1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Bai thi Em yeu Lich su Viet Nam da dat giai cao nam 20152016 thay co va cac em tham khao nhe

23 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 2,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.” Soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã kế thừa, tổng k[r]

Trang 1

Họ và tên: LÊ TRUNG HIẾU

Lớp: 9A

Trường: THCS Tam Hưng- Huyện Thanh oai - Hà Nội.

BÀI THAM DỰ CUỘC THI

“EM YÊU LỊCH SỬ VIỆT NAM”

Câu 1: Nêu những hiểu biết của em về sự kiện cách mạng tháng Tám và tuyên ngôn độc lập năm 1945 Lấy dẫn chứng tiêu biểu về những đóng góp của quê hương em cho thắng lợi cách mạng tháng Tám năm 1945 Theo em, độc lập có ý nghĩa như thế nào với một quốc gia?

Trả lời

Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã trảiqua biết bao thăng trầm cùng với những cuộc khởi nghĩa, cách mạng giành chínhquyền trong cả nước Là người dân Việt Nam hẳn mỗi chúng ta đều không thể quênđược một sự kiện được coi là trọng đại nhất, oanh liệt nhất của dân tộc Việt Namtrong thế kỷ 20 Trong một thời gian ngắn, với khí thế cách mạng sôi sục và trào dângchưa từng có, dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã nhất tề vùng lên giành chínhquyền trong cả nước Đó chính là cuộc khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945

Cuộc cách mạng được diễn ra trong bối cảnh miền Bắc vừa thoát khỏi nạn đóikinh hoàng với 2 triệu người chết và Đồng Minh vừa kết thúc cuộc Đại chiến Thếgiới thứ hai Cuộc cách mạng xảy ra dưới sự lãnh đạo của Đảng, 20 triệu nhân dân ta

đã nhất tề vùng dậy khởi nghĩa dành lại chính quyền…

Việc “giành lại chính quyền” được các sử gia Việt Nam ví như là “cuộc chạyđua nước rút với quân đội Đồng Minh” Các bản Hiến pháp của Việt Nam Dân chủCộng hòa và sau này là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, đều ghi nhận sự thànhcông của cách mạng tháng Tám là nền tảng khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộnghòa

Ngày 9-8-1945, sau khi chiến thắng hoàn toàn quân Đức, Hồng quân Liên Xôbắt đầu tiến công quân Nhật Trong vòng không đầy một tuần lễ, quân đội Liên Xôđánh tan gần một triệu quân Nhật tại Mãn Châu (Trung Quốc), buộc Nhật đầu hàngLiên Xô và Đồng minh không điều kiện Chiến tranh Thái Bình Dương, Chiến tranhthế giới lần thứ hai chấm dứt

Từ ngày 13 đến 15/8/1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào,Tuyên Quang, nhận định cơ hội cho nhân dân Việt Nam giành quyền độc lập đã tới,những điều kiện cho cuộc khởi nghĩa ở Đông Dương đã chín muồi, lãnh đạo toàn dântổng khởi nghĩa giành chính quyền Hội nghị nêu rõ đường lối đối nội, đối ngoại củacách mạng Việt Nam trong tình hình mới; thành lập Uỷ ban khởi nghĩa toàn quốc, doông Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng phụ trách Ngay trong đêm 13/8/1945, Ủyban khởi nghĩa ra Quân lệnh số 1 cho đồng bào và chiến sỹ cả nước nhanh chóngvùng dậy giành quyền độc lập

Ngày 16/8/1945, Đại hội Quốc dân họp ở Tân Trào (Tuyên Quang) thông qua 10chính sách lớn của Việt Minh; thông qua Lệnh tổng khởi nghĩa; quyết định Quốc kỳnền đỏ ở giữa có sao vàng năm cánh; chọn bài Tiến quân ca làm Quốc ca và bầu ra

Ủy ban Dân tộc giải phóng Trung ương tức Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh làmChủ tịch

Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi đồng bào và chiến sỹ cả nước: “Giờ

quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta.”

Hưởng ứng lệnh tổng khởi nghĩa của Đảng, lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ ChíMinh, đồng bào cả nước, triệu người như một, nhất tề đứng lên với tinh thần "Dù hisinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành chođược độc lập" Ở các tỉnh xa chưa nhận được lệnh tổng khởi nghĩa, nhưng thấm

Trang 2

nhuần chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" căn cứ vào tình hìnhthực tế ở địa phương, các cấp uỷ Đảng và Ban Việt Minh đã chủ động kịp thời phátđộng nhân dân nổi dậy.

+ Từ ngày 14/8 đến ngày 18/8, nhiều xã, huyện thuộc phần lớn các tỉnh ở Bắc Kỳ,một số tỉnh ở Trung Kỳ và Nam Kỳ đã nối tiếp nhau chớp thời cơ đứng lên giànhchính quyền

+ Ngày 16/8/1945, một đơn vị giải phóng quân do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huyxuất phát từ Tân Trào tiến về thị xã Thái Nguyên , mở đầu cuộc tổng khởi nghĩa vũtrang giành chính quyền trong cả nước Quân giải phóng chiếm nhiều vị trí, bao vây

và tiến công quân Nhật trong thị xã

+ Tại Hà Nội, ngày 15/8/1945, Uỷ ban quân sự cách mạng Hà Nội (tức Uỷ ban khởinghĩa) đã được thành lập Uỷ ban đã khẩn trương hoàn thành kế hoạch khởi nghĩa.Quần chúng ở nội ngoại thành đã sẵn sàng xuống đường Chính quyền bù nhìn rệu rãđến cực điểm Khâm sai Bắc Kỳ đã bỏ nhiệm sở ở Hà Nội Điều kiện khởi nghĩa ở

