Không những thế, bài thơ còn nhấn mạnh yếu tố thởi gian, sự bâng khuâng xao xuyến mà nhà thơ cảm thức được khi nhìn thấy sự trôi qua nhanh chóng của thời gian, của đời người: “Xuân đương[r]
Trang 3Mục Lục
Lời mở đầâu 3
A.Cuộc đời và sự nghiệp 4
1 Vài nét về tiểu sử và con người 4
2 Sự nghiệp văn học 4
B Nỗi ám ảnh về thời gian trong thơ Xuân Diệu 11
I Thời gian là gì? Thời gian trong nghệ thuật là gì? 11
II Quan niệm về thời gian trong thơ Xuân Diệu 12
III Nguyên nhân nỗi ám ảnh thời gian 16
IV Biểu hiện của nỗi ám ảnh thời gian trong nội dung thơ Xuân Diệu 17
1 Biểu hiện nỗi ám ảnh thời gian trong nội dung thơ Xuân Diệu 17
a) Thời gian được tác giả cảm nhận vui 17
b) Th i gian được tác giả cảm nhận buồn ờ 20
c) Thời gian đượct ác gỉa cảm nhận lưu luyến, bâng khuâng 21
d) Thời gian được tác giả cảm nhận moat cách nhớ tiếc 23
e) Thời gian được tác gỉa cảm nhận moat cách mạnh mẽ 25
f) Thời gian được tác giả cảm nhận moat cách giục giã, vội vàng 26
2 Biểu hiện của nổi ám ảnh thờig ian trong nghệ thuật thơ Xuân Diệu 28
a) Hình tượng mang tính biểu trưng 28
b) Kết cấu trong thơ 32
c) Thể thơ 33
d) Ngôn ngữ thơ 36
V Ý nghĩa của nỗi ám ảnh thời gian đối với Xuân Diệu 38
VI Sự khác biệt về quan niệm thời gian của Xuân Diệu so với các nhà thơ 38
C Đánh giá chung 40
Trang 4D Bài tham khảo 41 Các nguồn tham khảo 48 Nhận xét của giáo viên 49
Trang 5Tố Hữu, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Hàn Mạc Tử,… Riêng về mảng thi ca, cây bút nổi tiếng trong thi đàn Việt Nam (đặc biệt là Thơ Mới) với nhiều tác phẩm xuất sắc chính là Xuân Diệu- người được mệnh
danh là “nhà Thơ Mới nhất trong những nhà Thơ Mới” hay “ông
hoàng thơ tình”.Thơ của ông mang những nét riêng, không thể lẫn
với bất kì nhà thơ nào chính bởi phong cách độc đáo, đậm chất phương Tây.Thơ Xuân Diệu luôn chất chứa niềm yêu đời thiết tha, nhưng cũng đượm chút buồn, tiếc nuối vì quy luật hữu hạn của vạn vật trên đời Đến với chuyên đề về người thi sĩ lãng mạn này, chúng tôi xin phép được trình bày về một nét đặc trưng của thơ ông:
“NỖI ÁM ẢNH VỀ THỜI GIAN TRONG THƠ XUÂN DIỆU”.
Trang 6A)- CUỘC ĐỜI – SỰ NGHIỆP
1 Vài nét về tiểu sử và con người :
Xuân Diệu tên thật là Ngô Xuân Diệu; sinh ngày 02/02/1916 tại Tùng Giản, TuyPhước, Bình Định Quê quán: Đại Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh Xuân Diệu học tiểu học ở QuyNhơn, sau đó ra học trung học ở Hà Nội và Huế
Năm 1940, ông thi đỗ Tham tá thương chính và vào làm việc tại Mĩ Tho Một thờigian sau ông xin thôi việc ra Hà Nội kết bạn thơ với Huy Cận
Xuân Diệu tham gia cách mạng từ năm 1944 Sau Cách mạng tháng Tám, ông là Ủy viên
Ban chấp hành Hội Văn hóa cứu quốc, thư kí tòa soạn Tạp chí Tiên phong Ông là đại
biểu Quốc hội khóa I; năm 1948 là Uûy viên Ban chấp hành Hội Văn nghệ Việt Nam Từ
1957 cho đến khi qua đời, Xuân Diệu luôn được bầu vào Ban chấp hành Hội nhà vănViệt Nam Ông được kết nạp vào Đảng năm 1949 Năm 1983, ông được công nhận làViện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật nước Cộng hòa dân chủ Đức Năm 1985,Xuân Diệu lâm trọng bệnh và qua đời
2 Sự nghiệp văn học :
Di sản văn học đồ sộ với nhiều thể loại:
- Trước Cách mạng tháng Tám:
Trước Cách mạng tháng Tám, ông là nhà thơ được xem là "mới nhất trong các nhà
Thơ Mới” (Hoài Thanh), là “người mang đến cho Thơ Mới nhiều cái mới nhất” (Vũ
Ngọc Phan), ở thời kì này ông viết cả thơ lẫn văn xuôi Trong đó đáng chú ý là: Thơ Thơ (1938), Gửi hương cho gió (1945), Phấn thông ràng (1939), Trường ca (1945) Thơ ông
giai đoạn này mang đến một cách nhìn mới, một bút pháp mới, một cảm xúc mới và baotrùm là một thứ Thơ Mới thực sự mới.Những cách tân của Xuân Diệu và phong trào ThơMới đã góp phần đổi mới thơ ca Việt Nam, thực sự đưa thơ ca Việt Nam chuyển sangphạm trù hiện đại Xuân Diệu cũng là nhà thơ tình yêu với những cung bậc nồng nàn vàtha thiết
- Sau Cách mạng tháng Tám:
Sau Cách mạng tháng Tám, năng lực sáng tạo của Xuân Diệu không chỉ thể hiện ởthơ ca mà còn được bộc lộ ở nhiều thể loại văn học khác như bút kí, tiểu luận phê bình
ở thời kì này ông có nhiều tập thơ tiêu biểu như Riêng chung (1960), Mũi Cà Mau - cầm
tay (1962), Một khối hồng (1964), Tôi giàu đôi mắt (1970), Thanh ca (1982) Cũng như
thơ ca ta trong giai đoạn này, thơ Xuân Diệu ca ngợi nhân dân đất nước, ca ngợi Đảng,Bác Hồ Ông viết nhiều về xây dựng chủ nghĩa xã hội, về đấu tranh thống nhất nước nhàv.v Nếu ngày xưa thơ ông bộc lộ lòng ham sống một cách thiết tha, một tình yêu rạorực, thì ở giai đoạn này thơ ông vẫn là “sự sống chẳng bao giờ chán nản” của một hồn thơgắn bó với nhân dân, đất nước
Xuân Diệu cũng là người để lại nhiều công trình nghiên cứu và phê bình văn học
có giá trị Ông viết về hầu hết các nhà thơ cổ điển Việt Nam với những tiểu luận văn họcđặc sắc Ông viết về Nguyễn Trãi Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Hồ Xuân Hương, NguyễnĐình Chiểu, Tú Xương, Tản Đà, Trần Tuấn Khải Viết về ai ông cũng có cái nhìn mới,khám phá ra nhiều cái hay mà người trước chưa đề cập đến Ông cũng viết nhiều về côngviệc làm thơ, về thơ của các nhà thơ trẻ, về những hiểu biết của ông về ca dao, dân ca
+ Thơ : Ngọn quốc kì (1945), Hội nghị non sông (1946), Dưới vàng
sao (1949), Sáng (1953), Mẹ con (1954), Ngôi sao (1955), Riêng chung (1960), Mũi
Trang 7Cà Mau- Cầm tay ( 1962), Khối hồng(1964), Hai đợt sóng (1967), Tôi giàu đôi mắt (1970), Hồn tôi đôi cánh (1976), Thanh ca (1982).
+ Văn xuôi, tiểu luận, phê bình : Tiếng thơ (1951), Những bước đường tư
tưởng (1958), Ba thi hào dân tộc (1959), Phê bình giới thiệu thơ (1960), Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ (1961), Dao có mài mới sắc (1963), Thi hào dân tộc Nguyễn
Du (1966), Đi trên đường lớn (1968), Và cây dời mãi mãi xanh tươi (1971), Mài sắt nên kim (1977), Lượng thông tin và những kĩ sư tâm hồn ấy (1978), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam ( hai tập; 1981& 1982).
+ Dịch và giới thiệu thơ nước ngoài của các nhà thơ như : Targo, Puskin,
đó, Xuân Diệu được tất cả độc giả trong nước yêu mến, ngưỡng mộ không chỉ ở thơ, mà
còn ở tấm lòng say sưa và chân thành của ông trước cuộc đời
a) Xuân Diệu và thơ
Xem xét hiệu ứng của thơ trong đời sống, những ấn tượng Xuân Diệu để lại tronglòng người không ai có thể bì kịp
Thay cho công thức “gương mặt tiêu biểu” đã mòn tôi muốn nói Xuân Diệu là hiện thân
của Thơ Mới Nếu bây giờ chỉ cần gọi tên một nhà thơ trong Thơ Mới thôi thì gần như tất
cả sẽ gọi Xuân Diệu
* Xuân Diệu và Thơ Mới
Xuân Diệu thường nói ông mang trong mình quê hương thống nhất “Cha đàng
ngoài má ở đàng trong” - cái lý của ông thật cụ thể.
