Số lượng vitamin E này có thể dễ dàng được chứa trong một chế độ ăn cân đối Những thực phẩm chứa nhiều vitamin E là dầu thực vật, các loại ngũ cốc, xanh nhiều lá sẫm màu, quả hạch và họ đậu Những thức ăn này được xếp trong nhóm những acid béo dạng chuỗi không bão hòa Hầu hết những bổ sung vitamin E chỉ chứa alpha- tocopherol, là một cấu trúc có hiệu lực nhất của vitamin E Để sự có lợi từ bổ sung vitamin E, nó nên chứa tất cả alpha- và gamma- tocopherol và được dùng với kẽm Nếu có thể, nên cố gắng
có được ester tan trong nước của vitamin E (d- alpha- tocopheryl- polyethylene glycol succinate [TPGS]) Vitamin E được hấp thu tốt nhất khi ở cấu tạo này, cấu tạo này quan trọng đặc biệt nếu ứ mật tồn tại
Một vài nhà nghiên cứu tin rằng điều trị bằng vitamin E có thể là một
hỗ trợ có lợi cho điều trị viêm gan virus Trong một vài nghiên cứu được thực hiện ở những bệnh nhân mắc viêm gan virus C mạn, tỉ lệ đáp ứng được cải thiện bởi việc thêm vào vitamin E trong việc điều trị bằng interferon và ribavirin Do đó, đã có đề nghị là vitamin E có thể làm chậm sự tiến triển của bệnh gan; trì hoãn đợt cấp và giảm mức độ của bệnh, giảm tác dụng phụ khi dùng ribavirin : thiếu máu ở một vài bệnh nhân; giúp làm dịu tình trạng vọp
bẻ cẳng chân; giảm tình trạng mất trí nhớ; và gia tăng khả năng tình dục ở nam giới – là những thuận lợi có liên quan đặc biệt đến vitamin E trong điều trị với interferon và ribavirin Trong những nghiên cứu sắp tới cần xác định hiệu quả của vitamin E như là một hỗ trợ điều trị bệnh gan Có thể là một ý kiến hay cho việc bổ sung vitamin E ở liều từ 400 đến 800 IU mỗi ngày Hãy nhớ rằng những thuận lợi có tiềm năng được đề cập ở trên của vitamin E chưa được xác nhận ở những bệnh nhân viêm gan virus C và vì vậy nên cân nhắc
Trang 9Bổ sung vitamin E có thể gây nên chảy máu kéo dài và bầm tím nếu dùng cùng với thuốc chống đông (pha loãng máu) như Coumadin hay Plavix hay nếu dùng chung với thảo mộc như tỏi hay cây bạch quả (ginkgo) Những người bị xơ gan mất bù nên tránh dùng bổ sung vitamin E, đặc biệt nếu họ đã từng chảy máu do giãn tĩnh mạch hay họ có thiếu vitamin K đã được biểu hiện rõ bằng thời gian prothombin kéo dài Cuối cùng, việc bổ sung vitamin E không nên tiếp tục trong khoảng một tháng trước bất kỳ phẫu thuật nào hay bất kỳ một thủ thuật xâm lấn (như sinh thiết gan).
