Cụ thể, bằng lời giới thiệu, thuyết minh em giúp các bạn và du khách: - Hiểu biết về vị trí, kiến trúc, lịch sử hình thành đình làng Ngọc Lũ, Nhà thờ Lương Quận Công Trần Như Lân – một n[r]
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NAM PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BÌNH LỤC
BÀI DỰ THI VẬN DỤNG KIẾN THỨC LIÊN MÔN
ĐỂ GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG THỰC TIỄN
Năm học 2015 - 2016
Trường: THCS NGỌC LŨ
Địa chỉ: Đội 04, xã Ngọc Lũ, Huyện Bình Lục, Tỉnh Hà Nam Điện thoại: 0984816186
Thông tin về thí sinh sinh:
1 Nguyễn Thu Hằng
- Sinh ngày 03 tháng 8 năm 2001.
- Học sinh lớp 9C.
2 Lê Thị Thủy.
- Sinh ngày 23 tháng 3 năm 2001
- Học sinh lớp 9A.
Người hướng dẫn: Trần Đức Toàn – giáo viên THCS Ngọc Lũ
Trang 21 Tình huống cần giải quyết là:
Một đoàn khách thiếu nhi từ Hà Nội đến xã Ngọc Lũ dự lễ hội Đình làng đồng thời để tham quan Những người khách ấy đến gặp nhà trường
đề nghị giới thiệu về một số điểm di tích lịch sử của xã nhà
Em được cử làm người giới thiệu cho đoàn du khách ấy Em hãy viết một bài văn giới thiệu về quê hương mình cho du khách.
2 Mục tiêu giải quyết tình huống:
Bằng những kiến thức thực tiễn trong cuộc sống và kiến thức của các môn học mà bản thân được học, tìm hiểu Thuyết trình, giới thiệu cho mọi người thấy được một số địa danh lịch sử của địa phương, quê hương về nguồn gốc, vị trí địa lí, nghệ thuật, lịch sử, hoạt động văn hóa, tâm linh, dân gian
Cụ thể, bằng lời giới thiệu, thuyết minh em giúp các bạn và du khách:
- Hiểu biết về vị trí, kiến trúc, lịch sử hình thành đình làng Ngọc Lũ, Nhà thờ Lương Quận Công Trần Như Lân – một ngôi nhà thờ tiêu biểu trong hơn
50 dòng họ của địa phương, giúp du khách sẽ yêu danh lam thắng cảnh hơn
- Tuyên truyền, giáo dục về tình yêu danh lam thắng cảnh, công trình kiến trúc, nơi thờ tự và biết giữ gìn bảo vệ, tôn tạo, phát triển danh lam thắng cảnh
ở địa phương
- Bản thân vận dụng được nhiều kiến thức của các môn học trong việc giới thiệu di tích lịch sử của quê hương từ đó thấy được ích lợi của việc tự học
và ý nghĩa của các kiến thức đối với đời sống hàng ngày
3 Tổng quan về các nghiên cứu liên quan đến việc giải quyết tình
huống.
Cần kết hợp các tri thức khách quan ở địa phương:
- Lịch sử hình thành và phát triển của xã Ngọc Lũ
- Đặc điểm địa lý, địa hình của xã
- Đặc điểm các di tích lịch sử, kinh tế, văn hóa xã hội của xã
a) Tổng quan.
Dùng lời văn thuyết mimh, giải thích và dẫn dắt thông qua những kiến thức thực tiễn và tranh ảnh, con số cụ thể để minh họa cho người nghe hiểu và thấy được một số địa danh lịch sử tiêu biểu của quê hương mình
b) Các kiến thức liên quan đến tình huống:
- Môn Địa lí: Giới thiệu về vị trí, diện tích đình làng và nhà thờ Trần Như
- Môn Lịch sử: Giới thiệu về nguồn gốc, sự hình thành và phát triển của đình làng, lễ hội, ý nghĩa của lễ hội Hiểu về nhà thờ nơi thờ tự, tụ họp của các dòng họ trên đất Ngọc Lũ
- Môn Mĩ thuật: Giúp du khách hình dung về kiến trúc cổ
- Môn Văn học: Sử dụng phương pháp của bài thuyết minh, giới thiệu, trình bày, làm sáng tỏ một địa danh, vấn đề nào đó
- Môn GDCD: Khơi dậy lòng yêu nước, niềm tự hào về quê hương nói chung đặc biệt đối với mảnh đất Ngọc Lũ nói riêng
4 Giải pháp giải quyết tình huống.
Trang 3a) Giải pháp 1: Tìm hiểu, thu thập thông tin, kiến thức có liên quan.