Mượn cách nói ấy khi xem xét sang lĩnh vực thơ tôi cũng muốn nói rằng ông mangtrong mình nền thơ Việt Nam thế kỷ XX
Nửa đầu thế kỷ thơ Việt có chuyển đổi về mặt cơ cấu từ mô hình kiểu trung đạichuyển sang một mô hình hiện đại Khi thơ như một cơ cấu đã ổn định từ sau 1945 cáiđịnh hướng rõ nhất là chuyển đổi chức năng để phục vụ xã hội Trong cả hai cuộc vậnđộng người ta đều thấy Xuân Diệu là một trong những tên tuổi được nhắc nhở nhiều nhất
Trong phạm vi Thơ Mới ông không có những bài thơ coi là mở đầu như PhanKhôi Ông không có vai trò người khai phá đầy tài năng như Thế Lữ, không có những tácphẩm chín như Huy Cận Song nói đến thời đại này là phải nói đến ông Qua ông thấy cả
sự vận động của Thơ Mới
Tuy cùng nằm trong khuôn khổ hiện đại hóa văn học song những gì diễn ra trongthơ tiền chiến khác hẳn trong văn xuôi Với văn xuôi các nhà văn của ta bằng lòng làm
Trang 8người học trò nhỏ của văn học Pháp Thơ thì khác Ban đầu người ta không chịu Theo
Phạm Quỳnh kể có những ông đồ tự hỏi: “Bên Tây cũng có thơ à?”
Quan niệm như vậy cho nên trong thực tế đồ thị vận động cũng khác nhau Ở văn xuôimọi chuyện từ từ không có đột biến Thơ cũ sau một hồi chống chọi như là xảy ra tình
trạng “vỡ trận” Kết quả là có Thơ Mới náo động một thời.
Có thể tìm thấy bóng dáng cuộc vận động này trong bước đi của Xuân Diệu Ôngđến trong tư thế khẳng định Ban đầu Thơ Mới làm cho người ta ngỡ ngàng? Thì XuânDiệu làm cho chúng ta ngỡ ngàng Rồi cuối cùng chúng ta thấy Thơ Mới gần với ta? ThìXuân Diệu đã được cả một thời say đắm
Xuân Diệu là tất cả cái hay cái dở của Thơ Mới Là sự cởi mở và tham vọng củacon người đương thời Là hào hứng đi ra với thế giới Nhưng cũng là nông nổi cạn cợt lànhanh chóng chán chường và bế tắc
Nếu cần nói gọn một câu về vai trò của Xuân Diệu trong Thơ Mới thì nên nói gì?Hoài Thanh là người đầu tiên cho rằng “Xuân Diệu mới nhất trong các nhà ThơMới” Ở Sài Gòn năm 1967 trong tập Bản lược đồ của văn học Việt Nam (Ba thế hệ củanền văn học mới) Thanh Lãng cũng viết một câu tương tự Cho đến nay công thức đó vẫnđược nhiều người nhắc lại
Giữa các phong cách của Thơ Mới Xuân Diệu là một cái gì vừa phải hợp lý ôngvốn có cái dễ dàng để đến với đám đông trong văn chương cũng như trong cuộc đời Thế
Lữ hơi cổ Trong thơ Thế Lữ người ta vẫn cảm thấy một cái gì hơi già hơi cũ mắt nhìn vềcái mới chứ chân chưa đặt tới cái miền mới mẻ đó Mong muốn kéo nhà thơ này đi tớinhưng con người ông không theo kịp Lưu Trọng Lư cũng vậy mà lại ngả sang mơ mộng
xa xôi Huy Cận chậm rãi khoan thai đậm chất văn hóa và Huy Cận như già trước tuổinữa Về độ chín của thơ Xuân Diệu không bằng Huy Cận Song sự trẻ trung làm choXuân Diệu có sự hấp dẫn hơn phổ biến hơn nhiều Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên ănnhiều ở sự hướng thượng suy tư độc đáo Các ông có cái gì đó mà người bình thường khóvới tới Họ nhìn theo các ông mà ngại
Xét về ảnh hưởng với các thế hệ sau vai trò của Xuân Diệu cũng rất lớn Như ở thế
hệ những người sinh khoảng 40 của thế kỷ trước, những Bằng Việt, Xuân Quỳnh, LưuQuang Vũ, Phạm Tiến Duật Nếu đặt ra một hàng những Xuân Diệu, Huy Cận, Chế LanViên, Hàn Mặc Tử thì trong sự khác nhau rất rõ họ vẫn gần với Xuân Diệu hơn cả sốngười nằm cùng một trục dọc với Xuân Diệu khá đông đảo Xuân Diệu như hoa hồngtrong một vườn hoa loại nào cũng đẹp Như một thứ cơm tẻ vừa với mọi người Đi đếnmột tổng hợp khái quát nhất Hoài Thanh ở cuối bài tổng luận về Thơ Mới bảo Xuân Diệu
là “nhà thơ đại biểu đầy đủ nhất cho thời đại”.
* Hồn thơ của một con người Âu hóa và mang những mỹ cảm hiện đại
Xuân Diệu trước hết đại biểu cho những con người tiếp xúc với văn hóa phươngTây ngay từ nhà trường làm nên một thứ nhân tố mới hình thành trong xã hội Nhiềungười đã nói về điều này mấy ghi nhận dưới đây chỉ là một khía cạnh nhỏ
Ông là con người của ham muốn say đắm muốn sống hết mình Chỉ cần đọc mộtcâu thơ:
Trang 9“Anh nhớ tiếng anh nhớ hình anh nhớ ảnh
Anh nhớ em anh nhớ lắm em ơi”
Người ta đã biết ngay nó không thể có ở nhà thơ cổ điển mà nó phải thuộc về mộtnhà thơ hiện đại
Mặc dù có những bài tuyệt bút song Xuân Diệu thường vẫn để lại ấn tượng có chỗsượng chưa chín chưa đều tay Ông là người rất có ý thức mà cũng là rất nhạy cảm khibênh vực cho cái dang dở So sánh ca dao Nam Trung bộ và ca dao miền Bắc ông nóirằng ca dao miền Bắc quá trau chuốt quá hoàn chỉnh trong khi ca dao Nam Trung bộ trầntrụi thô mộc nên dễ gần Có lần nhận xét về một bài thơ Xuân Diệu bảo khi người ta cảmđộng quá người ta có gì đó run rẩy lúng túng Trong những trường hợp này Xuân Diệu đãbiện hộ cho mình Chính ở cái vẻ vội vàng hấp tấp dở dang chưa thành này mà XuânDiệu gắn với con người đương thời
Nhưng không chỉ có thế Không chỉ có hồn nhiên tuổi trẻ mà càng về sau Xuân
Diệu càng tỏ ra sống hết với cái đã đầy của cuộc sống Bài Hy mã lạp sơn là một cách
ướm thử sự vượt lên cái thông thường tự làm khác mình đi và đẩy suy nghĩ của mình tớicùng tới cái tuyệt đối Nhưng một lần tới rồi thì ông biết ngay là không bao giờ nên trở
lại nữa Biết điều tội nghiệp run rẩy thiết tha Xuân Diệu là chính mình hơn trong Lời kỹ
nữ.
Sự khác nhau giữa Thơ cũ và Thơ Mới bắt đầu từ sự đổi khác của tâm lý con ngườicủa cách xúc động… và điều này đã được nhiều người như Lưu Trọng Lư Hoài Thanhdiễn tả sâu sắc Mối quan hệ giữa lý trí và cảm xúc là một vấn đề lớn của con người hiệnđại Hồi 1961 nhân tuyển thơ 15 năm sau Cách mạng Chế Lan viên nói như một câu buộtmiệng “Xuân Diệu cần hồn nhiên hơn và Tế Hanh phải bớt tự nhiên đi” Tôi đọc vàtưởng là về già Xuân Diệu mới vậy Sau đọc lại thấy cái cách sống và làm việc theo lý trínày có từ Xuân Diệu hồi Thơ Mới Xét trên toàn cục Xuân Diệu đã là một con người nhấtquán những năm cuối đời chỉ tô đậm những nét vốn có của ông lúc trẻ Và đó chính làdấu hiệu làm chứng cho sự có mặt của nền văn hóa mà ông tiếp nhận từ nhỏ
Nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn gần đây nói rằng con người ông có cả văn hóa ViệtNam lẫn văn hóa Mỹ Trong Xuân Diệu cái yếu tố Mỹ được thay bằng văn hóa Pháp Cốnhiên là cách kết hợp những yếu tố khác nhau ở người này không bao giờ giống như ởngười khác nhưng họ đều là hiện tượng đa văn hóa
* Thơ tám chữ thơ bảy chữ
Trên phương diện hình thức nghệ thuật thơ so với các nhà Thơ Mới khác XuânDiệu càng để lại ấn tượng riêng về một cái gì vừa miệng với số đông nghĩa là rất phổbiến
Sáng tạo của Thơ Mới trên phương diện thể thơ gồm hai phần: một là đưa thể támchữ lên mức hoàn chỉnh và thứ hai là có những cách tân mới đối với các thể cũ như thơbảy chữ thơ lục bát
Sở dĩ đọc Thế Lữ ta cảm thấy một cái gì cũ cũ bởi vì ngoài Nhớ rừng các bài támchữ khác của ông để lại ấn tượng nặng nề do sự xâm nhập của yếu tố văn xuôi Ở các bài
như Đi giữa đường thơm Nhạc sầu của Huy Cận, Nhớ con sông quê hương của Tế Hanh
Trang 10chúng ta thấy thơ tám chữ tự nhiên như một sản phẩm thuần Việt Mà cái đó đến sớm với
Xuân Diệu Những bài như Tương tư chiều, Vội vàng, Hoa đêm của ông cùng với Lời kỹ
nữ, Hy mã lạp sơn vừa nói ở trên là những sáng tác hoàn thiện.