Hà Nội đã chín muồi Ngày 18/8, Uỷ ban quân sự cách mạng đã lãnh đạo nhân dânkhởi nghĩa giành chính quyền Ngày 19/8, hàng chục vạn nhân dân nội, ngoại thànhvới khí thế cách mạng sục sôi xuống đường biểu dương lực lượng Cuộc biểu tình thị

uy nhanh chóng biến thành khởi nghĩa giành chính quyền Quần chúng lần lượtchiếm Phủ khâm sai Bắc Kỳ Sở mật thám, Sở cảnh sát Trung ương, Sở bưu điện,Trại bảo an binh Hơn 1 vạn quân Nhật không dám chống cự, phải giao chính quyềncho nhân dân Cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội thắng lợi đã cổ vũ các địa phương trong cảnước

+ Tại Huế, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền đã nổ ra ngày 23/8 Hàng chục vạnnhân dân nội thành đã biểu tình thị uy, chiếm các công sở Chiều 30/8, trước cuộc míttinh của hàng vạn nhân dân tham dự tại Ngọ Môn, Bảo Đại đã nộp ấn kiếm cho pháiđoàn Chính phủ Trung ương lâm thời Chế độ phong kiến mục nát đã sụp đổ

+ Ở Sài Gòn, sáng 25/8 quần chúng tràn xuống đường phố chiếm Sở cảnh sát, Nhà

ga, Bưu điện, Nhà máy điện, giành toàn bộ chính quyền Thắng lợi ở Sài Gòn có ảnhhưởng quyết định đối với cuộc khởi nghĩa ở Nam Kỳ

+ Tiếp đó lực lượng khởi nghĩa lần lượt giành chính quyền ở các tỉnh Hồng Gai, Sơn

La, Cần Thơ (26/8), Rạch Giá (27/8) Hà Tiên, Đồng Nai Thượng (28/8)

Như vậy, chỉ trong nửa cuối tháng Tám năm 1945, chính quyền của bọn đế quốc,phong kiến và tay sai thống trị gần 100 năm bị đập tan và chế độ quân chủ tồn tạihàng nghìn năm bị xóa bỏ vĩnh viễn, chế độ thuộc địa nửa phong kiến sụp đổ Lầnđầu tiên, chính quyền cả nước thật sự thuộc về tay nhân dân ta Cách mạng thángTám thành công

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã mở đường đưa dân tộc ta tiếnhẳn vào kỷ nguyên mới trong lịch sử của mình: Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủnghĩa xã hội Lần đầu tiên trong lịch sử, một nhà nước công nông ra đời ở Việt Nam,nhân dân ta từ người nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh củamình Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa và nửa phong kiến trở thành một nướcđộc lập tự do và dân chủ

Ngày 19-8-1945, khi khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Hà Nội, lãnh tụ

Hồ Chí Minh rời Tân Trào (Tuyên Quang) về Hà Nội Người ở và làm việc tại số nhà

48 phố Hàng Ngang Tại đây, Bác đã soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập, làm việc cùngcác đồng chí trong Ban Thường vụ Trung ương Đảng và Ủy ban Giải phóng dân tộc,chuẩn bị cho ra mắt Chính phủ lâm thời và Ngày Lễ tuyên bố Độc lập của đất nước Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), trước cuộc mít tinh lớncủa hàng chục vạn nhân dân đủ các tầng lớp ở thủ đô và các vùng lân cận, Chủ tịch

Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời và toàn thể nhân dân Việt nam trịnh trọng

Trang 3

đọc Tuyên ngôn Độc lập,tuyên bố với toàn thể quốc dân và thế giới: “Tất cả các dân

tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do… Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật

đã thành một nước tự do độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.”

Soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã kế thừa, tổng kết tiến trình lịch

sử dân tộc, nhất là thời kỳ đấu tranh cách mạng do Đảng lãnh đạo và chú trọng nhữnggiá trị pháp lý quốc tế Bản tuyên ngôn độc lập là kết tinh ý chí tự lực, tự cường củadân tộc, từ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” đến “núi sông bờ cõi đã chia” và sángngời “nền văn hiến”; đồng thời, kế thừa và phát triển những giá trị tiến bộ của nhânloại

Bản Tuyên ngôn đề cao những giá trị về quyền con người và từ quyền con người,Bác đã nâng lên quyền của các dân tộc Mở đầu Tuyên ngôn, Hồ Chí Minh trích dẫn

bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng.

Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy,

có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” Tiếp đó, Người còn

đề cập tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân

quyền năm 1791 của Pháp: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và

phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi” Đó là những tư tưởng bất hủ

về quyền con người, là những lẽ phải không ai chối cãi được.Từ việc thừa nhậnquyền tự do, bình đẳng của con người, Hồ Chí Minh đi tới khẳng định quyền của các

dân tộc: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có

quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.

Trong bản Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã tố cáo và lên án mạnh mẽ chínhsách áp bức của chủ nghĩa thực dân đối với dân tộc Việt Nam, trái với những tuyên

truyền lừa bịp của đế quốc, thực dân đối với các dân tộc thuộc địa: “Thế mà hơn 80

năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.”