d)Vitamin K
Vitamin K được dùng bởi gan để sản xuất protein prothrombin Prothrombin, như đã được thảo luận, có vai trò chủ yếu cho việc cầm máu Không có vitamin K, con người sẽ chảy máu như bị cắt Vitamin K cũng giúp giữ cho xương cứng chắc Vitamin K đóng một vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi glucose thành glycogen Glycogen sau đó được dự trữ ở gan, tạo nên năng lượng dữ trữ Một nửa vitamin K trong cơ thể được tạo bởi vi khuẩn cộng sinh sống tự nhiên trong đường ruột Phần còn lại được lấy từ nguồn thức ăn Việc lạm dụng thuốc nhuận trường, như dầu khoáng chất, hay dùng những kháng sinh trong thời gian dài có thể gây nên sự tan máu do vitamin K
Khi sự thiếu vitamin K là do hấp thu kém, thì sự khiếm khuyết này có thể được giải quyết bằng vitamin K tan trong nước dùng bằng đường uống, được biết như Synkayvite (5 đến 10 mg mỗi ngày), cho đến khi yếu tố gây nên việc hấp thu kém được được loại bỏ Những người mắc bệnh gan ứ mật có xu hướng thiếu vitamin K mà không thể giải quyết bằng bổ sung đường uống Trong điều kiện mà chảy máu là nguy cơ tiềm năng (như những người có yêu cầu phẫu thuật), tiêm truyền tĩnh mạch huyết thanh tươi đông lạnh được cho những bệnh nhân này để giải quyết tạm thời vấn đề này Ở những người có
Trang 10tắc nghẽn ở đường mật ngoài gan, việc thiếu có thể được giải quyết bằng tiêm vitamin K
Những thực phẩm chứa dồi dào vitamin K gồm spinach và những rau nhiều lá xanh, cà rốt, khoai tây, món ăn làm từ ngũ cốc, và gan Không có một bổ sung hàng ngày được yêu cầu đối với vitamin K
2/NHỮNG VITAMIN TAN TRONG NƯỚC
Những vitamin tan trong nước bao gồm vitamin C và các vitamin B Phức hợp vitamin B gồm 8 vitamin B khác nhau Không cần mỡ hay mật để hấp thu các vitamin tan trong nước từ đường tiêu hóa, và vì thế sự thiếu những vitamin này không thường xảy ra ở những người mắc bệnh gan ứ mật Những vitamin tan trong nước được dự trữ trong cơ thể hay được dùng để đáp ứng những yêu cầu hàng ngày Lưu giữ những vitamin này có thể kéo dài nhiều tháng Vì thế, những người bệnh gan hiếm khi có thiếu một vitamin tan trong nước Một ngoại lệ cho quy luật này: những người mắc bệnh gan do rượu Ở nhóm này thường yêu cầu việc bổ sung vitamin tan trong nước bởi vì thiếu dinh dưỡng xảy ra bởi rượu trong cơ thể Hiếm khi bị ngộ độc bởi những vitamin tan trong nước, vì những liều quá nhiều những vitamin này có thể dễ dàng thải ra khỏi cơ thể qua mồ hôi hay nước tiểu
a)Vitamin C
Vitamin C được biết như axit ascorbic là một chất chống oxy hóa Vitamin này hỗ trợ cho việc lành vết thương bị cắt và bầm tím và cũng giúp cứng chắc xương, sụn, răng và da Thêm vào đó, vitamin C làm tăng việc hấp thu sắt Vì vậy, những người có bệnh thừa sắt như hemochromatosis, và những bệnh nhân viêm gan virus C mạn có gia tăng lượng sắt phải cẩn thận không được dùng quá nhiều vitamin này Tuy nhiên, do vitamin này giúp trong quá trình sản xuất interferon – một protein của hệ miễn dịch được tạo bởi cơ thể, cho nên việc bổ sung vitamin này có thể có lợi trong việc điều trị
Trang 11những bệnh nhân viêm gan virus C và B Do đó, một vài chuyên gia cảm thấy rằng vitamin C có thể làm chậm đợt bùng phát của bệnh và giảm mức độ của việc thiếu máu liên quan đến ribavirin ở một vài bệnh nhân viêm gan virus C được điều trị bằng interferon và ribavirin Những thuận lợi cũng như không thuận lợi được nhấn mạnh là cần thảo luận, bổ sung với một chuyên gia am tường