Hoài Thanh rất tinh khi bảo thơ tám chữ của Xuân Diệu có nguồn gốc ở ca trù.Cảm giác gần gũi có được là do cái hồn thơ một cái gì thanh thoát mà lại hơi lẳng lơ tinhnghịch Mặt khác là hơi thơ biểu hiện ở độ dài Tính số câu của một bài thơ trong khi
Tiếng địch sông Ô của Huy Thông làm chúng ta ngợp thì các bài tám chữ của Xuân Diệu
và những bài vừa nhắc trên của Huy Cận Tế Hanh… cũng gần gũi hơn hẳn
Một đóng góp khác của Xuân Diệu trong thể thơ bảy chữ những bài gồm ba, bốnkhổ nó là một hơi thơ mạnh đi như một lát dao sắc Tản Đà không có bài thơ nào sử dựng
tứ tuyệt như vậy Trong số 47 bài của Mấy vần thơ của Thế Lữ chỉ thấy có một bài mang
tên Yêu là cũng gồm ba khổ như thế này Nhưng đây là một bài thơ rất ít người nhớ Còn với Xuân Diệu chúng ta thấy hàng loạt: Nguyệt cầm, Nụ cười xuân, Trăng, Huyền Diệu,
Gặp gỡ, Yêu, Tình trai, Đây mùa thu tới, Ý thu, Hẹn hò, Đơn sơ.
Tôi chợt nhớ tới thể sonnet của Pháp (Từ sonnet có nguồn gốc từ tiếng
Ý sonetto (từ một bài thơ Old Provençal với thể loại sonet có nguồn từ chữ bài hát son, từ gốc sonus nghĩa là âm thanh) Đến thế kỷ thứ mười ba sonnet được chuẩn hóa thành một
bài thơ mười bốn dòng với một luật gieo vần nghiêm ngặt và một cấu trúc nhất định.) vàmuốn giả thiết rằng ở những bài thơ nói trên Xuân Diệu đã kết hợp giữa thơ Pháp và thơdân tộc Ông Việt hóa sonnet từ nền văn hóa mà ông mới tiếp nhận và mang lại cho nómột âm hưởng phương Đông bằng cách lai tạo nó với thất ngôn tứ tuyệt Giờ đây loại thơgồm ba hay bốn khổ tứ tuyệt - 12 hoặc 16 câu bảy chữ - đã là một cấu trúc cổ điển Thơtình của Xuân Diệu sau 1945 thường trở lại với thể này
“Nguyện Hoa nở sớm
Tình yêu san sẻ Ngược dòng sông Đuống”
* Thơ của Xuân Diệu mang cái mới mẻ đến từ hội nhập
Nhớ lại khi Xuân Diệu mới xuất hiện Hoài Thanh thú nhận:
“Bây giờ khó mà nói được cái ngạc nhiên của làng thơ Việt Nam hồi Xuân Diệuđến Người đã tới giữa chúng ta với một y phục tối tân và chúng ta đã rụt rè không muốnlàm thân với con người có hình thức phương xa ấy Nhưng rồi ta cũng quen dần vì tathấy người cùng ta tình đồng hương vẫn nặng”
Cái tình đồng hương nói ở đây gồm hai yếu tố:
Một là những yếu tố thuần Việt Đã nhiều người nói tới cái phần thi liệu Việt ởXuân Diệu từ “Đã nghe rét mướt luồn trong gió Đã vắng người sang những chuyến đò”tới “Hoa bưởi thơm rồi đêm đã khuya” hoặc “Con cò trên ruộng cánh phân vân”
Hai là những yếu tố mượn từ đời sống và văn hóa Trung Hoa đã được Việt hóa.Cái yếu tố này vẫn thấy ở nhiều nhà văn tiền chiến từ những ông già thả thơ đánh thơ ở
Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân tới mấy người khách ở Phố Cẩm Giàng và Chú
khách bán mằn thắn của Thạch Lam
Trang 11Bấy lâu ta cứ ngỡ ở Xuân Diệu chỉ có Rimbaud với Verlaine hóa ra ta nhầm.Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ đọc lại báo Ngày nay 1938 còn dẫn ra cả một đoạn XuânDiệu ca ngợi mùa thu “mặc dầu ở bên tây vẫn có mùa thu thiên hạ vẫn cứ thấy mùa thu
là ở bên Tàu Mùa thu cũng đồng một quê quán với Tây Thi với nàng Tây Thi quá xanên quá đẹp”
Trong cả Thơ thơ lẫn Gửi hương cho gió cái chất Trung Hoa này xuất hiện ở nhiều
dạng Trong vốn từ ngữ Trong cái nhịp thơ tứ tuyệt nói ở trên Và trong thi liệu:
“Tôi yêu Bao Tự mặt sầu bi
Tôi yêu Ly Cơ hình mơ màng Tôi tưởng tôi là Đường Minh Hoàng Trong cung nhớ nàng Dương Quý Phi.”
Có cả một bài mang tên Mơ xưa nhắc lại những Gió liễu chiều còn nhớ kẻ dương
quan Yếu tố Trung Hoa cổ điển ở đây là một bộ phận của yếu tố Việt Nam Nước Việt
Nam trong thời gian Nước Việt Nam với cái vẻ quý tộc tinh thần Tất cả lại hiện diện
Xin nói tiếp về Nguyệt cầm Trăng ở đây được gọi là nguyệt đàn gọi là cầm Nguyệt và trăng đàn và cầm cùng tồn tại song song Cái hồn hiện đại nhập vào cảnh cũ Linh
lung ánh sáng bỗng rùng mình Nhưng trăng và đàn lại là những motip của thơ cổ
phương Đông Còn chữ linh lung với nghĩa ánh sáng chấp chới thì không biết có phải lấy
từ bài Ngọc giai oán của Lý Bạch (khước há thủy tinh liêm - linh lung vọng thu nguyệt)
chỉ biết sau Xuân Diệu không ai dùng nó nữa và các từ điển tiếng Việt mới in nửa sau thế
kỷ XX chỉ ghi lung linh chứ không còn ghi linh lung
Với bài viết kinh điển Một thời đại trong thi ca Hoài Thanh đã sớm cảm thấy cáimới ở Xuân Diệu nói riêng và Thơ Mới nói chung là đến từ hội nhập Gần đây nhà thơ
Hoàng Hưng (bài Thơ Mới và thơ hôm nay) phát hiện thêm Ông bảo: “thơ Pháp thế kỷ
XIX đã thúc đẩy Huy Cận Xuân Diệu tìm ra những ý vị lãng mạn của thơ Đường mà suốt một thế kỷ trước đó các vị túc nho đã không cảm nhận nổi mà chỉ nhai cái bã niêm luật”.
Tức là nhờ hội nhập hôm nay mà ta phát hiện lại thành tựu của hội nhập hôm qua Tađược làm giàu lên nhiều lần hơn là ta tưởng
Hơn thế nữa hội nhập không phải chỉ có một chiều là hướng ngoại hội nhập còn làquay trở về phát hiện lại bản thân và nhận diện lại những yếu tố nội sinh Nói cách khácnhờ hội nhập mà cốt cách của dân tộc được phát hiện
Xuân Diệu đã làm công việc này một cách có ý thức Ông có riêng một bài viếtmang tên Tính cách An Nam trong văn chương (báo Ngày nay 28-1-1939) ở đó ông nói
rằng “Trong lòng An Nam của chúng ta vẫn có những phần nhiều những ý những cảm
giác mà người Tây có Xưa kia ta không nói là vì ta không ngờ; bây giờ cái não khoa học của Âu Tây đã cho biết rằng ta có vẫn có đã lâu những của cải chôn giấu trong lòng thì sao ta không nói”.