Bản Tuyên ngôn cũng nêu bật cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của nhân dân

Việt Nam chống sự xâm lược của Pháp, Nhật; đồng thời khẳng định giá trị hiện thực

và cơ sở pháp lý của nước Việt Nam độc lập Tuyên ngôn nêu rõ: “Mùa thu năm

1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật Từ đó, dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật Từ đó, dân ta càng cực khổ, nghèo nàn Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc Kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói” Khẳng định hiện thực lịch sử, đồng thời Bản Tuyên ngôn

cũng làm sáng tỏ cơ sở pháp lý của nền độc lập của dân tộc Việt Nam: “Chúng tôi tin

rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không nhận quyền độc lập của dân Việt Nam”.

Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 được dựa trên cơ sở chính trị và pháp lý vững chắc

đó; đồng thời khẳng định, chủ quyền dân tộc Việt Nam được xác lập từ cuộc đấutranh lâu dài chống thực dân, phát-xít và được bảo đảm bởi những cam kết quốc tế và

Hiến chương Liên hợp quốc “Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn

80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập! Vì những lẽ trên, chúng tôi - Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.

Tuyên ngôn Độc lập là bản “Thiên cổ hùng văn,” kết tinh truyền thống lịch sửkiên cường, bất khuất của dân tộc ta, là bản anh hùng ca mở ra kỷ nguyên mới củadân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập tự do và góp phần làm phong phú về quyền tự

Trang 4

quyết của các dân tộc trên thế giới - quyền độc lập tự do Tuyên ngôn Độc lập cũng làáng văn chính luận giàu chất trí tuệ, chứa đựng những tư tưởng cao đẹp, giàu giá trịnhân bản Không khô khan, lý trí mà giàu cảm hứng, không bi lụy, cảm thương, mà

có giọng điệu hùng tráng quyết đoán, uyển chuyển, thuyết phục 70 năm đã qua, bảnTuyên ngôn Độc lập đã đi vào lòng người như sự thức tỉnh, khẳng định niềm tin vàsức mạnh của dân tộc Việt Nam vào tương lai tươi đẹp Đó là áng văn bất hủgópphần làm nên cốt cách và tâm hồn của dân tộc ta

Hoà chung trong không khí sục sôi của nhân dân cả nước nhất tề đứng dậy vớilòng quyết tâm sắt đá giành lại chính quyền về tay nhân dân Người dân quê hương

em cũng một lòng một dạ “niềm tin đi theo Đảng”, cùng nhân dân cả nước chungsức, đồng lòng đứng dậy khởi nghĩa giành chính quyền

Là một huyện ven đô, Thanh Oai – quê hương em sớm được tiếp thu ánh sángcách mạng và sự lãnh đạo của Đảng, do đó phong trào đấu tranh cách mạng đòi dânsinh dân chủ diễn ra ở nhiều nơi trong huyện Sự ra đời của tổ Đảng ở Phú Diễn cuốinăm 1940 là sự kiện quan trọng đánh dấu bước phát triển về chất của phong trào cáchmạng ở Thanh Oai, mở ra giai đoạn phát triển mới cuộc đấu tranh chống thực dân Pháptrên địa bàn huyện Đây là cơ sở Đảng đầu tiên ở huyện Thanh Oai, từ đây phong tràocách mạng ở tổng Tả Thanh Oai đã có tổ chức Đảng làm hạt nhân lãnh đạo Đầu năm

1942, chi bộ Đảng ở nhà pháo Bình Đà – cơ sở Đảng thứ 2 được thành lập trên địabàn huyện, đến năm 1944 đã phát triển 3 cơ sở Đảng Từ năm 1942 đến tháng 8/1945,các cơ sở Đảng đã tích cực xây dựng, phát triển các tổ chức cứu quốc, lực lượng tự

vệ, đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, tán phát truyền đơn, tổ chức quần chúngmít tinh, đấu tranh vũ trang…, đến tháng 3-1945 đã có hơn 10 làng có cơ sở cách mạng,lực lượng chính trị được mở rộng Ngày 13/8/1945, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc raquân lệnh số 1 “Lệnh tổng khởi nghĩa”, khắp các làng xã Thanh Oai sục sôi khí thếnổi dậy giành chính quyền Sáng ngày 27/8/1945, được sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, hàngtrăm quần chúng tự vệ vũ trang đã tổ chức biểu tình chiếm huyện lỵ Kim Bài Từđây, chính quyền cách mạng từ huyện đến xã được thành lập Dưới ngọn cờ yêunước của mặt trận Việt Minh do Đảng lãnh đạo, nhân dân Thanh Oai bằng sức mạnh

và lực lượng của mình đã đạp đổ gồng xiềng nô lệ và bộ máy chính trị chính quyền

bù nhìn từ thôn, xã đến huyện áp đặt từ hàng trăm năm trước để giành chính quyềnlàm chủ quê hương, góp phần không nhỏ vào thành công chung của Cách mạng thángTám năm 1945

Sinh thời, Bác Hồ đã từng nói “Không có gì quý hơn Độc lập, tự do” Vâng,độc lập có một vai trò, ý nghĩa hết sức to lớn đối với mỗi con người, mỗi quốc gia,mỗi dân tộc Có độc lập, con người sẽ có tất cả Có độc lập nhân dân sẽ được sốngtrong ấm no hạnh phúc, không sợ hãi về những gì chiến tranh, sự xung đột, bạoloạn gây ra Có độc lập, các quốc gia mới có những điều kiện thuận lợi để xây dựng

và phát triển nền kinh tế xã hội của mình ngày càng phồn vinh Quyền được sống vàquyền được mưu cầu hạnh phúc trong một đất nước độc lập tự do là vô cùng quý giáthiêng liêng, không ai có thể tự cho mình cái quyền can thiệp, quyền xâm hại độc lậpdân tộc của một quốc gia, dân tộc khác

Trang 5

Câu 2: Hãy giới thiệu về Văn Miếu-Quốc Tử Giám(khoảng 1-2 trang A4) Theo

em, giá trị lịch sử, văn hóa khu di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám được thể hiện ở những điểm nào?

