1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Ren luyen ki nang trinh bay giai bai toan co loi van cho hoc sinh lop 4

15 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 29,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dạy dạng bài giải bài toán có lời văn là cơ sở quan trọng giúp các em tiếp tục học lên các lớp trên; vì vậy, người giáo viên phải tìm tòi, nghiên cứu để có hình thức, tổ chức, phương phá[r]

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong chương trình môn Toán ở tiểu học, giải bài toán có lới văn là mạch kiến thức cơ bản xuyên suốt chương trình Việc giải toán có lời văn có vị trí quan trọng, giúp học sinh vận dụng những kiến thức về Toán, rèn luyện kỹ năng thực hành với những yêu cầu thể hiện phong phú, đa dạng; đồng thời, yêu cầu học sinh phải tư duy một cách tích cực, huy động các kiến thức vào tình huống khác nhau; là sự kết hợp

đa dạng nhiều khái niệm, nhiều quan hệ toán học Giải bài toán có lời văn không chỉ nhờ mẫu giải rồi áp dụng mà đòi hỏi phải nắm chắc khái niệm, quy luật toán, nắm chắc ý nghĩa phép tính; đòi hỏi khả năng suy nghĩ độc lập sáng tạo của học sinh Giải Toán có lời văn là học cách giải quyết vấn đề trong môn Toán, từ ngôn ngữ thông thường, trong các đề toán đưa về các phép tính kèm theo câu trả lời và cuối cùng đưa ra đáp số của bài toán Giải toán có lời văn góp phần củng cố kiến thức toán, rèn luyện kỹ năng tổng hợp về phương pháp giải toán gồm: Cách đặt vấn đề, tìm hiểu vấn đề, giải quyết vấn đề; cách đọc, viết, diễn đạt, trình bày, tính toán Ngoài ra, giải bài toán có lời văn còn là chiếc cầu nối giữa Toán học và các môn học khác góp phần phát triển tư duy cho học sinh tiểu học

Học sinh lớp 4 sau khi học giải bài toán có lời văn là các em nắm được qui trình giải một bài toán, biết cách giải bài toán có đến 4 bước tính Nhận dạng và phân biệt được các bài toán có lời văn cơ bản trong chương trình Toán ở tiểu học Hiểu được phương pháp giải đặc thù với mỗi dạng Toán đó; thực hiện đúng các bước giải, trình bày bài giải đến kết quả chính xác, hiểu được ý nghĩa các bước tính trong Vận dụng được những phương pháp giải các bài toán điển hình để giải quyết tình huống thực tiễn đơn giản có liên quan dưới dạng các bài toán có lời văn

Trên thực tế một số học sinh khi giải bài toán có lời văn có khi biết trình bày bài giải của các bài toán cơ bản nhưng còn chậm và chưa chắc chắn, còn lúng túng khi vẽ sơ đồ, vẽ hình tóm tắt bài toán, khi trình bày Đôi khi còn chưa hiểu rõ ý nghĩa thực tế của tình huống nêu trong bài toán, áp dụng công thức một cách mãy móc Có khi lời giải và các phép tính còn dài dòng hoặc thiếu chính xác, giải toán còn sai sót chưa đúng Vì vậy để giúp học sinh hiểu và tránh được khó khăn, sai sót trong khi giải quyết các bài toán có lời văn ở lớp 4, người giáo viên phải nắm chắc từng dạng toán trong chương trình Toán lớp 4 và phải có phưong pháp phù hợp

Từ nhận thức đó, để nâng cao chất lượng và rèn luyện kỹ năng giải bài toán

có lời văn trong chương trình toán 4, tôi luôn coi trọng tổ chức các hoạt động thực hành trong tất cả các tiết giảng dạy và thường xuyên nghiên cứu phương pháp

“Rèn luyện kĩ năng trình bày giải bài toán có lời văn cho học sinh lớp 4”.