- Tham khảo các tài liệu viết về xã nhà
- Tìm hiểu từ cuốn: Lịch sử Đảng bộ xã Ngọc Lũ giai đoạn 1930 - 2005
- Số liệu về tự nhiên, KT-HX của xã qua các ban ngành đoàn thể của UBND
- Thu thập thông tin từ người dân, đặc biệt là những người cao tuổi trong xã
b) Giải pháp 2: Phương thức, cách thức giải quyết tình huống.
- Cùng du khách đến thăm di tích lịch sử đình làng, giới thiệu với du khách cụ thể, chi tiết từng phần
- Bản thân tìm tài liệu bài viết thuyết minh, tìm tòi kíên thức có liên quan đến các bộ môn đã học ở nhà trường để giải quyết tình huống
- Hội ý nhóm, tham khảo ý kiến của bạn bè Tham khảo những ý kiến cố vấn của các thầy cô giáo
- Tìm hiểu lịch sử địa phương viết về đình làng Ngọc Lũ, nhà thờ Trần Như
- Tham khảo ý kiến của những người xung quanh, đặc biệt là các cụ già trong làng, những người từng gắn bó với quá trình phát triển của làng.
5 Thuyết minh tiến trình giải quyết tình huống.
Tôi được sinh ra và lớn lên trên quê hương Ngọc Lũ – nơi lưu giữ trống đồng lịch sử Dù có đi bất cứ nới đâu, có lẽ mảnh đất thân thương ấy vẫn luôn trong trái tim tôi Ngay từ khi còn rất bé, tôi đã rất ấn tượng với tên làng, tên đất nơi đây!
Ngọc Lũ quê tôi tên nôm được gọi là làng Chủ, được hình thành từ
khá sớm Các dòng họ đã quần tụ ở đây cùng nhau vun đắp, xây dựng nên quê hương!
Những người dân đầu tiên của Ngọc Lũ đã sinh sống, làm ăn ở ven vùng thành Cổ Loa, với địa danh là Khả Lũ, Chạ Chủ rồi Kim Lũ Do yêu cầu
xây dựng loa Thành để chống giặc phương Bắc, Vua Hùng đã cho dời dân ở vùng này đi nơi khác Một số người đã di chuyển về hạ lưu sông Hồng và ven sông Châu (Châu Giang ngày nay) lập ấp sinh sống, trong đó có mảnh đất
Ngọc Lũ ngày nay Đến thế kỷ XIX, thấy tên Kim Lũ Phạm Húy, Vua Gia Long cho đổi thành Ngọc Lũ Từ đó đến nay mảnh đất này có tên là Ngọc Lũ hay tên người dân thường gọi là đất Ngọc, tên gọi đó còng đã tồn tại cách đây
gần 200 năm
Năm 1838, xã Ngọc Lũ thuộc huyện Bình Lục, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nội, xứ Bắc Kỳ Năm Thành Thái thứ II, huyện Bình Lục được tách khỏi Phủ
Lý Nhân, nhập vào tỉnh Nam Định, Ngọc Lũ thuộc huyện Mỹ Lộc Tháng
10-1980, tỉnh Hà Nam được thành lập, một phần của Mỹ Lộc, trong đó có Ngọc
Lũ được cắt về Bình Lục
Theo sách Địa Dư huyện Bình Lục, xuất bản năm 1935, Ngọc Lũ được chia thành 4 mạn: Mạn Bến đò gồm 4 xóm Bến Đò, Giáp Giáo, Đông Khu, Tân Tùng Mạn Cầu Giang gồm 5 xóm là Cầu Giang, Cửa Hậu, Thượng Lang, Trung Lang và xóm Dinh Mạn Chợ có 5 xóm: Bình Hà, Trang Thượng, Trung
Trang 4Trang, Chợ, Kênh Mạn Sốc Đông có một khu Đông Thành và 4 xóm: ngoài Thượng, Tân Trung, Sốc Đông, Thái Bình