Trả lời.

Văn Miếu- Quốc Tử Giám là quần thể di tích đa dạng và phong phú hàng đầucủa thành phố Hà Nội, nằm ở phía Nam kinh thành Thăng Long Nơi đây là chứngnhân cho những nét đẹp văn hoá lâu đời của Việt Nam, là biểu tượng cho Thủ đô HàNội

Văn Miếu được xây dựng từ năm 1070, thời vua Lý Thánh Tông, thờ các tiênthánh tiên sư của đạo Nho và dùng làm nơi dạy học Người thầy đầu tiên của VănMiếu – Quốc Tử Giám là Chu Văn An và học trò đầu tiên của Văn Miếu – Quốc TửGiám là thái tử Lý Càn Đức, con trai vua Lý Thánh Tông và Nguyên phi Ỷ Lan

Nơi đây, lúc đầu chỉ là ngôi miếu thờ Khổng Tử, Chu Công và bốn môn đồcủa Khổng tử là Nhan Uyên, Tăng Sâm, Mạnh Tử và Tử Tư Vua Lý Thánh Tôngcòn cho đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và tứ phối, vẽ hình “thất thập nhị hiền” (72người hiền) của đạo Nho để thờ cúng, bốn mùa tế lễ

Năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho xây nhà Quốc Tử Giám - trường học caocấp đầu tiên của nước ta, nằm sau Văn Miếu Khi mới xây dựng, trường chỉ dànhriêng cho các hoàng tử con vua, hoàng thân, con các đại thần, quý tộc (nên gọi tên làQuốc Tử) Đến thời Hậu Lê, Lê Thái Tổ vừa lên ngôi đã tuyển chọn các nho sinh ưu

tú ở các nơi vào Quốc Tử Giám để được các thầy giỏi giảng dạy Đời Lê Thánh Tôngđặt ra lệ khắc tên tuổi những người thi đỗ tiến sĩ vào bia đá dựng tại Văn Miếu để lưudanh

Quần thể kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám nằm trên diện tích rộng 54331m²,nằm giữa bốn dãy phố: phố Quốc Tử Giám chạy qua cổng chính bao phía Nam, phốVăn Miếu bao cạnh phía Đông, phố Tôn Đức Thắng bao cạnh phía Tây; đằng sau làphố Nguyễn Thái Học bao phía Bắc Đây là quần thể kiến trúc được quy tụ trong mộtkhuôn viên rộng rãi với năm khu chính

+ Khu thứ nhất, gồm hồ Văn, Văn Miếu môn, tức cổng tam quan ngoài cùng Trước

mặt Văn Miếu là hồ Văn Chương, tên cũ xưa gọi là Thái Hồ Giữa hồ có gò KimChâu, trên gò dựng Phán Thuỷ đường là nơi diễn ra các buổi bình văn thơ của nho sĩkinh thành xưa

Cổng chính tam quan có lầu, tầng trên gắn ba chữ “Văn Miếu môn” Kiểu dáng kiến trúc Văn Miếu môn mang nhiều nét độc đáo, nhìn bên ngoài tamquan là 3 kiến trúc riêng biệt Cửa chính giữa thực chất xây 2 tầng Mặt bằng hìnhvuông Tầng dưới to, tầng trên nhỏ chồng lên giữa tầng dưới Phía bên ngoài tầngdưới chỉ mở có một cửa cuốn, 2 cánh bằng gỗ Phía bên trong lại mở 3 cửa cuốnkhông có cánh Tầng trên làm 8 mái, 4 mái hiên và 4 mái nóc Mái tầng trên làm conglên ở 4 góc Bờ nóc cũng có đắp đôi rồng chầu mặt nguyệt

+ Khu thứ hai, từ cổng chính đi thẳng vào cổng thứ hai là Đại Trung môn Ngang

hàng với Đại Trung môn bên trái có Thành Đức môn, bên phải có Đạt Tài môn Kiến trúc Đại Trung môn được làm theo kiểu 3 gian, xây trên nền gạch cao, có máilợp ngói mũi hài, có hai hàng cột hiên trước và sau, ở giữa là hàng cột chống nóc.Gian giữa cổng treo một tấm biển nhỏ đề 3 chữ “Đại Trung môn”

Con đường thẳng từ Văn Miếu Môn tới Đại Trung môn rồi tiếp tới Khuê VănCác Khuê Văn Các xây dựng vào năm 1805, đời Gia Long triều Nguyễn là côngtrình kiến trúc tuy không đồ sộ song tỷ lệ hài hòa và đẹp mắt Gác “vẻ đẹp sao Khuê”

là một lầu vuông hai tầng, chồng diêm tám mái, bao gồm bốn mái thượng và bốn mái

hạ, cao gần chín thước.Kiểu dáng kiến trúc khá độc đáo gồm 4 trụ gạch vuông (85cm

x 85cm) bên dưới đỡ tầng gác gỗ phía trên Bao quanh bốn mặt tầng gác gỗ là hànglan can con tiện, trang trí theo đề tài bát bảo, mỗi mặt có một cửa tròn gắn trongkhung vuông có những đường nối đặc trưng cho ánh sao Khuê đang tỏa sáng Métrên sát mái phía cửa ngoài vào treo một biển sơn son thếp vàng 3 chữ “Khuê Văn

Trang 6

Các” Đây là nơi xưa kia dùng để họp bình những bài văn hay của các sĩ tử đã thitrung khoa thi hội.