Trang 12tuyên truyền giáo dục quần chúng Ngay ở Sài Gòn trước 1975 nơi sự hội nhập với thếgiới còn được làm trong lặng lẽ thì thơ vẫn không tạo được những bước nhảy đáng kể.Nổi lên trên bề mặt thơ sau 1945 vẫn là sáng tác của các nhà Thơ Mới: Huy Cận, ChếLan Viên, Lưu Trọng Lư, Tế Hanh, ấy là không kể một lớp nhà thơ trẻ mới hình thành tất
cả mang lại cho Thơ Mới một sự hồi sinh một đỉnh cao thứ hai
Trên hướng phát triển này Xuân Diệu tiếp tục vị trí hàng đầu của mình Năng lựccủa ông không còn hướng vào việc tìm tòi cái mới; có cảm tưởng với ông tất cả đã đủ vấn
đề bây giờ chỉ là tìm cách khai thác tận dụng cái đã có Mà về việc này thì từ bản tính
“tay hay làm lụng mắt hay kiếm tìm” ông có cả từ sự thành thạo tức thói quen lao độngsiêng năng tới sự nhạy cảm biết tìm ra những phương án tối ưu trong lao động
Thơ Xuân Diệu những năm cuối đời gợi cho ta cảm giác một trái cây không cònđược tiếp nhựa sống từ toàn thân mà chỉ tự chín thời gian chín lại kéo quá dài nên - nóinhư dân gian vẫn nói - chín rụ chín rị tức có cả cái phần đã đầy nát vỡ lữa ra Nhưng ởchỗ này nữa lại càng thấy tính chất đại diện toàn quyền của Xuân Diệu với Thơ Mới.Người ta không thể đòi hỏi quá nhiều ở một người Đặt trên cái nền chung của lịch sử thìvẫn thấy ông đứng sừng sững ở giai đoạn chuyển đổi của nền thơ Việt Nam như mộtthách thức và một điểm đối chiếu
Trang 13B)- NỖI ÁM ẢNH VỀ THỜI GIAN TRONG THƠ XUÂN DIỆU
I) Thời gian là gì? Thời gian trong nghệ thuật là như thế nào?
Một số từ điển định nghĩa rằng, “thời gian” là một hình thức tồn tại cơ bản của vật
chất diễn biến một chiều theo ba trạng thái là quá khứ, hiện tại và tương lai Với các nhàVật lý, thời gian là thứ mà có thể đo được chính xác bằng một chiếc đồng hồ Các nhàToán học lại quan niệm thời gian một chiều được xem là liên tục, nhưng có thể chia
thành các “thời khắc” giống như từng tấm ảnh của một cuộn phim Có thể thấy, một khái
niệm chính xác về thời gian là một thách thức lớn đối với mọi lĩnh vực Chỉ dựa vào
những khái niệm trên, ta đã có thể hiểu được rằng “thời gian” là một khái niệm rất khó
định nghĩa, khó hiểu, khó hình dung, và với mỗi cá thể, mỗi cách nhìn khác nhau, cảm
thức về “thời gian” lại được thể hiện theo một cách khác nhau Với Newton, “Thời gian
là độc nhất, tuyệt đối và có giá trị phổ quát khắp mọi nơi.” Còn Einstein lại cho rằng:
“Thời gian trôi đi chỉ là ảo ảnh mọi khác biệt giữa quá khứ, hiện tại; tương lai chỉ là
những ảo ảnh dai dẳng.” Thời gian phân thành hai loại: thời gian vật lý - thời gian khách
quan, và thời gian tâm lý - thời gian chủ quan, phụ thuộc vào ý thức con người
Văn chương nói riêng và thơ ca nói chung, suy cho cùng đều xuất phát từ tiếng lòng,cảm xúc, tình cảm của con người Mà qua lăng kính tâm hồn, bất cứ khái niệm, thực thể,hiện tượng nào đều không bị bó buộc, vạn vật đều có thể biến tính, biến hình và đượccảm thức theo những cách khác nhau Thời gian cũng không nằm ngoài quy luật ấy Thờigian qua ngòi bút nhà văn hoàn toàn có thể phá bỏ quy luật vận động vốn dĩ của nó, đảolộn trình tự hoặc bỏ qua một hoặc hai ba chiều vận động vốn có của nó Đó là cách mộtnhà văn làm ngưng đọng một khoảnh khắc, kéo dài và nới rộng nó ra; cũng như nén lại,
co vào một khoảng thời gian một trăm năm đến một thế kỉ Với thơ ca – nơi người nghệ
sĩ gửi gắm vào đó tất cả tình cảm, cảm xúc của mình với khát vọng tạo dựng một thế giớichủ quan đầy hình ảnh, thì suy nghĩ trân trọng về thời gian gắn liền với cảm thụ của nhàthơ trước cuộc đời cũng như ý nghĩa chung về cuộc sống nhân sinh Niềm rung động củanhà thơ với đời càng dạt dào, nỗi lòng với cõi đời càng thiết tha bao nhiêu, thì những sựtrân trọng trước mỗi khoảnh khắc lại càng trở nên tinh tế, mãnh liệt và linh diệu bấynhiêu
Những quan điểm về thời gian trước Xuân Diệu: “Con người là một sinh vật duy nhất
biết mình phải chết” Lời nói đó của một triết gia phản ánh nỗi ám ảnh, day dứt của con
người về sự sống và cái chết, cũng là những ám ảnh, day dứt về thời gian Thời gian trôiqua vô hình nhưng để lại dấu ấn sâu đậm trong các biến cố lịch sử, trong các thành quảcủa nhân loại Nó có quan hệ gắn bó với con người, bởi con người luôn sống và tồn tại
trong một khoảng thời gian nhất định của lịch sử Trong “Bài cáo tật thị chúng” Mãn
Giác Thiền sư đã lấy hình ảnh xuân đến xuân đi, hoa tàn hoa nở là một quy luật của tựnhiên, một định luật hiển nhiên của cuộc sống, biểu lộ tâm thế của nhà sư trước quy luậtsinh, tử ở cõi nhân gian, cái tịch diệt và cái vĩnh hằng trong vũ trụ Con người, có sinhtất có tử, lúc khoẻ mạnh ắt có lúc ốm đau, bệnh tật, có tuổi hoa niên trẻ tráng tất cái già sẽđến Quy luật cuộc sống là như thế
Trang 14Có những nhà thơ nắm bắt, ý thức được sự hữu hạn của đời người bên cái vô hạn củathời gian trường cửu khi buông những lời than thở:
“Nhân sinh ba vạn sáu nghìn thôi Vạn sáu chơi nhăng đã hết rồi.”
( Nguyễn Công Trứ)Nhất là Xuân Diệu, ta mới thấy được ý thức sâu sắc đến cuồng nhiệt của thi nhântrước dòng thời gian chảy trôi vĩnh hằng Xuân Diệu là nhà thơ lãng mạn tiêu sinh mạng
cá nhân Với ông, bi kịch lớn nhất của con người lãng mạn chính là thời gian Xuân Diệuquan niệm thời gian là một đường thẳng tuyến tính, không tuần hoàn, một đi không trởlại
II) Quan niệm về thời gian của Xuân Diệu
- Thời gian là tuyến tính một đi không trở lại
Quan niệm về thời gian của Xuân Diệu là quan niệm thời gian của một nhà thơ mới,khác với quan niệm thời gian của thơ cũ ( quan niệm thời gian tuần hoàn, gắn cá thể với
vũ trụ làm một, chỉ khi chết, hòa vào vũ trụ thì con người mới thực sự được sống)
Ông cho rằng thời gian của tuổi trẻ là quan trọng nhất nhưng rồi nó cũng sẽ trôi qua, ông thấu hiểu được quy luật nghiệt ngã của cuộc sông nên cảm thấy tiếc, thấy xót xa.Nên bởi vậy mà ông gửi đến triết lí : sống phải biết tận hưởng, biết quý trọng những giờphút quý giá của tuổi trẻ để không phải ân hận xót xa, sông vội vàng, hối hả chạy đua vớithời gian bởi thời gian tuổi trẻ một đi không trở lại Từ thấu hiểu quy luật của thời gian,
mà ông thấy lo lắng, tiếc, xót xa để từ đó có ý thức quý trọng từng khoảnh khắc, sốngmột cách nhiệt tình nhất để không lãng phí quãng thời gian đẹp nhất cuộc đời mỗi người
là tuổi trẻ Thời gian vô hồi vô tận nhưng cuộc đời ocn người lại hữu hạn, vô cùng ngắnngủi, bởi vậy, hãy tận hưởng từng khoảnh khắc quý giá của thời gian
“Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua, Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,”
Thông thường, người ta nắm trong tay cái gì rồi mới sợ mất, còn Xuân Diệu, dù “xuân”mới chỉ đương tới, đương đến, nhà thơ đã nghĩ ngay đến khoảnh khắc phai tàn, khoảnhkhắc biến mất Cặp từ đối lập: “tới – qua”, “non – già” càng nhận mạnh sự chảy trôinhanh chóng, đáng sợ của của thời gian qua mắt nhìn Xuân Diệu Trong tâm tưởng củaXuân Diệu, ngày hôm nay qua đi rồi tháng, rồi năm, rồi đời người sẽ hết, tuổi già, cáichết là nỗi ám ảnh lớn trong lòng nhà thơ:
“Nhưng mà tôi sẽ chết than ôi Tóc ngời mai mốt không đen nữa Tuổi trẻ khô đi mặt xấu rồi”
Và với những vần thơ trong bài “Thanh niên” ta mới thấy hết được sự nuối tiếc thời
gian của nhà thơ:
“Ôi thanh niên! Người mang hết xuân thì
Trang 15Hình ngực nở nụ cười tươi màu tóc láng Già sẽ đến giơ tay xua ánh sáng
Đuổi bướm đi làm sợ cả hương hoa Nhà thơ dường như chú ý đến từng bước đi củathời gian từng chút một, như chính “mùa thu tới”:
“Hơn một loài hoa đã rụng cành Trong vườn sắc đỏ rủa màu xanh”
Thời gian chuyển động qua từng sắc lá trong vườn, và trong “Đây mùa thu tới” Đó làtiếng gọi của thời gian, hối hả và thôi thúc bằng một điệp khúc “Đây mùa thu tới – mùathu tới” Thời gian là dấu hiệu của tàn phai và rơi rụng Thời gian là sự tuôn chảy “một đikhông trở lại” Chính ý thức về thời gian một chiều chứ không phải tuần hoàn, thời gianđịnh hướng chứ không phải định tính, đã tạo nên cái nhìn nghệ thuật trong toàn bộ sángtác của anh Thời gian với những bước chuyển động tàn nhẫn, sự đối lập giữa thời gian
vũ trụ với thời gian của một kiếp người
- Tuồi trẻ là thước đo thời gian
Tức là lấy quỹ thời gian hữu hạn của cuộc đời mình ( sinh mệnh cá thể ) ra để đo đếmthời gian trong vũ trụ Thậm chí thi sĩ lấy quãng ngắn nhất, giàu ý nghĩa nhất trong sinhmệnh của con người là tuổi trẻ để làm thước đo:
“Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật Không cho dài tuổi trẻ của nhân gian Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời ”
Chữ “Xuân” được điệp đi điệp lại cả năm đến sáu lần (trong ba câu đầu đã có tới năm lần) “Xuân” ấy vừa là xuân của đất trời vừa là “xuân” của cuộc đời, của tuổi trẻ Mỗi lần
nhắc lại là mỗi lần ta bắt gặp cái ngậm ngùi của thi nhân Xuân của thiên nhiên thì còn
mãi mà “xuân” của đời người đã “hết” thì “tôi cũng mất” Dù lòng yêu có “rộng” đến bao nhiêu thì “lượng trời” vẫn cứ chật Nên “tuổi trẻ nhân gian” không thể “dài” thêm mãi Ở
đây, hệ thống từ ngữ, hình ảnh được đặt trong thế tương phản đối lập cao độ (tới – qua,non –già, rộng – chật, xuân tuần hoàn, - tuổi trẻ chẳng hai lần, còn – chẳng còn) để làmnổi bật tâm trạng nuối tiếc thời gian, cuộc đời Vũ trụ có thể vĩnh viễn, mùa xuân rồicũng tuần hoàn nhưng tuổi xuân của con người chỉ có một lần, đã qua là qua mãi Chonên Xuân Diệu đã nồng nhiệt phủ định:
“Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn, Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại !”