Trang 2

B NỘI DUNG

I Thực trạng về phương pháp dạy giải bài toán có lời văn trong chương trình Toán 4 ở trường chúng tôi:

1 Về giáo viên:

Hiện nay vẫn còn một số ít giáo viên phương pháp dạy còn lúng túng, chưa phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh, phương pháp dạy học truyền thống đã ăn sâu vào tư duy và lề lối dạy học hàng ngày Một số giáo viên dạy còn phụ thuộc hoàn toàn vào sách hướng dẫn, dạy theo phương pháp thuyết trình có kết hợp với đàm thoại, thực chất vẫn là thầy truyền thụ, trò tiếp nhận và ghi nhớ Một

số giáo viên nắm không chắc phương pháp dạy dạng toán có lời văn; thậm chí ngại tóm tắt bằng sơ đồ hình vẽ hoặc đoạn thẳng, ít sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp trong việc giúp học sinh tìm cách giải

Một số giáo viên khi gặp tình huống sư phạm còn lúng túng không biết cách

xử lí Chưa khuyến khích động viên và giúp đỡ một cách hợp lí để tạo khí thế cho các em học tập

Một điều hết sức quan trọng là có giáo viên còn ngại hoặc lúng túng trong việc sử dụng đồ dùng dạy học khi giảng dạy nói chung và khi dạy giải toán có lời văn nói riêng Để khắc phục tình trạng này, giáo viên cần có ý thức chuẩn bị sử dụng đồ dùng dạy học trước khi lên lớp, cần cải tiến nội dung đồ dùng dạy học và phương pháp sử dụng đồ dùng dạy học sao cho có hiệu quả

Qua dự giờ một số đồng chí tôi nhận thấy giáo viên dạy bài nào chỉ cốt khai thác kiến thức của bài ấy, còn các kiến thức cũ có liên quan, giáo viên ít vận dụng,

có giáo viên còn coi nhẹ việc dạy cho học sinh kỹ năng trình bày lời giải bài toán

có lời văn vì cho rằng các em đã được học từ những lớp dưới Nhưng với học sinh

là đối tượng nằm trên địa bàn thuộc vùng khó khăn thì vốn từ, vốn kiến thức của các em còn nhiều hạn chế nên khi giảng dạy giáo viên không chú trọng đến việc rèn luyện cách diễn đạt cho các em thì các em sẽ không hiểu và không tiếp thu được kiến thức; như vậy không đạt kết quả tốt trong việc giải bài toán có lời văn Khả năng phối hợp, kết hợp với nhiều phương pháp để dạy kiến thức về dạng toán này còn thiếu linh hoạt

2 Về học sinh:

Trường chúng tôi thuộc vùng bán sơn địa, điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn; học sinh chủ yếu là con em nông dân, không chỉ học mà các em còn phải trực tiếp tham gia lao động phụ giúp bố mẹ, nên thời gian tự học rất ít phần nào ảnh hưởng đến kết quả dạy và học Ở lớp các em thường học theo kiểu chỉ hoạt động theo mẫu và

Trang 3

ghi nhớ thông tin nên việc tiếp thu kiến thức còn bị động; dẫn đến các em nắm kiến thức không sâu, khó hiểu rõ bản chất của vấn đề Học sinh mới chỉ biết sử dụng quy tắc một cách máy móc mà chưa vận dụng linh hoạt trong luyện tập thực hành để hình thành