Hiện nay Ngọc Lũ quê tôi có 12 đội tương ứng với 12 thôn xóm là: Tân Tùng, Tân Trung, Đông Khu, Trang Thượng, Thái Bình, Sốc Đông, Bến Đò, Kênh, Trung Lang, Thượng Lang, Dinh, Giáp Giáo Diện tích tự nhiên của Ngọc Lũ là 1.154 mẫu bắc Bộ Một làng quê nằm bên bờ sông Châu Giang thơ mộng, giáp với xã Nhân Chính, Nhân Nghĩa của Lý Nhân và xã Hưng Công,
Bồ Đề của Bình Lục
Quê tôi không có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng nhưng ở đây lại
có rất nhiều cảnh đẹp, trong đó có ngôi đình làng cổ kính
Đình Ngọc Lũ được tọa lạc ở xóm Trung Lang – Đội 9, đình làng Ngọc
Lũ nằm ở nơi có địa thế, cảnh quan thơ mộng, hữu tình Đây là trung tâm sinh hoạt văn hóa của nhân dân trong xã, là nơi hội tụ những tinh hoa của mảnh đất
và con người Ngọc Lũ, biểu trưng cho tinh thần, đời sống tâm linh và bề dày lịch sử, truyền thống văn hóa của nhân dân địa phương
Toàn cảnh Đình làng Ngọc Lũ (tư liệu)
Đình làng Ngọc Lũ thờ Câu Mang Đại Vương cùng hai ông Minh Công, Tuệ Công là các tướng tài của đất nước từ thời kỳ Hùng Vương đã có công đánh giặc giữ nước
Tương truyền rằng, vào một ngày, ba ông đến huyện Mỹ Lộc, phủ Thiên
Trường, khu Kim Lũ (Ngọc Lũ ngày xưa) – nơi đang bị dịch bệnh hoành hành.
Cũng trong đêm đó, nhân dân địa phương nằm mộng thấy các âm hồn gia tiên
về báo cho biết: “Hiện nay có thủy thần, thiên tướng – ba vị đại vương đang phụng mệnh nhà vua đi tuần thú thiên hạ, tiễu trừ ôn quỷ cứu trợ nhân dân trừ
tà trị bệnh” Sáng sớm hôm sau, khi nhân dân còn đang bàn tán về giấc mộng
kì lạ thì bỗng thấy xe ngựa, quân sỹ của ba ông tiến đến Ba ông lưu quân sĩ ở lại ba ngày giúp đỡ nhân dân
Thiết nghĩ đó là lẽ trời đã định, nhân dân địa phương nguyện theo làm thần tử Ba ông vui vẻ nhận lời, truyền cho nhân dân xây dựng cung sở để sau này làm chỗ trú quân qua lại Nhân dân Kim Lũ lập hành cung ở đầu ấp Thế đất phía trước giống hình con rùa đeo ấn, nước chảy xung quanh Phía trước có
Trang 5sông, phía sau có đầm Dân cư ở theo một dải như rồng uốn khúc Dòng nước phía trước có sông ăn thông với đầm phía sau, uốn khúc tạo thành hình như đóa hoa lan Trước có gò cao theo hình mộc làm ngoại án Sau có đầm nước giữ đầy lưu thông Trái, phải, trước, sau đối xứng, quả là thế đất hiển quí cao sang Tất cả đều chầu về cung chính theo hướng quý đinh (gần chính hướng Bắc–Nam) Quay về hướng giáp canh (gần chính hướng Đông–Tây) Đó là khu đất rồng quý giá Nhân dân Kim Lũ theo lệnh ba ông khởi công xây dựng hành cung tại đó
Đình được xây dựng trên một khu đất khoảng hơn 1000m2 mặt quay về hướng Nam Theo truyền thuyết địa phương trước kia đình được xây dựng ở bên tả sông Hồng Sau đó, dòng sông bị lở và bỗi đắp, thay đổi nhiều, sau đó làng Chủ mới được hình thành và định cư lâu dài trên mảnh đất hiện nay Làng Chủ đã trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử và thay đổi của cuộc sống, đặc biệt là hai cuộc kháng chiến trống Thực Dân Pháp và Đế quốc Mỹ