Thước đo thời gian của thi sĩ là tuổi trẻ Tuổi trẻ một đi không trở lại “chẳng hai lầnthắm lại” thì làm chi có sự tuần hoàn ! Trong cái mênh mông của đất trời, cái vô tận củathời gian, sự có mặt của con người thật là ngắn ngủi, hữu hạn Nghĩ về tính hạn chế củakiếp người, Xuân Diệu đã đem đến một nỗi ngậm ngùi thật mới mẻ:
Trang 16“Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời”
Đọc hai câu thơ, ta cảm nghe rất rõ tiếng thở dài bất lực của thi nhân Ta nghe rõ cảcái bâng khuâng, nuối tiếc của nhà thơ phả vào đất trời Dường như trước mắt người đọc
là cả một trời tiếc nuối Tâm trạng ấy của Xuân Diệu ta cũng bắt gặp trong bài thơ “Giục
giã”:
“Đời trôi chảy lòng ta không vĩnh viễn Vừa xịch gối chăn mộng vàng tan biến Dung nhan xê động sắc đẹp tan tành Vàng son đang lộng lẫy buổi chiều xanh Vừa ngoảnh lại cả lầu chiều đã vỡ”
Phải chăng vì quá yêu mến tuổi trẻ mà từ sự nuối tiếc ấy, thi nhân đã “thức nhọn giác
quan” để sống “toàn tâm, toàn ý, sống toàn hồn” mà “say”, “thâu”, “hôn”, “cắn” cho kỳ
hết những hương nồng của tuổi trẻ ?
- Cảm nhận về thời gian của Xuân Diệu là cảm nhận đầy tính mất mát
Ví như kết thúc đoạn thơ trong bài thơ “Vội vàng” là một tiếng thốt:
“Chẳng bao giờ ôi! chẳng bao giờ nữa Mau đi thôi mùa chưa ngả chiều hôm”
Thi sĩ bỗng thốt lên lời than Tiếc nuối, lo lắng và chợt tỉnh vì "mùa chưa ngả chiều hôm", nghĩa là vẫn còn trẻ trung, chưa già Lên đường! Phải vội vàng, phải hối hả “Mau đi
thôi” Câu cảm thán với cách ngắt nhịp biến hóa làm nổi bật nỗi lòng vừa lo lắng băn
khoăn vừa luống cuống tiếc rẻ, bâng khuâng Thế đấy, không thể “buộc gió”, không thể
“tắt nắng”, cũng không thể cầm giữ được thời gian, thì chỉ có cách thực tế nhất là chạy
đua với thời gian, là phải tranh thủ sống
Xưa kia, Nguyễn Trãi viết trong chùm "Thơ tiếc cảnh":
"Xuân xanh chưa dễ hai phen lại Thấy cảnh càng thêm tiếc thiếu niên".
Những vần thơ của Nguyễn Trãi giúp ta cảm nhận sắc điệu trữ tình trong "Vội vàng"
về màu thời gian, về sắc thời gian, về tuổi trẻ Cũng qua đó để hiểu thêm về lòng hamsống đến nhiệt cuồng của nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới”
Nó là lời thở than của vạn vật, là không gian đang tiễn biệt thời gian, mà sâu xa hơn làmỗi sự vật thời gian đang ngậm ngùi tiễn biệt một phần đời của chính nó Những phần đời của sinh mệnh cá thể đang ra đi không thể nào cưỡng lại, nó tạo nên sựtrôi chảy không ngừng, tạo nên sự phôi pha, phai tàn của từng cá thể:
“Con gió xinh thì thào trong lá biếc Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?”
Gió đùa trong lá không phải là những âm thanh của thiên nhiên tươi vui của mùaxuân, mà là lời “thì thào” về nỗi hờn giận, buồn thương Gió phải chia tay với cây lá mà
Trang 17bay đi; chim chóc trên cây đang ca hát rộn ràng chào xuân bỗng ngừng bặt, chẳng phải có
sự đe dọa nguy hiểm nào, mà chỉ vì chúng buồn tiếc cho mùa xuân sắp trôi qua Thế làchẳng riêng gì Xuân Diệu mà cả vạn vật trong thiên nhiên cũng thức nhận về cái quy luậtnghiệt ngã, cái một đi không bao giờ trở lại của thời gian ấy Có phải vậy mà Xuân Diệu
đưa ra một quyết định hợp lí cho mình và cho tất cả mọi người “Tôi không chờ nắng hạ
mới hoài xuân”.
- Thời gian được cảm nhận mới mẻ khi được miêu tả có mùi vị (từ cái vô hình thành cái hữu hình)
Mỗi khoảnh khắc trôi qua là một sự mất mát lớn lao Sự tàn phai không chỉ đến “khắpsông núi” mà còn ở từng cá thể Và thời gian trôi đi sẽ khiến cho cái nhan sắc thiên nhiêndiệu kỳ này bước vào độ tàn phai Một sự tàn phai không thể nào tránh khỏi:
“Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt”
Đây là hai câu thơ thể hiển rất rõ cách cảm nhận tinh vi về thời gian của Xuân Diệu Cảm
nhận ấy không chỉ bằng thị giác mà còn cảm nhận bằng cả khứu giác “mùi tháng năm”,
cả vị giác “vị chia phôi” Nhà thơ xúc động lắng nghe bước đi của thời gian, tiếng “thanthầm tiễn biệt” của sông núi, của cảnh vật Xuân Diệu rất nhạy cảm với thời gian trôi điqua “mùi”, “vị” của năm tháng “chia phôi” trong dòng chảy vô tận Một cách cảm nhậnthời gian rất thơ, rất tinh tế:
Đoạn thơ trên đây cho thấy vẻ đẹp trong thơ Xuân Diệu: sự trau chuốt về ngôn từ, sự tinh
tế trong cảm xúc biểu hiện Một quan niệm nhản sinh rất tiến bộ về thời gian, về mùaxuân và tuổi trẻ Cái tôi cá nhân trữ tình được khẳng định Ham sống và yêu đời; sống hếtmình, sông trong tình vêu - đó là những ý tưởng rất đẹp, vẻ đẹp của một hồn thơ lãng
mạn - “vội vàng" không nghĩa là sống gấp như ai đó đã nói.
III)- Nguyên nhân của nỗi ám ảnh về thời gian của Xuân Diệu
Xuân Diệu nhận thức rõ nét đế đớn đau, khắc nghiệt giá trị của thời gian, của thời
khắc tuổi trẻ “Thời gian của Xuân Diệu mang tính trần thế Cả hai trăm bài thơ tình
cũng bị thời gian… ám ảnh.” Vậy từ đâu lại gây ra nỗi ám như vậy cho chàng thi sĩ yêu
cuộc sống này như vậy?