Từ hai cửa Đạt Tài và Thành Đức ở hai bên cửa Đại Trung, hai con đường nhỏhơn song song với con đường trục chính giữa, chia khu vực thứ hai này thành bốn dảikhá cân bằng

+ Khu thứ ba, là khu vườn bia, chính giữa khu này là giếng Thiên Quang Giếng

Thiên Quang (Thiên Quang tinh) còn được gọi là Văn Trì (Ao Văn) Thiên Quang làánh sáng bầu trời Đặt tên này cho giếng, người xây dựng có ý muốn nói con ngườithu nhận được tinh thúy của vũ trụ, soi sáng tri thức, nâng cao phẩm chất, tô đẹp nềnnhân văn

Hai bên phải, trái của giếng Thiền Quang là hai dãy nhà bia đá lớn gọi là vườnbia, di sản có giá trị và ý nghĩa nhất của Văn Miếu - Quốc Tử Giám Bia đều đượcdựng trên lưng rùa đá Tất cả có 82 bia, mỗi bên 41 bia dựng thành 2 hàng ngang,mặt bia đều quay về phía giếng Tấm bia sớm nhất được dựng vào năm 1484, khắctên các vị Tiến sĩ đỗ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo năm thứ 3 (1442) tấm cuốicùng dựng vào năm 1780, khắc tên Tiến sĩ đỗ khoa Kỷ Hợi, niên hiệu Cảnh Hưngnăm thứ 40 (1779) Với 82 tấm bia tiến sĩ đã ghi lại họ tên, quê quán của của 1304 vịtiến sĩ đã thi đỗ trong 82 khoa thi thời Lê sơ, thời Mạc, thời Lê Trung Hưng

Mỗi bia Tiến sĩ là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo trán bia, diềm bia, chân biađều có những hình ảnh điêu khắc tinh xảo, phản ánh sinh động cảnh sinh hoạt củangười dân; hình ảnh quan văn, quan võ; các đề tài trang trí “lưỡng long chầunguyệt” Vật liệu dựng bia là đá xanh được tuyển chọn rất kỹ, việc tạo dáng và khắcbia cũng rất công phu, đòi hỏi nhiều thời gian, công sức và kỹ năng chế tác Trong 82tấm bia còn lại thì tấm nhỏ nhất cao gần 1,4m là những bia đầu tiên, bia lớn nhất làbia đời Cảnh Hưng cao đến 2,14m Giữa hai dãy bia có hai nhà bia nhỏ ghi bài vănnói về những lần tu sửa

Ngày 9/3/2010, UNESCO một tổ chức uy tín về: Giáo dục, Khoa học và Văn hóacủa Liên hiệp quốc đã công nhận 82 bia đá tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám là Di sản

tư liệu thế giới

+ Khu thứ tư, bắt đầu bằng cửa Đại Thành Qua cửa Đại Thành tới sân Đại bái, nhà

Bái đường là nơi thờ Khổng Tử, Chu Công, Tứ phối, Thất thập nhị hiền,… Nhà Đạibái trải dài suốt chiều ngang sân với 9 gian, song song với lớp thứ hai ở phía sau làhậu cung Nhà Đại bái có hai trụ đá mang dòng chữ “Canh Thìn xuân quý phụngmệnh kính lập” vâng lệnh vua lập mùa xuân năm Canh Thìn (1760) Chính giữa nhàĐại bái treo bức hoành lớn “Vạn thế sư biểu” (người thày của muôn đời) chữ của vuaKhang Hy (1662 - 1722) Trung Quốc viết tặng sứ thần ta đem về khắc vào hoành sơnson thiếp vàng Bên tả có hai bức hoành: “tập Đại thành” và “ Đức tham thiên địa”,bên hữu cũng hai bức: “Đạo quán cổ kim” và “Phúc tư vãn” Trong Đại bái còn cómột chuông lớn “Bích ung đại chung” đúc năm Cảnh Hưng (1768) do NguyễnNghiễm đứng ra làm, chuông này trước treo ở Trường Giám

+ Khu thứ năm, là khu Thái học - nền cũ của trường Quốc Tử Giám thời Lê Theo

“Kiến văn tiểu lục” của Lê Quý Đôn: “nhà Thái Học ba gian có tường ngang, lợpngói đồng…, nhà Minh Luân ba gian hai trái… Nhà giảng dạy ở phía Đông và phíaTây hai dãy đều 14 gian… phòng học của học sinh tam xá ở phía Đông và phía Tâyđều ba dãy, mỗi dãy 25 gian, mỗi gian dành cho hai người ở…” lại còn “kho để vănkhắc sách 4 gian, nhà bếp hai gian…”

Trải qua bao thăng trầm, biến động của lịch sử và tự nhiên, đến nay Văn Miếu Quốc Tử Giám vẫn giữ được dáng vẻ cổ kính với nhiều công trình kiến trúc có giá trịđặc biệt Đó là Khuê Văn Các, Đại điện Thành và các hiện vật là chứng tích củanghìn năm văn hiến như: tượng thờ, rồng đá, nghiên đá, bia tiến sĩ, và những cây đa,cây đại cổ thụ chứng kiến cảnh học hành, thi cử qua các triều đại Lý, Trần, Lê,…Những giá trị văn hóa tinh thần (phi vật thể) ẩn chứa trong văn hóa vật thể ở mảnh