kỹ năng, kỹ xảo

Trong các mạch kiến thức ở chương trình tiểu học thì mạch kiến thức giải toán có lời văn là mạch kiến thức khó Vì giải toán có lời văn ở lớp 4 có nhiều bước tính và đan xen nhiều mạch kiến thức khác nhau Khó khăn hơn là học sinh Nam Xuân vốn từ, vốn hiểu biết, khả năng tư duy lôgic của các em còn nhiều hạn chế Bên cạnh đó, học sinh chưa biết cách tự học, chưa học tập một cách tích cực Nhiều khi với một bài toán có lời văn các em có thể đặt và tính đúng phép tính của bài nhưng không thể trả lời hoặc lí giải tại sao các em lại có được phép tính như vậy Thực tế hiện nay cho thấy, các em thực sự lúng túng khi giải bài toán có lời văn Một số em chưa biết tóm tắt bài toán, chưa biết phân tích để tìm ra lời giải, chưa biết tổng hợp để trình bày bài giải, diễn đạt vụng về, thiếu lôgic; ngôn ngữ toán học còn hạn chế, kĩ năng tính toán, trình bày thiếu chính xác, thiếu khoa học, chưa có biện pháp, phương pháp học toán và giải toán một cách máy móc nặng nề, dập khuôn, bắt chước

Những sai sót học sinh thường gặp khi học giải toán có lời văn: Khi học sinh giải các bài toán có lời văn, một số em sai khi tóm tắt bài toán và minh hoạ bằng sơ

đồ đoạn thẳng: học sinh thường bỏ sót câu hỏi của bài toán trên sơ đồ tóm tắt Sai trong khi lập luận thiếu chặt chẽ (Ngôn ngữ dài dòng, ngôn ngữ chưa phù hợp với tình huống ứng dụng thực tế, viết chưa đúng quy ước trình bày bài giải ) Sai khi thực hành các kĩ năng tính toán để tìm đáp số Sai trong khi hiểu lầm, hiểu sai các tình huống thực tế (Nhầm lẫn thời gian và thời điểm, khái niệm tỉ số, tỉ lệ ) Sai

do không chú ý đến đơn vị đo (Bỏ mất tên đơn vị đo ở kết quả, viết nhầm tên đơn

vị đo, không đổi đơn vị đo đưa về đơn vị cùng loại trước khi tính toán )

II Nội dung, phương pháp dạy dạng bài giải bài toán có lời văn đã được tôi

áp dụng.

1 Yêu cầu đối với giáo viên:

Dạy dạng bài giải bài toán có lời văn là cơ sở quan trọng giúp các em tiếp tục học lên các lớp trên; vì vậy, người giáo viên phải tìm tòi, nghiên cứu để có hình thức, tổ chức, phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh; phải tìm hiểu một cách đầy đủ và hệ thống nội dung, phương pháp dạy học “Trình bày lời giải bài toán có lời văn” Nghiên cứu, làm sáng tỏ một số khó khăn, tồn tại và các nguyên nhân của nó trong quá trình dạy - học dạng toán này Trên cơ sở đó đưa ra

Trang 4

một số biện pháp cụ thể nhằm góp phần dạy và hình thành phát triển kĩ năng

“Trình bày lời giải bài toán có lời văn”

Giúp học sinh nhận thức được đúng quy luật phát triển từ trực quan cụ thể đến

tư duy trừu tượng trở về thực tiễn khách quan Để hình thành cho học sinh kĩ năng

và thói quen giải các bài toán có lời văn Giúp học sinh nắm vững dạng toán và cách giải cả những bài toán phức tạp không nhầm lẫn các dạng toán khác

Để dạy tốt môn Toán ở tiểu học nói chung; giải toán có lời văn cho học sinh lớp 4 nói riêng, điều đầu tiên giáo viên phải nắm chắc nội dung chương trình sách giáo khoa

Trong giờ học Toán giáo viên nên tạo không khí thoải mái, xây dựng môi trường toán học tự nhiên, gắn liền với thực tế, gần gũi với cuộc sống hàng ngày của học sinh Các câu chuyện toán học, các trò chơi toán học sẽ giúp cho các giờ học toán được thoái mái, nhẹ nhàng hơn, gây hứng thú học tập cho học sinh Nếu giờ toán nặng nề, có nhiều bài tập quá sẽ làm học sinh mệt mỏi, chán học Giáo viên tổ chức hoạt động nhóm hợp lý, đúng chỗ, đúng mục đích, sử dụng sách giáo khoa, đồ dùng dạy học phải linh hoạt và hiệu quả, tránh hình thức, lãng phí