Tiếp nhận với những quan điểm mới mẻ tân kì từ Tây phương cùng niềm yêu đờiyêu sống vẫn luôn âm ỉ trong tim, Xuân Diệu không nhìn nhận thời gian theo chiều vĩ mônhư các nhà thơ Trung đại mà với ông, thời gian một đi không trở lại, và vũ trụ là mộtkhách thể độc lập với con người Thời gian như một dòng chảy vô thủy, vô chung màmỗi khoảnh khắc qua đi là mất đi vĩnh viễn Đã có không chỉ một mà khá nhiều bài thơ
chứa đựng quan điểm ấy của Xuân Diệu Bài thơ “Thời gian” ra đời như một tuyên ngôn
về thời gian của Xuân Diệu:
Dưới thuyền nước trôi Trên nước thuyên chuồi
Và nước, và thuyền Xuôi dòng đi xuôi
Trang 18… Nước trôi vô tri
Vô tình, thuyền đi Nước không biết thuyền Thuyền biết nước chi
Mỗi câu thơ cất lên lại như một lời thở than đầy não nề vủa chàng trai trẻ trước cảnhnước chảy thuyền trôi không điểm dừng, chẳng hồi kết, dai dẳng và miên man
Thời gian trôi không chờ người, năm tháng qua không đợi bất kì ai Quỹ thời giankhách quan của cuộc đời, vũ trụ có thể là vô hạn, vĩnh hằng, nhưng túi thời gian nhỏ békhiêm tốn của con người thì luôn có giới hạn và thời gian cứ như dòng nước siết chảythẳng xuống đáy túi, thấm vào và không thể lấy lại Nỗi niềm ấy ám ảnh Xuân Diệu trongtừng tác phẩm của mình
“ Những ngày cứ thắt đi từng phút Rồi mặt trời cao Nắng cháy tràn Trưa đến thôi rồi Bình đã vỡ Nửa ngày xinh đẹp đã tiêu tan”
Cuôc sống vốn là một bức tranh đầy màu nhiệm với bao thứ tốt đẹp Ấy thế màXuân Diệu lại cảm nhận cuộc sống như điếu thuốc sắp tàn rất nhanh, nó thắt lại khiếnngười ta hối tiếc, nửa ngày – từ sớm đến khi mặt trời lên đỉnh điểm, đó cả là thời gian dàinhưng Xuân Diệu cảm nhận rằng nó sẽ tiêu tan rất nhanh Có lẽ vì đó mà nhà thơ sốnghết mình, khao khát thự tại hơn bao giờ hết Chính vì ý thứ rõ rệt được sự biến chuyểncủa thời gian nên Xuân Điệu đã sống vội vàng, cuống quýt Đó là thái độ sống nôn nao,mọi sự đợi chờ thi sĩ đều sợ bỏ phí mất từng khắc của tuổi thanh xuân
Nỗi ám ảnh thời gian ở Xuân Diệu lớn hơn bao giờ hết khi mà tạo hóa tràn ngập baocảnh sắc mê đắm con người Dường như thi sĩ muốn đoạy quyền tạo hóa, muốn đi ngượclại sự vận động của thiên nhiên, muốn tự mình nắm giữ thời gian, muốn lưu giữ khoảnhkhác của tuổi xuân, muốn thời gian ngưng đọng lại, như vậy mới có đủ thời gian để thõamãn lòng khao khát của tâm hồn nhà thơ
Xuân Diệu đã thi vị hóa thời gian, đã chống trả quyết liệt với cái tàn phá của nó
bằng một thứ thời gian rất Xuân Diệu, đó là thời gian nghệ thuật: “Thời gian nghệ thuật
trong thơ Xuân Diệu mang một sắc thái riêng: thi sĩ dồn nén quá khứ, tương lai về hiện tại, và trong cái hiện tại nhà thơ chỉ chú ý đến cái bây giờ.”
Đồng thời, nỗi ám ảnh về thời gian còn xuất từ “cái tôi” cá nhân của Xuân Diệu với mộttâm hồn nhạy cảm và tính cách mạnh mẽ, mãnh liệt để từ đó cho nhà thơ cái nhìn tuyếntính về thời gian “Cái tôi” ấy của nhà thơ trong những bài thơ của ông được thể hiện ởhai trạng thái đối lập mà thống nhất của tâm hồn: lúc mãnh liệt đến cuồng si, lúc lại dadiết, lắng sâu
IV)- BIỂU HIỆN CỦA NỖI ÁM ẢNH THỜI GIAN TRONG THƠ XUÂN DIỆU Nỗi ám ảnh thời gian biểu hiện trong nội dung thơ Xuân Diệu
a) Thời gian được tác giả cảm nhận vui
Trang 19Con người ai cũng có niềm vui và nỗi buồn Có người buồn nhiều, vui ít hay ngược lại,
có người buồn ít vui nhiều Đối với Xuân Diệu – một tâm hồn tha thiết với cuộc sống thìông vui nhiều hơn buồn Điều này đã chi phối những sáng tác của ông Ông vui khi xuanđến, hạ về, thu tới hay đông qua Ông vui khi gặp gỡ, khi được sống hết mình cho tìnhyêu, cho cuộc sống,… Đến với tình yêu, ông luôn thể hiện niềm vui, sự khao khát mãnhliệt của mình Đặc biệt, khi tình yêu ấy lại được đôi cánh mùa xuân nâng đỡ thì nó lạicàng trở nên thăng hoa hơn hết Xuân trong lòng, xuân của tâm hồn, tình cảm đã hoà vào
xuân của đất trời nên “Trong vườn thơm ngát của hồn tôi”:
“Xuân của đất trời nay mới đến;
Trong tôi, xuân đến đã lâu rồi:
Từ lúc yêu nhau, hoa nở mãi Trong vườn thơm ngát của hồn tôi.”
(Nguyên Đán)
Trong bài “Xuân không mùa” nhà thơ cũng thể hiện rất rõ lòng náo nức, háo hức của
mình khi xuân đến:
“Một ít nắng, vài ba sương mỏng thắm, Mấy cành xanh, năm bảy sắc yêu yêu Thế là xuân Tôi không hỏi chi nhiều Xuân đã sẵn trong lòng tôi lai láng.”
(Xuân không mùa)
Có thể nói những câu thơ trên thể hiện sự cảm nhận tinh tế của Xuân Diệu về bước đithời gian buổi đầu mùa xuân Mùa xuân tới khắp nơi, đến một cách nhẹ nhàng cùng vớimột ít nắng và vài ba hạt sương mỏng trên mấy chiếc lá xanh thắm Trên những cành láxanh tươi, có năm bảy sắc xanh có chồi lá mới đơm, đó cũng chính là dấu hiệu dự báomùa xuân mà chỉ có Xuân Diệu, một thi sĩ có thể vận dụng hết các giác quan của mìnhmột cách tinh tế mới có thể cảm nhận từng bước đi của mùa xuân chính xác đến như vậy
nên ông khẳng định “xuân đã sẵn trong tôi lai láng”.
Khi tình yêu đến trong lòng mỗi chúng ta cảm thấy phấn chấn và yêu đời hơn Trongtình yêu đôi lứa, Xuân Diệu luôn rạo rực với mùa xuân, niềm rạo rực ấy thường xuất hiệnrất tự nhiên:
“Mùa xuân chín ửng trên đôi má Xui khiến lòng ai thấy nặng nề.”
(Nụ cười xuân)
Những cô gái mang trong lòng một tâm trạng rất kín đáo, các chàng trai cũng thế vớimột trái tim nồng cháy yêu thương khi mùa xuân tới Niềm hạnh phúc, sung sướng củacác thiếu nữ không giấu được khi những sắc màu của mùa xuân đã hiện hữu rất cụ thểtrên đôi gò má hồng của khuôn mặt tuổi thanh xuân Phải có một cảm thức thời gian tinh
tế, sâu sắc thì Xuân Diệu mới thể hiện được hình ảnh “mùa xuân chín ửng trên đôi má”
của những cô gái xuân
Trang 20Đối với Xuân Diệu mùa xuân là mùa của tuổi trẻ, là mùa của sự yêu đương, mùa của
sự hăng say nông nhiệt nhất trong đời nên cái cảm giác xuân đã có sẵn trong ông lai láng,
đã hình thành từ rất lâu chứ không đợi xuân tuần hoàn của đất trời, của thiên nhiên:
“Giữa vườn inh ỏi tiếng chim vui Thiếu nữ nhìn sương chói mặt trời Sao buổi đầu xuân êm ái thế!
Cánh hồng kết những nụ cười tươi.”
(Nụ cười xuân)
Mùa xuân tới, thiên nhiên bừng dậy sức sống non tơ, cành lá bắt đầu đâm chồi nảylộc, sắc màu hoa lá đang phủ khắp muôn nơi: với nụ cười thắm được kết bằng cánh hồng,với hơi gió xuân thơm mát toả khắp không gian Buổi đầu của mùa xuân thật êm ái, thanhtao, nhìn đâu đâu cũng là niềm vui, sự rộn ràng của hoa lá mà cũng có thể kết lại thànhnhững nụ cười tươi tắn, hớn hở như con người đang hưởng thụ phút giây tươi đẹp củamùa xuân Cỏ cây reo vui chào đón mùa xuân bằng những câu đậm trữ tình:
“Trời xanh thế! Hàng cây thơ biết mấy!
Vườn non sao! Đường cỏ mộng bao nhiêu.”
(Xuân đầu)
Mùa xuân đến, xanh biếc cả một bầu trời rộng lớn Hàng cây, cành lá bỗng dưng nênthơ hơn và con đường đầy hoa lá quen thuộc hằng ngày cũng thế, khiến cho khu vườntràn ngập sắc màu của sự sống, tươi non mơn mởn:
“Hoa thứ nhất có một mùi trinh bạch;
Xuân đầu mùa trong sạch vẻ ban sơ.”