Trang 7

-đất địa linh nhân kiệt này đã góp phần quan trọng làm nên truyền thống tôn sư trọngđạo, tôn trọng nhân tài, hiếu học và học giỏi của dân tộc Vào năm 1484, Lê ThánhTông cho dựng Bia của những người thi đỗ tiến sĩ từ khoa thi 1442 trở đi Một trong những di tích được coi là có giá trị bậc nhất tại Văn Miếu - Quốc TửGiám là 82 tấm Bia Tiến sĩ dựng ở hai bên phải, trái của giếng Thiên Quang Các nhà

sử học có thể tìm thấy ở đây những tư liệu về lịch sử giáo dục, về những tên tuổi gắn

bó với lịch sử dân tộc, quê quán, danh tính những bậc nhân tài được ghi cụ thể, chínhxác, thông qua đó có thể xác định tuổi cho nhiều di tích ở những nơi không ghi niênđại Các nhà địa lý có thể tra cứu những địa danh cũ để tìm ra những vùng đất cổ liênquan đến thời hiện tại Các nhà nghiên cứu triết học có thể tìm ở đây những chứng cứ

để xác định vai trò của Nho giáo ở Việt Nam Những người Việt Nam ở khắp nơicũng tới đây tìm tên họ một vị tổ nào đó thuộc dòng họ nhà mình xưa đã có tên trongkhoa bảng Đây còn là những tư liệu có hệ thống liên tục, ít nhất cũng trong vòng 3thế kỷ (từ 1484 tới 1780) về kỹ thuật điêu khắc đá Nhà nghiên cứu mỹ thuật và cácnghệ sĩ tạo hình có thể từ những hình dáng bia, rùa, hoa văn và các mô típ chạm khắctrên bia mà tìm ra tinh hoa của nghệ thuật dân tộc để phát huy, áp dụng vào nhữngsáng tạo hiện đại

Với bề dày gần 1000 năm, Văn Miếu – Quốc Tử Giám đã đào tạo cho đấtnước hàng ngàn nhân tài Đây cũng là một trung tâm giáo dục lớn nhất nước ta thờiphong kiến Cũng vì thế, các thế hệ người Việt nam xưa và nay đều tôn vinh VănMiếu - Quốc Tử Giám là trường Đại học đầu tiên của Việt nam

Văn Miếu – Quốc Tử Giám là khu di tích lịch sử mang ý nghĩa biểu trưngcho truyền thống hiếu học, trọng dụng nhân tài của dân tộc Việt Nam Từ những giátrị lịch sử, văn hóa - giáo dục to lớn đó mà ngày nay: Văn Miếu - Quốc Tử Giám luôn

là một địa chỉ du lịch nổi tiếng của Thủ đô, hàng năm thu hút hàng triệu lượt dukhách trong và ngoài nước đến tham quan Đồng thời cũng là nơi Nhà nước tổ chứctrao học hàm cho các vị giáo sư, phó giáo sư, và tổ chức lễ tuyên dương các thủ khoasau mỗi kỳ tốt nghiệp đại học, trao các giải thưởng về khoa học và giáo dục và còn lànơi tổ chức Ngày thơ Việt Nam vào ngày Rằm tháng Giêng hàng năm Đặc biệt, đâycòn là nơi các sĩ tử ngày nay đến "cầu may" trước mỗi kỳ thi

Qua bao biến đổi thăng trầm của lịch sử, Văn Miếu – Quốc Tử giám đã đi cùngThủ đô và đất nước 1000 năm tuổi, đã chứng kiến bao đổi thay của đất nước Nơi đâymãi mãi là một chứng nhân lịch sử, luôn theo dõi từng bước đi của người dân ViệtNam Nơi đây mãi mãi là biểu tượng cho văn hoá và lịch sử của Hà Nội, của ViệtNam

Câu 3: Trong lịch sử Thăng Long – Hà Nội, em thích nhất nhân vật lịch sử nào?

Vì sao? Hãy trình bày hiểu biết của em về nhân vật lịch sử đó.

Trả lời

Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử của đấu tranh dựng nước và giữ nước, có

lẽ bởi thế dân tộc Việt Nam đã sản sinh ra bao nhân tài tuấn kiệt văn võ song toàn

Đó là những cá nhân kiệt xuất, người gánh trọng trách dân tộc trên vai, là thuyềntrưởng của con tàu dân tộc trong những ngày đen tối nhất Những đấng anh minh ấy

là kết tinh của tinh hoa dân tộc, người đại diện cho sức mạnh, ước mơ, nguyện vọngcủa nhân dân

Trong suốt chiều dài 1000 năm tuổi, Thăng Long – Hà Nội có biết bao vị anhhùng tuấn kiệt, nhiều nhà lãnh đạo anh minh sáng suốt đã viết lên những trang sử hàohùng cho dân tộc như Lý Nam Đế, Triệu Việt Vương, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt,

Lê Lợi, Nguyễn Trãi, … Nhưng nhân vật em yêu thích nhất là Lý Thái Tổ - vị vuakhai mở triều Lý Đó là một con người vừa có tâm vừa có đức, uyên bác, thông hiểuđông tây kim cổ Là một vị vua luôn luôn quan tâm, lo lắng cho muôn dân trăm họ, làngười đã đưa ra quyết định quan trọng, dẫn đến những bước ngoặt lớn lao của vận