Trong cuộc kháng chiến chống Thực Dân Pháp và đến Quốc Mỹ, Đình làng Ngọc Lũ đã là nơi sinh hoạt của Chi bộ Đảng và nhân dân Ngọc Lũ, nơi
đã đưa ra nhiều quyết sách để giải phóng và bảo vệ quê hương đất nước Cho nên nơi này đã bị bọn xâm lược đánh phá ác liệt, nhiều lần, khu đình làng Ngọc Lũ dường như đã bị phá hủy hoàn toàn
Khung cảnh hậu cung của Đình làng (ảnh minh họa)
Những năm vừa qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cùng nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân địa phương, đình Ngọc Lũ được trở lại đúng với ý nghĩa và giá trị vốn có của nó, là nơi thờ cúng các vị tiền nhân thể hiện tinh thần “Uống nước nhớ nguồn” Hiện nay nhân dân địa phương đã hoàn thiện được toà Trung đường và Cung cấm Trung đường và Hậu cung xây hình chữ đinh Trung đường gồm có ba gian, cánh cửa gỗ lim, nền lát gạch đỏ, mái lợp ngói nam, được xây với kích thước rộng 7,5m, sâu 5,5m, cao 12m Bờ nóc đắp hoạ tiết lưỡng long chầu nguyệt Hai góc dựng hai cột với thế thắt cổ bồng, thân tạo khung gỗ chỉ để đắp câu đối chữ Hán Đỉnh cột có Nghê chầu vừa tạo cảm giác vững chãi, bề thế, vừa tôn vinh sự thanh thoát cho đình
Có 2 bộ vỉ kèo làm bằng gỗ lim, làm theo kết cấu cối giang kèo cầu Gánh đỡ hệ thống kèo là hai hàng cột thân tròn đỡ câu đầu tạo hình cánh sen Trên cột có đeo câu đối chữ Hán Giữa Trung đường có đặt một nhang án và bát hương công đồng Hai bên có cửa xây cuốn hình bán nguyệt thông xuống hậu
Trang 6cung Hậu cung cao 5m Trần xây cuốn vòm, bờ bảng uốn lượn giật cấp có đắp đấu trụ hình vuông Giữa hậu cung đặt nhang án và bài vị của Thành hoàng Hổ Mang Đại Vương Bên tả là bài vị công thần Tô Trung Tự, bên hữu có bài vị tiên tổ chủ tộc thần vị Phía trước Trung đường và Hậu cung là một khoảng sân rộng Tường hồi xây gạch kiểu miết mạch, kích thước mặt tiền rộng 13m, sâu 7,5m được tạo thành 5 gian có tạo tam cấp để lên xuống Đường vào di tích được làm rộng rãi hai bên là hai hàng cây gồm cau vua, vạn tuế, nhã… tạo nên
vẻ đẹp vừa bề thế, vững chãi vừa tạo sự thanh thoát cho đình
Quả thật đình làng Ngọc Lũ là công trình kiến trúc được tu sửa nhiều lần nên ngày nay đã bị biến đổi khá nhiều so với yếu tố nguyên trạng Những năm gần đây với ý thức giữ gìn và phát huy di sản văn hoá của cha ông, chính quyền và nhân dân Ngọc Lũ đã không ngừng tu bổ để di tích ngày một khang trang hơn Đến cuối năm 2014 bằng nhiều nguồn vốn đầu tư và nhiều tấm hảo tâm, của các tổ chức, cá nhân là con em Ngọc Lũ ở khắc nơi trên đất nước nên ngôi Đại đình Ngọc Lũ được khơi công tu bổ, đến nay đang vào thời kỳ hoàn thiện!