(Tình thứ nhẩt)
Xuân Diệu yêu thích sự trẻ trung, tươi tắn, mới mẻ nên ông quan niệm những gì củabuổi đầu, buổi ban sơ là đẹp nhất, tươi tắn nhất và trẻ trung nhất Khi mùa xuân vừa mớiđến những ngày đầu tiên, ông cảm nhận được không khí xuân trong lành và mát mẻ,những bông hoa đầu tiên đang hé nở trên cành, thoang thoảng một mùi tinh khiết, trắngtrong làm lòng ông cũng rạo rực, xôn xao hoà vào cảnh vật mùa xuân:
“Ngày trong lắm, lá êm, hoa đẹp quá Nhan sắc ơi, cây cỏ chói đầy sao
Tháng giêng cười, không e lệ chút nào, Bằng trăm cánh của bướm chim rối rắm.”
(Mời yêu)Mùa xuân đến biết bao nhiêu thứ trên thế giới bừng lên sức sống mới Xuân Diệu đãmiêu tả sức sống mới ấy bằng hương vị, màu sắc, âm thanh đang ở độ nồng nàn, ngọtngào nhất Ngày trong xanh, những bông hoa nở biết bao màu sắc tươi đẹp Xuân đến đãmang cho con người nhiều màu sắc, âm thanh khiến cuộc sống trở nên đầy màu sắc và ýnghĩa
Đến với mùa xuân thì hồn thơ Xuân Diệu luôn mang niềm vui rạo rực, thiết tha của sựhoà hợp giao cảm, thì khi đến mùa thu, ông ít nhiều vẫn giữ tâm thế đó Điều này thể hiện
rõ nhất trong bài Thơ duyên Không có cảm giác háo hức xôn xao, náo nức, rạo rực như
Trang 21khi đứng trước mùa xuân nhưng mùa thu trong bài Thơ duyên vẫn có nét vui riêng của
nó Một tâm hồn yêu cuộc đời, mơ mộng yêu đương, khát khao giao hoà với ngoại cảnh
đã hợp duyên cùng vẻ đẹp của thiên nhiên đầy hương sắc để ngân lên những tiếng huyền.
Thơ duyên không hề hoang vắng, cô liêu như nhiều bài thơ viết về mùa thu được sáng tác
cùng thời bởi nó diễn tả một thời điểm, một trạng thái đặc biệt ý nghĩa của cả thiên nhiên
và con người Một buổi chiều rất nhẹ, êm, tâm hồn nhân vật trữ tình đang có sự đồng điệuvới cảnh vật mùa thu:
“Chiều mộng hoà thơ trên nhánh duyên, Cây me ríu rít cặp chim chuyền
Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá, Thu đến - nơi nơi động tiếng huyền.”
(Thơ duyên)
Xuân Diệu với một hồn thơ đa cảm đang rộng mở, đang chờ đón một cái vui tươi, trẻtrung của đời Nhìn vào đâu trong thế giới thiên nhiên của Xuân Diệu, ta cũng thấy sựhoà hợp, quyến luyến của vạn vật Thơ duyên là bức tranh tình nhân của các cặp đôi quađôi mắt tâm hồn của người thi sĩ Không gian thu vừa là khu vườn tình ái gần gũi được
mở ra xa và rộng hơn Tất cả như được nâng lên thành tầng thành lớp Nó có cả sắc màulẫn âm thanh, buổi chiều thu thành chiều mộng, nhánh cây thành nhánh duyên qua tâmhồn thơ mộng của thi sĩ
b) Thời gian được tác giả cảm nhận buồn
Trước Xuân Diệu, các nhà thơ đã nói đến thời gian Xưa, Nguyễn Du đã từng than:
“Ngày vui ngắn chẳng tày gang” Gần hơn, Tản Đà cũng tặc lưỡi: “Trăm năm là ngắn,
một ngày dài ghê” Nhưng chỉ với Xuân Diệu, thời gian mới trở thành nỗi ám ảnh.
Cảm nhận ấy được biểu hiện rõ nét trong “ Đây mùa thu tới” Điệp khúc “ Đây mùa
thu tới – mùa thu tới “ không chỉ là tiếng reo vui báo mùa mà còn là giai điệu ngậm ngùi
về sự hối thúc của thời gian Mùa thu là thế giới của cái đẹp, mà cũng là thế giới của sựphôi pha, hao gầy và chia lìa Sự phôi pha, hao gầy bắt đầu từ màu sắc đến hình thể : rặngliễu đìu hiu đứng buông tóc buồn như ngàn hàng lệ nhỏ Màu xanh bị lấn dần bởi sắc đỏ
úa Cành cây hè mập mạp nay trơ xương mỏng manh Dáng núi xa nhoè trong sương Rồisau đó là sự rơi rụng, chia lìa : hoa rụng cành, chim bay đi, trời hận chia li, đã vắngnhững chuyến đò ngang … Và cuối cùng là nỗi buồn bã ngẩn ngơ của người thiếu nữ :
“Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì”
( Đây mùa thu tới )
Như vậy, “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu là tiếng gọi hối hả, thôi thúc của thời
gian Thời gian là dấu hiệu của sự tàn phai rơi rụng Thời gian là sự trôi chảy một đikhông trở lại Chính ý thức về thời gian một chiều chứ không phải tuần hoàn, cuộc đờihữu hạn chứ không phải vô hạn đã tạo nên cái nhìn nghệ thuật của Xuân Diệu trong toàn
bộ sáng tác của nhà thơ Vì thế, ở bài thơ “Vội vàng”, sau những câu thơ rạo rực vui tươi,
Trang 22Xuân Diệu lại viết những lời thơ như buồn bã, giận hờn, lo sợ về sự trơi qua của thời gianmang theo bao nhiêu vẻ đẹp cuộc sống, chỉ cịn để lại sự biệt li, chia lìa :
“Tơi sung sướng Nhưng vội vàng một nửa Tơi khơng chờ nắng hạ mới hồi xuân Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua Xuân cịn non, nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân mất, nghĩa là tơi cũng mất Lịng tơi rộng nhưng lượng trời cứ chật Khơng cho dài thời trẻ của nhân gian Nĩi làm chi rằng xuân vẫn tuần hồn Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại Cịn trời đất nhưng chẳng cịn tơi mãi Nên bâng khuâng tơi tiếc cả đất trời Mùi tháng năm đều rớm vị chia phơi Khắp sơng núi vẫn than thầm tiễn biệt …”
( Vội vàng )
Trong thơ Việt Nam, và cả trong phong trào Thơ Mới, chưa ai cĩ giọng thơ nuối tiếcthời gian, thương tiếc cuộc sống đến thiết tha như Xuân Diệu Cũng những đường nét ấy,sắc màu và âm thanh ấy, đoạn trên náo nức rạo rực là thế, mà ở đoạn này thì buồnthương, ngậm ngùi, xĩt xa biết bao
Nỗi xĩt xa, tiếc nuối thời gian và sự sống khiến cho nhà thơ cĩ một ước muốn thật
táo bạo : “Tơi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tơi muốn buộc giĩ lại Cho
hương đừng bay đi” Thế nhưng, táo bạo mà khơng tưởng Bởi qui luật thời gian và cuộc
sống khơng thể nào cho phép nhà thơ thực hiện ước muốn ấy Vì thế, Xuân Diệu kêu lên
thất vọng trước thực tế phũ phàng : thời gian và tuổi trẻ khơng bao giờ trở lại : “Chẳng
bao giờ, ơi! Chẳng bao giờ nữa”.