Trong mỗi tiết học giáo viên xác định thời lượng sao cho phù hợp với chương trình và đặc điểm, trình độ học sinh trong lớp Không nhất thiết hết giờ phải hết bài, không nhất thiết phải làm hết bài tập ngay tại lớp Giáo viên phải phân loại đối tượng học sinh trong lớp, đặc biệt quan tâm đến học sinh yếu kém, phải làm cho mọi học sinh trong lớp đạt chuẩn về kiến thức, kỹ năng cơ bản đồng thời chú ý đến đối tượng học sinh khá, giỏi giúp các em không thấy nhàm chán vì bài học quá dễ Mỗi bài học có thể có những yêu cầu mức độ khác nhau, giáo viên phải xác định mức độ kiến thức, kỹ năng phù hợp với từng đối tượng học sinh để mọi học sinh đều có thể đạt yêu cầu về chuẩn kiến thức, kỹ năng

Để có giờ dạy tốt, việc chuẩn bị bài của giáo viên đóng vai trò rất quan trọng Giáo viên phải xác định rõ: Dạy cái gì? Dạy ai? Dạy nội dung này để làm gì? Dạy như thế nào? Muốn dạy hay trước hết giáo viên phải nắm chắc nội dung cần dạy, nắm vững kiến thức, hiểu đối tượng học sinh thì mới có thể đưa ra phương pháp thích hợp và chuẩn bị tổ chức cho học sinh học tập có hiệu quả

2 Phương pháp chung:

Từ cơ sở lý luận và yêu cầu trên, để giúp các em học sinh hình thành kỹ năng,

kỹ xảo, trong giải bài toán có lới văn, tôi đã xác định và tiến hành theo phương pháp chung là:

Trang 5

- Bước 1: Thường xuyên cho học sinh đọc đề bài nhiều lần trước khi làm bài,

từ đó các em hình thành thói quen đọc kỹ bài trước khi giải với mục đích xác định đâu là cái đã cho, đâu là cái phải tìm

- Bước 2: Trong quá trình giải, chữa bài tập toán ở nhà, vở bài tập in, khi giải toán đố, tôi thường xuyên cho học sinh tóm tắt Trước khi tóm tắt thường hướng dẫn cho các em có cách tóm tắt bài bằng hệ thống các câu hỏi gợi mở, bằng sơ đồ, hình vẽ hoặc ngôn ngữ, kí hiệu ngắn gọn; thông qua đó để thiết lập mối liên quan cái đã cho và cái cần phải tìm giúp học sinh có hướng tóm tắt bài toán cho đúng với yêu cầu của từng loại bài

- Bước 3: Phân tích bài toán để tìm cách giải; kết quả của bước này là xác định một trình tự để giải bài toán Giáo viên cần đưa ra hệ thống câu hỏi phù hợp gợi mở cho học sinh đi ngược từ câu hỏi của bài toán trở lại điều kiện của đầu bài

đã cho

- Bước 4: Giải bài toán Từ ba bước trên, giúp học sinh hiểu kỹ đầu bài, từ đó học sinh định hướng, tư duy và tìm ra cách giải bài toán đó; tiến hành lần lượt thực hiện các phép tính theo trình tự giải đã có để đi tới đáp số

- Bước 5: Thử lại kết quả Sau khi giải xong, cho các em thử lại kết quả Bước này giúp học sinh có cơ sở lý luận, tin tưởng vào cách làm bài của mình

Với những bài toán quá đơn giản thì có thể bỏ bớt một vài bước hoặc một vài hoạt động trong các bước trên

Để hình thành cho học sinh có kỹ năng, kỹ xảo trong giải bài toán có lời văn theo năm buớc trên, đòi hỏi người giáo viên phải thực hiện thường xuyên, liên tục Nếu chỉ nhắm vào mục đích đơn giản là phấn đấu để đạt điểm tốt trong môn toán thì chỉ cần giải đúng các bài toán là đủ Tuy nhiên ngoài công việc kể trên nếu thực sự muốn rèn luyện trí thông minh và óc sáng tạo cho học sinh của mình thì mỗi mỗi giáo viên phải tập thêm cho các em thói quen chưa tự bằng lòng mỗi khi