Toàn cảnh ngôi Đại đình- Ngọc Lũ đang được phục dựng, tháng 11-2015
Đình làng Ngọc Lũ quê em đã được Bộ VH–TT&DL cấp bằng công nhận Di tích lịch sử, văn hóa cấp Quốc gia ngày 26/01/2006
Đình Ngọc Lũ không những có bề dày lịch sử đối với người dân nơi đây
mà nó còn là nơi lưu giữ nhiều tập tục, tín ngưỡng văn hóa từ lâu đời nay Trải qua thơi gian, Nhiều đời vua chúa đã ban sắc phong công nhận ngôi đình làng Ngọc Lũ trở thành nơi gửi gắm tâm linh của nhân dân địa phương
Hàng năm, vào ngày mồng 5, mồng 6 tháng giêng (tức mồng 5, 6 tết âm lich),
hội đình làng được tổ chức để kỷ niệm ngày Câu Mang cùng hai ông Minh Công, Tuệ Công nghỉ tại Kim Lũ
Trong ngày hội này nhân dân địa phương luôn chuẩn bị chu đáo theo nghi thức truyền thống Mở đầu là rước kiệu Thánh từ đình ra lấy nước ở bến sông Châu trở về đình Đụn (Chợ Chủ) để tế cáo Đoàn rước gồm đội múa lân, đội
cờ, đội trống, đội bát biểu, chấp kích, bốn kiệu Thánh, đội bát âm, đội tế, lễ vật, các cụ cao niên và nhân dân Khi về đến đình tổ chức tế yên vị và các bài
tế dâng rượu, dâng lễ Sau đó là các dòng họ, gia đình, khách thập phương làm
lễ dâng hương
Trang 7Buổi chiều, buổi tối trên sân đình, nhiều trò chơi dân gian được tổ chức như: đánh cờ người, võ gậy, múa lân, bịt mắt đập niêu, chọi gà
Cảnh rước kiệu trước Đại lễ (minh họa) Quang cảnh chính lễ tại đình làng (minh họa)
Đây là phần mà thiếu nhi rất thích, mỗi khi đến hội xuân đình làng, chúng
em như được sống lại trong thế giới cổ tích, thần tiên Bọn trẻ được vui, đùa, nhảy múa và đặc biệt là được tham gia các hoạt động văn hóa truyền thống của dân tộc, nó vừa đơn giản, dân dã những đầy ý nghĩa
Đánh cờ người (minh họa) Đấu vật (minh họa)
Chọi gà Múa lân Múa sư tử
Quang cảnh lễ hội trong ngày hội làng đầu năm (ảnh minh họa)
Đình làng Ngọc Lũ còn có điểm đặc biệt, tiêu biếu mà tất cả các ngôi
đình khác không có được Đó là nơi lưu giữ phiên bản Trống đồng Ngọc Lũ.
Theo tương truyền vào khoảng năm 893–894, ông Nguyễn Văn Ý và Nguyễn Văn Tức cùng một số người ở Ngọc Lũ, trong khi đi đào đất đắp đê, làm công trình thủy lợi, khi đµo đất ở độ sâu 2m thì phát hiện được 3 chiếc trống đồng
đã đưa về cất giữ ở đình làng
Trống đồng Ngọc Lũ là một trong ít trống đồng đẹp nhất phát hiện được
trên thế giới Trống đồng Ngọc Lũ thuộc trống đồng loại I (theo phân loại của
Trang 8Hê-Gơ, nhà nghiên cứu người Áo) Đây là những chiếc trống đồng có hình
dáng cân đối, hài hòa với những hoa văn trang trí tuyệt mỹ đã được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá cao và khẳng định là một trong những hiện vật tiêu biểu, đặc trưng cho văn hóa thời đại đồng thau ở Việt Nam
Phiên bản Trống đồng Ngọc Lũ
Trống cao 0,63m, đường kính mặt trống 0,86m, được trang trí bằng các hình trạm sâu xuống cả trên mặt lẫn tang trống Chính giữa mặt trống là một hình ngôi sao (mặt trời) 14 cánh Xung quanh ngôi sao này là 16 vòng tròn đồng tâm có trang trí bằng nhiều hình khác nhau với nhiều họa tiết sắc sảo
Đây là chiếc trống đồng với nhiều hoa văn trang trí tuyệt mỹ đã được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá cao và khẳng định là những hiện vật độc đáo của khảo cổ Việt Nam Qua hiện vật này người ta đã tìm hiểu được đời sống vật chất, tình thần và tổ chức xã hội của cư dân thời đồng thau và sơ kỳ đồ sắt
ở nước ta Trống đồng Ngọc Lũ là một trong những di vật tiêu biểu xuất hiện vào thời kỳ Hùng Vương trên đất nước ta
Có 3 chiếc trống đồng đều được mang tên trống đồng Ngọc Lũ Vào
ngày 15-11-1902 tất cả được đư về trưng bày tại nhà Đấu Xảo- Hà Nội, sau đó đến Trường Viễn Đông Bác Cổ- Hà Nội mua lại Chiếc thứ 2 cũng được Trường Viễn Đông Bác Cổ- Hà Nội mua đưa về, hiện được lưu giữ tại viện bảo tàng Lịch sử Việt Nam Tương truyền những chiếc trống này đã có thời bị
Pháp mang sang chính quốc sau đó đất nước ta lại đòi và mang về.