Trang 8

mệnh đất nước – quyết định dời đô từ Hoa Lư về Đại La- đây là một quyết định táobạo, dũng cảm không phải vị vua nào cũng dám làm Đó là một quyết định thể hiệntầm nhìn chiến lược của một bậc minh chủ nhằm hướng tới sự phát triển lâu dài củakinh đô, đất nước Điều đó cũng thể hiện tấm lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, làtrách nhiệm lớn của người cầm lái anh minh Sự anh minh của Lý Công Uấn còn thểhiện ở việc ông đã chọn Đại La làm nơi đóng đô Ông đã nhìn thấy ở mảnh đất này có

đủ những yếu tố địa lý, vị thế chính trị để phát triển một kinh đô vững mạnh Rõràng, sự anh minh, sáng suốt đã giúp Lý Công Uẩn đưa ra một quyết định mang tínhlịch sử Một ngàn năm trôi qua, người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế đã phải thừanhận đó là một quyết định sang suốt Lịch sử đã chứng minh điều đó, Hà Nội đã vàđang phát triển theo thế của một con rồng bay, ngày càng đi lên và được bạn bè quốc

tế yêu mến gọi bằng cái tên “Thành phố rồng bay.”

Lý Công Uẩn sinh năm 974, là người làng Cổ Pháp (nay thuộc Đình Bảng, TừSơn, Bắc Ninh, nơi vẫn còn lưu giữ ngôi đền Lý Bát Đế nổi tiếng thờ 8 vị vua triềuLý) Theo truyền thuyết, Lý Công Uẩn mồ côi cả cha lẫn mẹ, được thiền sư LýKhánh Văn nhận làm con nuôi

Về thân thế của Lý Công Uẩn, truyền thuyết kể rằng thân phụ Lý Công Uẩn làngười làm thuê ở chùa Tiêu Sơn thuộc vùng Bắc Ninh Trong thời kỳ làm công ở đây,người này phải lòng một tiểu nữ rồi làm nàng có thai Bị đuổi ra khỏi chùa, hai vợchồng bìu díu nhau đến khu rừng báng thì vừa mệt, vừa khát, bèn dừng chân nghỉngơi Người chồng để vợ ngồi lại nghỉ, còn mình tìm đến giếng nước giữa rừng lấynước uống cho cả hai vợ chồng Không may, người chồng ngã xuống giếng mà chết.Người vợ chờ lâu bèn đến giếng tìm chồng thì thấy giếng đã bị đất đùn lấp kín thànhhình bông hoa có 8 cánh Than khóc một hồi, thân xác rã rời, người vợ đành lết đi tìmnơi tá túc và may mắn được sư trụ trì chùa Ứng Tâm (nay là chùa Dặn) gần đấythương hại cho ở lại

Lại nói về sư trụ trì chùa Ứng Tâm Lý Khánh Văn Đêm trước, ông nằm mơthấy Long thần báo mộng: “Ngày mai dọn chùa cho sạch, có Hoàng đế đến” Nửathực nửa ngờ, sáng hôm sau, nhà sư sai chú tiểu quét dọn chùa sạch sẽ Thầy trò túctrực từ sáng đến chiều mới thấy người phụ nữ có thai khổ sở đến xin ngủ nhờ quađêm Sau khi nghe rõ nguồn cơn câu chuyện, nhà sư thương tình cho người phụ nữbất hạnh ở lại trong chùa chờ kỳ khai hoa mãn nhụy Mấy tháng sau, trong một đêmvần vũ, từ chái nhà nơi người phụ nữ tá túc bỗng tỏa ánh hào quang rực rỡ, hươngthơm bay ngào ngạt Thấy sự lạ, nhà sư cùng bà hộ chùa tìm đến xem thì thấy ngườiđàn bà đã trở dạ, sinh được cậu con trai kháu khỉnh, mặt mũi khôi ngô, sáng láng,trên hai bàn tay có bốn chữ son: “Sơn hà xã tắc” Người đàn bà ấy chết ngay sau khisinh được con Sau đó, trời nổi mưa giông, sấm chớp giật liên hồi Thương cảm đứa

bé mồ côi, sư Khánh Văn bèn nhận lấy làm con nuôi, đặt tên là Lý Công Uẩn KhiCông Uẩn đến tuổi đi học, thiền sư Khánh Văn bèn gửi sang chùa Lục Tổ là nơingười anh có pháp danh Vạn Hạnh làm trụ trì, nhờ thiền sư Vạn Hạnh dạy bảo

Cũng có truyền thuyết khác nói rằng mẹ Lý Công Uẩn là bà Phạm Thị Ngà,người làng Dương Lôi (Bắc Ninh) Một hôm, bà Ngà đi chùa lễ Phật, buổi trưa nằmngủ dưới gốc cây nằm mơ thấy có thần nhân đến giao hoan cùng Tỉnh dậy, bà cóthai Đến kỳ lâm bồn, bà sinh được cậu con trai, đặt tên là Lý Công Uẩn Khi CôngUẩn lên 3 tuổi, bà Ngà bèn mang Công Uẩn vào chùa cho làm con nuôi sư KhánhVăn Đoạn sau của truyền thuyết này cũng giống truyền thuyết trên

Lý Công Uẩn tư chất thông minh, sáng láng, được sư Vạn Hạnh khen “không

phải là người thường Sau này lớn lên, tất có thể giải quyết được mọi việc khó khăn, làm chúa trong thiên hạ”.