đã giải xong tìm ra đúng đáp số; muốn thực sự trở thành học sinh giỏi thì sau khi

đã giải xong, tìm ra đúng đáp số của bài toán, các em nên suy nghĩ tiếp tục để giải bài toán bằng cách khác Việc đi sâu vào tìm hiểu nhiều cách giải khác nhau cho một bài toán có vai trò to lớn trong việc rèn luyện kĩ năng, củng cố kiến thức, phát huy trí thông minh, đó chính là tính tích cực của học sinh trong hoạt động học Cũng như các tiết học khác, giáo viên tổ chức cho học sinh học tập theo phương pháp tích cực lấy học sinh làm trung tâm, bằng nhiều hình thức, học cá nhân, học nhóm, trò chơi học tập, tổ chức nhiều hình thức dạy học gây hứng thú cho học sinh Giáo viên chỉ là người tổ chức hướng dẫn, mọi học sinh tham gia học

Trang 6

tập, tự huy động vốn kiến thức, sự hiểu biết để chiếm lĩnh tri thức - vận dụng những tri thức đó vào thực tế - giải bài tập Giáo viên hướng dẫn để học sinh sử dụng vốn hiểu biết để hình thành kiến thức mới một cách nhẹ nhàng, động viên học sinh tập suy nghĩ, quan sát, diễn đạt, thực hiện hoạt động học tập theo cách riêng của mình

3 Thực hành trên lớp:

Với phương pháp dạy học mới lấy học sinh là trung tâm; vì vậy khi giảng bài, giáo viên không được làm thay mà phải tổ chức, hướng dẫn học sinh hoạt động học tập để giúp các em đạt được những yêu cầu của môn học

Trong các dạng toán có lời văn ở lớp 4, tôi chú ý vào các dạng toán sau:

a- Tìm số trung bình cộng:

Bài 1: Trên một công trường đường sắt người ta đã đắp được 715 m đường trong ngày thứ nhất, 815 m đường trong ngày thứ hai Ngày thứ ba có mưa nên chỉ đắp được 528 m đường Hỏi trung bình mỗi ngày đắp được bao nhiêu mét đường?

Để giải được bài toán trên trước hết học sinh phải đọc kĩ đề để tìm hiểu xem

đề bài cho biết gì? yêu cầu tìm gì? sau đó học sinh tóm tắt rồi giải bài toán

Giải:

Cách giải thông thường

Trong 3 ngày người ta đắp được

715 + 815 + 528 = 2058 (m)

Trung bình mỗi ngày người ta đắp được

2058 : 3 = 686 (m)

ĐáP Số: 686 m

Cách giải khác:

Trung bình mỗi ngày người ta đắp được (715 + 825 + 528) : 3 = 686 (m)

Đáp Số: 686 m

Bài 2: Một đội dân công đắp đê phòng lụt, 4 ngày đầu mỗi ngày đắp được

115 m, 6 ngày sau mỗi ngày đắp được 140 m Hỏi trung bình mỗi ngày đội dân công đó đắp được bao nhiêu mét đê

Giải:

Cách giải thông thường

4 ngày đầu đắp được

115 x 4 = 460 (m)

Cách giải khác:

Số m đê đắp được

115 x 4 + 140 x 6 = 1300 (m)

Trang 7

6 ngày sau đắp được

140 x 6 = 840 (m)

Số đê đã đắp được

460 + 840 = 1300 (m)

Số ngày làm việc

4 + 6 = 10 ngày

Trung bình mỗi ngày đắp được

1300 : 10 = 130 (m)

Đáp Số: 130 m

Đây là cách giải giống như sách

giáo khoa và cũng là cách giải của giáo

viên soạn trong giáo án, tuy nhiên không

phải em nào cũng tuân thủ giải như đáp

án của giáo viên mà các em có thể làm

cách khác theo em là đúng

Trung bình mỗi ngày đắp được

1300 : (4 + 6 ) = 130 (m) ĐáP Số: 130 m

Từ cách giải này giáo viên rút ra lưu ý cho học sinh “Có thể thay phép cộng các số hạng bằng nhau bởi phép nhân ”

b) Đối với dạng toán “Tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó”.