Ở Ngọc Lũ ngoài di tích đình lang, còn có nét độc đáo về kiến trúc của
từ đường các dòng họ (hiện ở Ngọc Lũ có tới 64 dòng họ khác nhau- trong đó
có rất nhiều ngôi từ đường rất cổ kính) Trong đó phải kể đến ngôi từ đường
của dòng họ Trần Như (tức Trần Như Lân), ngôi từ đường thờ Lương Quận
công Trần Như Lân Đây là ngôi từ đường ở Ngọc Lũ mà đã được Bộ văn hóa-Thông tin cấp bằng công nhận Di tích Lịch sử - Văn hóa vào ngày 16-01-1995
Ngôi từ đường thuộc đội 9- xóm Trung Lang, cách khu di tích Đình Làng, chùa Kim Sơn Tự khoảng 300-500m, từ trên đường cái (tức đường đê)
đi vào khoảng chừng 500-700m với con đường làng quanh co theo những bờ ruộng, bờ ao trên nền bê tông đã kiên cố chúng ta sẽ vào tới từ đường dòng họ Trần Như
Trang 9
Bia dẫn đường vào nhà thờ
Trần Như Lân sinh năm Quý Hợi (1563) tại làng Kim Lũ huyện Mỹ Lộc phủ Xuân Trường, nay là xã Ngọc Lũ - Bình Lục - Hà Nam Ông sinh trưởng trong một gia đình nông dân nghèo Bố đẻ ông chẳng may lâm bệnh mất sớm Sống trong cảnh mẹ góa con côi, ông đã có ý thức tự chủ để gánh vác mọi công việc của gai đình Với ý thức tự rèn luyện và bằng những công việc nặng nhọc ông đã tạo cho mình một sức khỏe phi thường Không những thế ông còn
là một người thông minh, ham học hỏi nên đã tự rèn luyện cho trí, đức, tài Nhờ tài nghệ giỏi giang mà nhà Lê đã trọng dụng đưa ông vào trong quân ngũ Thời gian đó triều Lê đang rối bời, dân chúng lầm than bởi những cuộc nội chiến liên miên Nhà Mạc dành được quyền thống trị vào năm 1527, nhà Minh cùng với những chính sánh thuế má, tạp dịch nặng nề đã đưa nhà Mạc vào con đường suy vong Trước tình hình rối loạn của nhà Mạc, Trần Như Lân ngày càng thấu hiểu nhưng khó khăn gian khổ của nhân dân Ông rất phẫn nộ trước những hành động nhu nhược, hèn yếu của nhà Mạc Nhưng đại công thần nhà Mạc đều cáo ốm, cáo bệnh mà về quê để sang nhà Lê
Trong suốt giai đoạn dẹp Mạc khỏi Lê, ông Trần Như Lân đã đóng góp rất nhiều công sức cho triều đình Từ 1623 đến 1657, dưới sự chỉ đạo của Thanh Đô Vương Trịnh Tráng, quân triều đình nhà Lê đã tấn công liên tục tiêu diệt dư đảng họ Mạc trong đó ông đã đóng góp công sức rất nhiều Tháng 8 năm 1623 nhà Lê từ Thanh Hóa phản công ra Bắc làm cho quân Mạc đại bại,
tướng Trần Như Lân được phong chức “Vân tán trị phụ quốc công thần” Với công lao to lớn đó Trần Như Lân được nhà Lê thăng “Tả đô đốc thiếu bảo Lương quận công” Năm Đức Long thứ nhất (1629) ông được phong chức “Thiếu phó” và năm Khánh Hòa thứ tư (1652) được phong tặng “Hữu
tư không thái bảo” Ngoài ra ông nhiều lần tham gia chống giặc biển từ Nam
Dương vào nước ta tại vùng Giao Thủy (Nam Hà) Ông được triều đình nhà Lê hết sức tin cậy, giao cho những chức vụ quan trọng và ban thưởng nhiều sắc phong