Sau này, khi được vua Lê Đại Hành sùng kính, phàm những việc lớn nhỏ trongtriều đình hay bình thiên hạ nhà vua đều tham vấn ý kiến, thiền sư Vạn Hạnh bèn tiến

Trang 9

cử Lý Công Uẩn Vào triều làm quan, Lý Công Uẩn càng tỏ rõ là người có tài thaolược, được vua Lê Đại Hành rất tin dùng Dưới triều Tiền Lê, Lý Công Uẩn đượcphong tới chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ Sau này, khi vua Lê Đại Hành băng

hà, ngôi báu được truyền cho hoàng tử thứ 3 là Lê Long Việt, tức vua Lê TrungTông Sau khi lên ngôi được 3 ngày, Lê Trung Tông bị chính em ruột của mình là LêLong Đĩnh sát hại, tiếm ngôi vua, sử gọi là Ngọa Triều Khi ấy, quần thần ai cũngkinh sợ lánh xa, duy có Lý Công Uẩn ôm xác vua Trung Tông kêu khóc Long Đĩnhkhen là người trung nghĩa bèn cho giữ nguyên chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ

Do chơi bời trác táng, Ngọa Triều bị bệnh nặng và qua đời khi mới 24 tuổi.Khi ấy, con của Long Đĩnh là hoàng tử Sạ còn quá bé, đất nước lại lâm cảnh khốnkhó do nạn tranh giành quyền lực và sự tha hóa của vua Ngọa Triều, quần thần bènđồng loạt tôn cử Lý Công Uẩn lên ngôi vua với ước mong đất nước sẽ được thái bình,thịnh trị Là người trung nghĩa, thắng thắn, Lý Công Uẩn nhiều lần từ chối lời thỉnhcầu của quần thần Vì nghĩa lớn, thái hậu Dương Vân Nga (hoàng hậu của vua Lê ĐạiHành) phải đích thân khoác hoàng bào lên người cho Lý Công Uẩn, khi ấy, Lý CôngUẩn mới nhận lời lên ngôi vua, lập ra triều Lý năm 1009

Lên ngôi báu, nhận thấy đất Hoa Lư chật hẹp, bốn bề núi giăng, không xứng làđất định đô của một quốc gia độc lập, càng khó để xây dựng đất nước phồn thịnh, LýThái Tổ bèn nghĩ tới việc dời đô “Xem khắp đất Việt”, thấy chỉ có Đại La là “nơithắng địa”, “ở trung tâm của trời đất”, “được thế rồng chầu hổ phục, đã thuận hướngnam bắc đông tây, lại tiện nghi núi sông sau trước”, “mặt đất rộng mà bằng phẳng,thế đất cao mà sáng sủa”, Lý Thái Tổ bèn soạn thiên chiếu dời đô nổi tiếng sử sách

để tham vấn ý kiến quần thần Vua tôi nhất trí đồng lòng, bèn quyết dời đô từ Hoa Lư

ra Đại La

Mùa thu năm 1010, đoàn thuyền dời đô của nhà vua cập bến thành Đại La Ngaylúc ấy, theo truyền thuyết, nhà vua nhìn thấy có hình ảnh rồng vàng bay lên, nhân đóđổi tên thành Đại La thành thành Thăng Long

Định đô tại Thăng Long, Lý Công Uẩn cho đổi tên cố đô Hoa Lư thành phủTràng An, đổi tên quê hương Cổ Pháp thành phủ Thiên Đức, chia cả nước làm 24 lộ,gọi Hoan Châu và Ái Châu là trại

Đất nước ta dưới thời vua Lý Thái Tổ trị vì rất ổn định Thiên hạ được yên ổn,nhân dân chí thú làm ăn, ngày càng no ấm Lý Thái Tổ ở ngôi từ năm 1010 đến năm

1028, lấy niên hiệu là Thuận Thiên

Đất nước ta hôm nay đang vươn lên những tầm cao mới Vai trò lãnh đạo củanhững vị thủ lĩnh quân sự một thời đã đi vào những trang sử vẻ vang Những vị vuaanh minh, thương nước, thương dân như Lý Công Uẩn đã góp phần giúp nhân dân tatạo nên sức mạnh để có thể đánh thắng bất kỳ thế lực ngoại xâm nào cho dù chúng cómạnh đến đâu Và hôm nay, chúng em, thế hệ trẻ trong thời kỳ mới, tự hào là nhữngcon người mới sẽ ra sức rèn đức, luyện tài để trở thành những công dân tốt, nhữngthủ lĩnh trẻ của một thời đại mới

Trang 10

PHỤ LỤC KÈM THEO BÀI DỰ THI “EM YÊU LỊCH SỬ VIỆT NAM”

Hình ảnh minh hoạ cho câu 1:

Hình 1: Quân lệnh số 1 của Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, ngày 13-8-1945

Hình 2: Quốc dân Đại hội tại Tân Trào ngày 16-17/8/1945

Trang 11

Hình 3: Bức tranh tái hiện Đại hội Quốc dân tại Đình Tân Trào ngày 16-8-1945 để

chuẩn bị tổng khởi nghĩa Ảnh: Tư liệu- Báo Dân trí.

Hình 4: Võ Nguyên Giáp chỉ huy quân tiến về Thái Nguyên

Hình 5: Ngày 28/8/1945, Đoàn Giải phóng quân ở Việt Bắc về duyệt binh

ở Quảng trường Nhà hát Lớn.

Ngày đăng: 05/11/2021, 18:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w