Dạng toán này học sinh thường giải theo cách thông thường tìm số bé rồi tìm

số lớn

Bài toán: (Bài 2 trang 47)

Một lớp học có 28 học sinh Số học sinh trai hơn số học sinh gái là 4 em Hỏi lớp học đó có bao nhiêu học sinh trai, bao nhiêu học sinh gái?

Để giải được bài toán trên, trước hết học sinh phải đọc kĩ đề để tìm hiểu xem: + Đề bài cho biết gì? (lớp có 28 học sinh, số học sinh trai nhiều hơn số học sinh gái là 4 em có nghĩa là Tổng bằng 28, Hiệu bằng 4)

+ Yêu cầu gì? (Tìm số học sinh trai, số học sinh gái của lớp đó?.)

+ Làm thế nào để Tìm số học sinh trai, số học sinh gái của lớp đó?

(Trước hết đi tìm hai lần số học sinh gái: Lấy tổng trừ đi hiệu

Số học sinh gái: Hai lần số học sinh gái chia 2

Số học sinh trai: Tổng trừ đi số học sinh gái )

+ Học sinh tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng

Trang 8

Học sinh trai: ?

Học sinh gái: ? 4 28 học sinh

Từ gợi ý trên sẽ lập được sơ đồ phân tích như sau:

Hai lần số học sinh gái là: ( Tổng – Hiệu)

Số học sinh gái là: ( Tổng – Hiệu ) : 2

Số học sinh trai là: Tổng – số học sinh gái.

Nhìn vào sơ đồ phân tích học sinh sẽ giải được bài toán một cách dễ dàng

Giải:

Cách giải thông thường

Hai lần số học sinh gái là:

28 – 4 = 24 ( học sinh)

Số học sinh gái của lớp đó là:

24 : 2 = 12 ( học sinh)

Số học sinh trai của lớp đó là:

28 – 12 = 16 ( học sinh)

Đáp số: Học sinh gái: 12 học sinh

Học sinh trai: 16 học sinh

Cách giải khác:

Số học sinh gái của lớp đó là: (28 – 4) : 2 = 12 ( học sinh)

Số học sinh trai của lớp đó là:

28 – 12 = 16 ( học sinh) Đáp số: Học sinh gái: 12 học sinh Học sinh trai: 16 học sinh

Song song với dạng toán về tìm hai số khi biết tổng và hiệu của chúng ta còn dạng toán có lời văn về Tìm hai số khi biết tổng và tỉ

c) Đối với dạng toán ‘’ Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai số đó ’’

Dạng toán này học sinh thường giải theo cách: Trước hết tính số phần bằng nhau, sau đó đi tìm giá trị của một phần và cuối cùng tìm lần lượt từng số

Bài toán : (Bài 2 trang 148)

Một người đã bán được 280 quả cam và quýt, trong đó số cam bằng 25 số quýt Tìm số cam, số quýt đã bán.

Để giải được bài toán trên, trước hết học sinh phải đọc kĩ đề để xác định được đâu là tổng và đâu là tỉ rồi tìm hiểu xem:

Trang 9

+ Đề bài cho biết gì? (Bán được 280 quả cam và quýt; 280 chính là tổng của quả cam và quýt, cam bằng 25quýt; 25chính là tỉ số của quả cam và quýt )

+ Yêu cầu gì? ( Số cam, số quýt đã bán.)

+ Làm thế nào để tính số cam, số quýt đã bán? (ta tìm tổng số phần bằng nhau, sau đó đi tìm số quả cam, quả quýt đã bán)

+ Học sinh tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng

Cam : ?