Hầu hết những trái cây tươi và rau chứa hàm lượng phong phú vitamin C Người ta có thể thấy rằng việc nấu phá huỷ vitamin C bên trong thực phẩm Hàm lượng vitamin C được đề nghị là khoảng 60 đến 72 mg mỗi ngày Hàm lượng này dễ dàng chứa trong một chế độ ăn khỏe mạnh Một người bệnh gan, người không dùng một chế độ ăn khỏe mạnh như những người mắc bệnh gan do rượu với nhữnng calori đầu tiên của những người này có được từ chế độ ăn là từ rượu, thì cần được ăn bổ sung vitamin C Ngoài ra, những người bệnh gan mà dùng thuốc ngừa thai uống, dùng thuốc giảm đau nào đó, hay hút thuốc lá có thể giảm mức vitamin C trong cơ thể và được yêu cầu bổ sung Đối với tất cả những người mắc bệnh gan khác, việc bổ sung vitamin C nói chung không cần thiết trừ khi được đề nghị trong những tình huống đặc biệt khi được xác định bởi bác sĩ của họ
Vitamin C bổ sung nên được dùng ở dạng ester hoá (Ester C) cho việc hấp thu và hiệu quả tối đa Vitamin C nhai có thể gây nên nguy hại cho răng
và nên tránh Đấy là điều quan trọng đặc biệt đối với những người mắc bệnh gan liên quan đến miệng khô (như PBC) và những người đang điều trị viêm gan bằng interferon- những người cũng có xu thế bị những lỗ hổng răng miệng
b)Phức hợp vitamin B
Các vitamin B gồm có 8 vitamin khác nhau: thiamine (vitamin B1), riboflavin (vitamin B2), niacin (vitamin B3), pantothenic (vitamin B5), pyridoxine (vitamin B6), cyanocobalamin (vitamin B12), folate, và biotin Tất
Trang 12cả chúng, ngoại trừ việc quá liều niacin, là an toàn đối với người bệnh gan Sau đây là một thảo luận về mỗi vitamin
**Thiamine (vitamin B1) cần thiết cho việc chuyển hoá các carbohydrate thành năng lượng và được sử dụng trong não và hệ thần kinh
Nó cũng hỗ trợ ngon miệng và tiêu hóa Những triệu chứng của thiếu thiamin bao gồm mất cảm giác ngon miệng, nhầm lẫn, mất cân bằng Vitamin này thường thiếu ở những người mắc bệnh gan Dùng caffeine quá nhiều có thể giảm lượng thiamine trong cơ thể Khi những dấu hiệu thần kinh của thiếu thiamin xảy ra ở những người mắc bệnh gan do rượu, thì nhập viện và bổ sung thiamine tĩnh mạch ngay lập tức được yêu cầu
Thiamin có thể tìm thấy ở các loại ngũ cốc hay những món ăn từ ngũ cốc, bánh mì, gạo nâu, thịt lợn, gan, và đậu nành Khoảng 5 mg là hàm lượng tối đa thiamine có thể được hấp thu mỗi ngày từ việc bổ sung Một vài “viên thuốc chữa căng thẳng” (stress tablets) mà mục đích nhằm tăng năng lượng chứa hơn 5 mg thiamine Việc thừa vitamin này được thải ra khỏi cơ thể rất đơn giản
**Riboflavin (vitamin B2) quan trọng cho việc sản xuất năng lượng Nó giúp đẩy mạnh sự tăng trưởng và sửa chữa những cơ quan và mô, đặc biệt là
da, màng nhầy, mắt, và thần kinh Cũng có vai trò trong việc tiêu hóa tốt Nó cho thấy hiệu quả trong việc ngăn ngừa đợt cấp của đau đầu migrain Việc thiếu có thể dẫn đến nứt và đau nhiều ở khóe miệng và những vấn đề về thị lực Việc dùng thuốc ngừa thai bằng đường uống và những bài tập thể dục quá sức thỉnh thoảng dẫn đến việc thiếu riboflavin Riboflavin có thể tìm thấy
ở ngũ cốc còn nguyên vỏ và cả ở những sản phẩm ngũ cốc tinh chế, cũng như
ở gan, sữa và những rau nhiều lá xanh Nếu quá nhiều riboflavin được ăn vào, thì nước tiểu sẽ trở nên màu vàng sáng, nhưng điều này không quan trọng