Sinh ra và lớn lên tại làng Ngọc Lũ, mặc dù đã làm quan to trong triều nhưng ông vẫn rất quan tâm tới địa phương năm Vĩnh Tộ thứ tám (1626) khi biết quê nhà sửa lại chùa La Bảo ông đã cho người đem tiền cúng vào công đức Đây là lần tu sửa lớn gần như xóa bỏ ngôi chùa nhỏ bé trước để xây dựng lại ngôi chùa mới Làm nên nơi tín ngưỡng cho nhân dân
Do công lao đóng góp của ông đối với quê hương nên đã được nhân dân rất biết ơn và rất kính trọng Ông được nhân dân tôn làm phúc thần ngay
Trang 10lúc còn sống và sau khi mất hàng năm vào dịp xuân thu nhị kỳ ông còn được phối hưởng lễ tại đình
Tại nhà thờ hiện còn một đôi câu đối ca ngợi công lao to lớn của ông:
“Dực tán trung hưng châu thủy thiên thu dương vũ liệt
Đào phong thượng trụ Ngọc sơn vạn cổ bá phong thanh”
Theo truyền thuyết cũng như các cố lão ở địa phương cho biết thì ngôi nhà thờ này được dựng từ thế kỉ 17 Tấm bia tại nhà thờ dựng vào năm Chính Hòa thứ hai (1981) Từ đó đến nay di tích đã được tu sửa nhiều lần và mặc dù trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, nhà thờ này vẫn tồn tại
Di tích hiện nay nằm giữa khu dân cư trên một thửa đất rộng gần hai sào, đằng trước là một ao cá Cổng vào nằm sát ngay đường đi của xóm, mặt quay hướng tây nam Đây là một dạng cổng xây theo phong cách cổ truyền ta vẫn thường gặp tại các làng quê của đồng bằng Bắc Bộ trước đây Nền cổng được xây thành kiểu tam cấp, cao vượt hẳn mặt đường phía ngoài
Cổng chính trước từ đường
Hai bên cổng là hai cột đồng trụ, xây nhô ra ba mặt, còn phía trong gắn liền với tường Cả hai côt đều xây cân đối gồm ba phần la chân côt Thân côt
ba mặt đều tạo thành ba khung cân đối,x ung quanh la những gờ chi mềm mại còn ở giữa đắp nổi chữ Đáng chú ý có đôi câu đối sau đã nói lên được sự nghiệp nhân vật thờ tại đây:
“Quốc công gia tặng danh Trần tộc Thượng phụ âm phong thể nghiệp truyền”
Lối ra vào cổng phía trên xây vòm uốn theo hình bán nguyệt và lắp cửa bằng gỗ lim có hai cánh mở vào phía trong Phần trên cánh cổng được đắp một khung chữ nhật tạo thành một bức đại tự để ghi tên ngôi nhà này Trên cùng đắp bằng vữa hai cành lá cách điệu còn ở giữa là hình mặt trời Cổng vào phía trong là một bán mái gáo tường ba mặt, lợp ngói nam
Nhà thờ gồm 5 gian, làm theo kiểu vì kèo giá chiêng Đây là một dạng kiến trúc cổ được làm khá phổ biến vào những thế kỉ 18-19 Vì kèo được lắp ráp vào đầu cột và các cột cái liên kết với nhau bằng câu đầu, giữa cột cái với cột quân bằng xà nách Đứng trên câu đầu là hai cột trụ ngắn còn được gọi là cột trốn của giá chiêng Kề cột trụ phía trên và dưới là những cái dấu vuông chạm cánh sen Nối hai trụ này với nhau bởi một đoạn ngắn đẽo cong lên phía trên gọi là con cung Chính cái cung được tạo bởi hai trụ với câu đầu phía dưới