Quýt : ? 280 quả

Từ gợi ý trên sẽ lập được sơ đồ phân tích như sau:

Tổng số phần bằng nhau: ( 2 + 5 = 7 (phần))

Đi tìm giá trị của 1 phần: Tổng : tổng số phần

Số quả cam người đó đã bán là: Giá trị của 1 phần số phần của quả cam.

Số quả quýt người đó đã bán là: tổng – số quả cam đã bán

Nhìn vào sơ đồ phân tích học sinh sẽ giải được bài toán một cách dễ dàng

Giải:

Cách giải thông thường:

Tổng số phần bằng nhau là :

2 + 5 = 7 (phần)

Giá trị của 1 phần là:

280 : 7 = 40 (quả)

Số quả cam người đó đã bán là:

40 x 2 = 80 ( quả)

Số quả quýt người đó đã bán là:

280 - 80 = 200 ( quả)

Đáp số: Cam 80 quả

Quýt 200 quả

(Dành cho đối tượng trung bình yếu)

Cách giải khác:

Số quả cam người đó đã bán là:

280 : ( 2 + 5 ) x 2 = 80 ( quả )

Số quả quýt người đó đã bán là:

280 - 28 = 200 ( quả) Đáp số: Cam: 80 quả

Quýt: 200quả (Dành cho đối tượng HS khá, giỏi)

Trang 10

Trong việc dạy học sinh giải toán có lời văn giáo viên không phải nhất thiết bắt buộc các em là em nào cũng làm như nhau về từng bước của giáo viên hướng dẫn và SGK Trong lớp bên cạnh những em học sinh trung bình, yếu, lớp còn có học sinh khá, giỏi Chính vì thế ta có thể khuyến khích động viên các em tìm tòi để giải bài toán bằng cách khác nhưng kết quả vẫn không thay đổi

d) Đối với dạng toán “ Tìm hai số khi biết hiệu và tỉ của hai số đó”.

Dạng toán này tương tự như dạng toán “Tìm hai số khi biết tổng và tỉ của hai

số đó” Học sinh thường giải theo cách: Trước hết tính số phần bằng nhau, sau đó

đi tìm giá trị của một phần và cuối cùng tìm lần lượt từng số

Bài toán : (Bài 2 trang 151)

Người ta dùng số bóng đèn màu nhiều hơn số bóng đèn trắng là 250 bóng đèn Tìm số bóng đèn mỗi loại, biết rằng số bóng đèn màu bằng 53 số bóng đèn trắng.

Để giải được bài toán trên, trước hết học sinh phải đọc kĩ đề để xác định được đâu là hiệu và đâu là tỉ rồi tìm hiểu xem:

+ Đề bài cho biết gì? (bóng đèn màu nhiều hơn bóng đèn trắng 250 bóng chính là hiệu của bóng đèn màu và bóng đèn trắng, bóng đèn màu bằng 53bóng đèn trắng chính là tỉ số của hai loại bóng đèn)

+ Yêu cầu gì? ( bóng đèn màu, bóng đèn trắng.)

+ Làm thế nào để tính số bóng đèn màu, bóng đèn trắng ? (ta tìm hiệu số phần bằng nhau, sau đó đi tìm số bóng đèn màu, bóng đèn trắng)

+ Học sinh tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng

Bóng đèn trắng: ? 250

Bóng đèn màu : ?

Từ gợi ý trên sẽ lập được sơ đồ phân tích như sau:

Hiệu số phần bằng nhau: ( 5 - 3 = 2 (phần))

Tìm giá trị của 1 phần: Hiệu : hiệu số phần

Số bóng đèn màu là: Giá trị của 1 phần số phần của bóng đèn màu

Số bóng đèn trắng là: Hiệu – số bóng đèn màu

Nhìn vào sơ đồ phân tích học sinh sẽ giải được bài toán một cách dễ dàng

Ngày đăng: 02/11/2021, 19:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w