Đối với Xuân Diệu, cái vơ hạn của thời gian lại trở thành hữu hạn, bởi điều quí nhất
là cuộc sống và tuổi trẻ lại hữu hạn và khơng tuần hồn Song, một con người ham sống,yêu đời mãnh liệt như Xuân Diệu khơng thể nào chấp nhận được thực tế ấy Nhà thơ làmthay đổi qui luật của thời gian theo cách riêng của mình Làm thế nào biến cái hữu hạncủa đời người thành vơ hạn cùng với thời gian, với mùa xuân bất diệt của đất trời ? Chỉ
cĩ một cách, ấy là biến “cái hữu hạn về lượng” thành “ cái vơ hạn về chất” ; nghĩa là phảivội vàng, phải hối hả, phải đắm say, phải mãnh liệt Phải sống để thu vào độ cao nhấtnhững gì là đẹp đẽ, quí giá của cuộc sống và đời người
c) Thời gian được tác giả cảm nhận bâng khuâng, lưu luyến
Xuân Diệu - một nhà thơ được mệnh danh là ơng hồng của thơ tình, là “ nhà thơ mới
nhất trong các nhà thơ mới”, trong con người ơng luơn sục sơi tình yêu đời, yêu người,
yêu cuộc sống và khát khao cháy bỏng sống hết mình, hưởng thụ mọi thú vui nơi trần thế,theo ơng con người ta chỉ cĩ thể vui tươi, yêu đời khi cịn trẻ, chỉ cĩ tuổi trẻ mới làm nênsức sống dạt dào cho mỗi cá nhân Vì vậy mà ơng rất sợ mơt ngày nào đĩ khi bước chân
Trang 23thời gian cứ ngày càng đến gần, ngày càng lấn sâu vào cuộc đời con người , lấy đi biếtbao ước mơ, tuổi xuân biến con người trở thành môt thân xác phai tàn và vô nghĩa Conngười sẽ chẳng thể tìm thấy niềm vui, lòng nhiệt huyết yêu đời mà thay vào đó chỉ toàn lànỗi bi quan, tuyệt vọng Đó cũng chính là quan điểm của Xuân Diệu, là sự ám ảnh da diết
về thời gian, tuổi tác Và phải chăng chính thời gian đã cảm thức Xuân Diệu khiến ôngviết lên những tác phẩm mang nặng nỗi niềm suy tư, trăn trở khôn nguôi, một cảm xúcdạt dào mà mấy ai có thể hiểu được
Đến với thơ Xuân Diệu, ta có thể cảm nhận được sự ám ảnh, dày vò của thời gian, nóbao trùm cả không gian vũ trụ và lấn át cả thiên nhiên,cảnh vật xung quanh, điều đó đượcbộc lộ rõ nét qua các bài thơ như: “Vội vàng”, “Thởi gian”, “Đây mùa thu tới”,… “Và chỉvới Xuân Diệu, thời gian mới trở thành một nỗi ám ảnh”
Thông qua bài thơ “Vội vàng”, môt trong những tác phẩm tiêu biểu cho đề tài thời gian
mà mỗi khi nghĩ về Xuân Diệu ta đều nhớ ngay đến nó Có lẽ cũng bởi vì “Vội vàng” đãđem đến cho tất cả những ai đã và đang đọc tác phẩm này đều cảm thấy yêu đởi và hamsống hết mình, sống say mê, cuồng nhiệt khi còn có thể Không những thế, bài thơ cònnhấn mạnh yếu tố thởi gian, sự bâng khuâng xao xuyến mà nhà thơ cảm thức được khinhìn thấy sự trôi qua nhanh chóng của thời gian, của đời người:
“Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua, Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,
Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.”
Thởi gian cứ hờ hững, vô tình trôi qua để lại trong ta bao nỗi niềm xao xuyến:
“Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn, Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại
… Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi, Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời.”
Nói lên sự nhạy cảm, bâng khuâng vô cùng trước dòng chảy của thời gian, Xuân Diệu
đã cho ta biết dòng chảy ấy làm thay đổi mọi thứ không chỉ là tháng, là năm, là ngày mà
sự thay đổi diễn ra trong từng phút “một”, cái “tôi” của phút trước hẳn đã khác cái “tôi”của phút này:
“Cái bay không đợi cái trôi
Từ tôi phút trước sang tôi phút này.”
Với khả năng quan sát tinh tế, nhạy cảm trước mọi sự đổi thay của cuộc đời, nhà thơkhông khỏi lưu luyến trước cảnh sắc thiên nhiên đang ngày một tàn phai, run sợ theo thờigian:
“Hơn một loài hoa đã rụng cành Trong vườn sắc đỏ rủa màu xanh Những luồng run rẫy rung rinh lá Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh.”
(Đây mùa thu tới)
Trang 24Hay sự chú ý từng chút một về cảnh vật thiên nhiên, chim chĩc, hoa lá, mây trời g đangdần phai tàn, mệt mỏi trước sự vận động khơng ngừng của thời gian:
“Mây biếc về đâu bay gấp gấp Con cị trên ruộng cánh phân vân Chim nghe trời rộng giang thêm cánh Hoa lạnh chiều thưa sương xuống dần
(Thơ duyên)
d)Thời gian được tác giả cảm nhận một cách nhớ tiếc
Trong thơ Xuân Diệu vui cũng nhiều, rạo rực cũng nhiều và những khoảnh khắc ubuồn, nuối tiếc cũng khơng hề hiếm:
“Mùi tháng, năm đều rớm vị chia phơi,
Khắp sơng, núi vẫn than thầm tiễn biệt
Cơn giĩ xinh thì thào trong lá biếc, Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi, Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?”
(Vội vàng)
Dường như mọi cảnh vật đều mang nỗi sầu muơn kiếp, mọi vật đều nuối tiếc cáikhoảnh khắc này, chúng hờn giận, sợ hãi vì thời gian cứ trơi mãi trơi mãi khơng bao giờngừng lại Xuân Diệu nhìn thấy cảnh thiên nhiên càng tươi đẹp, càng lộng lẫy bao nhiêuthì sự nuối tiếc của người thi sĩ như ơng lại càng lớn lên bấy nhiêu Người ta chỉ hamsống khi cuộc sống của họ cĩ ý nghĩa, Xuân Diệu cũng vậy càng yêu đời, càng đắm sayvới cảnh sắc thiên nhiên phát hiện ra biết bao cái tươi đẹp đang chờ đĩn, để rồi lại cayđắng nhận ra rằng thời gian trơi đi càng lúc càng vội vã Cĩ thể nĩi rằng “chưa cĩ mộtnhà thơ nào luyến tiếc thời gian đến xĩt xa như Xuân Diệu” Vì vậy trong niềm say sưabồng bột trước cuộc đời, sự hiện hữu về thời gian, yêu người và đặc biệt là yêu đời đãkhiến ơng chưa bao giờ bình thản.”
Riêng về quan niệm thời gian trong thơ Xuân Diệu , khác với những quan niệm trước
đĩ, đối với Xuân Diệu thời gian là tuyến tính, một đi khơng bao giờ trở lại, vũ trụ làkhách thể độc lập với con người Thời gian của Xuân Diệu khơng phải tính theo chiều vĩmơ: một đời, nghìn năm, vạn năm, thiên thu như trong thơ cổ mà với sự ý thức cá nhânnhà thơ cảm nhận hơn ai hết sự thật đáng buồn “tuổi trẻ chằng hai lần thắm lại” cho dùmúa xuân vẫn tuần hồn, vũ trụ cĩ thể vĩnh hằng thí thới gian vẫn như một dịng chảy vơthủy, vơ chung mà mỗi khoảnh khắc qua đi là mất đi vĩnh viễn
Nĩi về thời gian tuần hồn, Nguyễn Du cĩ viết rằng:
“ Sen tàn cúc lại nở hoa Sầu dài, ngày ngắn đơng đà sang xuân”
Hay trong bài “ Tự tìnhII” , Hồ Xuân Hương cũng coi thời gian là vĩnh viễn bởi nĩ ra
đi rồi quay trở lại:
“Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại”
Trang 25Trong thời kì trước, thời gian đều được nhìn theo một tầm vĩ mô, được đo bằng nhữngkhái niệm rất lớn: Nghìn năm, vạn năm như Nguyễn Công Chứ viết:
“Nhân sinh ba vạn sáu nghìn thôi
Vạn sáu chơi nhăng đã hết rồi”
Còn với Xuân Diệu thì:
“Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật, Không cho dài thời trẻ của nhân gian, Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,”
Trong thơ xưa cá nhà thơ quan niệm vũ trụ và thời gian là tuần hoàn, quay tròn trở lại vàcon người là một phần của vũ trụ sẽ hoà nhập vào cái vĩnh hằng của trời đất Song, với ýthức một cách sâu sắc, cuồng nhiệt về thời gian, về tuổi tác con người một đi không trởlại thì chỉ đến thơ Xuân Diệu mới có Cũng bởi vậy mà Xuân Diệu nuối tiếc thời gian và
coi nó như “thù địch với sinh mạng cá nhân”.
Với những vần thơ trong bài “Thanh niên” ta mới thấy hết được sự nuối tiếc thời gian
của tác giả:
“Ôi Thanh Niên! Người mang hết xuân thì Hình ngực nở nụ cười tươi màu tóc láng Gìa sẽ đến giơ tay xua ánh sáng
Đuổi bướm đi làm sợ cả hương hoa.”
Dường như trước mắt người đọc là cả một trời tiếc nuối Tâm trạng ấy của Xuân Diệu ta
có thể bắt gặp trong bài thơ “Giục giã”:
“Đời trôi chảy lòng ta không vĩnh viễn Vừa xịch gối chăn mộng vàng tan biến Dung nhan xê động sắc đẹp tan tành Vàng son đang lộng lẫy buổi chiều xanh Vừa ngoảnh lại cả lầu chiều đã vỡ”
Hay thái độ sống nôn nao, mọi sự đợi chờ thi sĩ đều sợ uổng phí mất từng khắccủa tuổi thanh xuân, ông nuối tiếc tuổi trẻ vì sợ thời gian làm phai tàn tất cả:
“Sống toàn tâm, toàn trí, toàn hồn Sống toàn tim và thức nhọn giác quan
Và thức cả trong giấc nồng ngủ Sống, tất cả sống, chưa bao giờ là đủ”
Chính vì sợ hãi với bước đi của thời gian , ông sợ tuổi tác cũng sẽ phai dần theo nămtháng nên đã làm mọi thứ để chống lại sự tàn nhẫn của thời gian, níu kéo mọi hương sắctươi xanh của cuộc đời Chằng hạn như:
“Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất;
Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi.”
Thi sĩ muốn đoạt quyền tạo hóa , muốn đi ngược lại sự vận động của thiên nhiên, muốn
tự mình nắm giữ điều chỉnh thời gian, Xuân Diệu muốn lưu giữ lại cái khoảnh khắc của