(Trong quá trình học tập, học sinh có thể lần lượt học những môn học khác nhau, những phần khác nhau trong mỗi môn học nhưng học sinh phải biết đặt các khái niệm đã học trong những mối q[r]
Trang 1BÀI THU HOẠCH BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN
Mô đun: THCS 1, THCS 14, MODULE 1: “Đặc điểm tâm lý của học sinh trung học cơ sở”
1 Khái quát về giai đoạn phát triển của lứa tuổi học sinh THCS
- Là GV THCS, để đạt đuợc kết quả cao trong dạy học và GD HS, chúng ta cần tìm hiểu về đặc điểm phát triển của mọi lứa tuổi HS THCS; để có nhiều kinh nghiệm trong giao tiếp , ứng xử với các em Ta cần thực hiện một sổ yéu cầu sau:
+ Nêu vị trí và ý nghĩa của giai đoạn tuổi thiếu niên (tuổi học sinh THCS) trong sự phát triển con người
+ Nêu các điều kiện ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý học sinh THCS
- Tuổi thiếu niên có vị trí và ý nghĩa đặc biệt trong quá trình phát triển của cả đời người được thể hiện
ở những điểm sau:
+ Thứ nhất: Đây là thời kì quá độ từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành của sự phát triển Trong đó có rất
nhiều khả năng, nhiều phương án, nhiều con đưòng để mỗi trẻ em trở thành một cá nhân Trong thời kì này, nếu sự phát triển được định hướng đúng, được tạo thuận lợi thì trẻ em sẽ trở thành cá nhân thành đạt, công dân tốt Ngược lại, nếu không được định hướng đúng, bị tác động bởi các yếu tổ tiêu cực thì sẽ xuất hiện hàng loạt nguy cơ dẫn trẻ em đến bên bờ của sự phát triển lệch lạc về nhận thức, thái độ, hành vi và nhân cách
+ Thứ hai: Thời kì mà tính tích cực xã hội của trê em được phát triển mạnh mẽ, đặc biệt trong việc thiết lập các quan hệ bình đẳng với người lớn và bạn ngang hàng, trong việc lĩnh hội các chuẩn mục, thiết kế tương lai của minh và những kế hoạch hành động cá nhân tương ứng
+ Thứ ba: Trong suổt thời kì tuổi thiếu niên đều diễn ra sự cẩu tạo lại, cải tổ lại, hình thành các cấu trúc mới về thể chất, sinh lí, về hoạt động, tương tác xã hội và tâm lí, nhân cách, xuất hiện những yếu tố mới của sự trưởng thành Từ đó hình thành cơ sở nền tảng và vạch chiều hướng cho sự trưởng thành thục thụ của cá nhân, tạo nên đặc thù riêng của lứa tuổi
+ Thứ tư Tuổi thiếu niênn là giai đoạn khó khăn, phức tạp và đầy mâu thuẫn trong quá trình phát
triển
- Các điêu kiện phát triến tâm lí cùa học sinh trung học cơ sờ
+ Sự phát triển cơ thể
+ Bước vào tuổi thiếu niên có sự cải tổ lại rất mạnh mẽ và sâu sắc về cơ thể, về sinh lí Trong suổt quá trình trưởng thành và phát triển cơ thể của cá nhân, đây là giai đoạn phát triển nhanh sau giai đoạn sơ sinh Sự cải tổ về mặt giải phẫu sinh lí của thiếu niên có đặc điểm là: tốc độ phát triển cơ thể nhanh, mạnh mẽ, quyết liệt nhưng không cân đối Đồng thời xuất hiện yếu tố tác nhân quan trọng ảnh huớng đến sự cải tổ thể chất - sinh lí của tuổi thiếu niên là các hormone, chế độ lao động
và dinh dưỡng
Trang 2- Sự phát triển của chiều cao và trọng lượng: Chiều cao của các em tăng rất nhanh: trung bình một năm, các em gái cao thêm 5 - 6 cm, các em trai cao thêm 7 - 8 cm Trọng lượng của các em tăng từ
2 - 5kg /năm
- Sự phát triển của hệ xương: Hệ xương phát triển mạnh làm cho thiếu niên lớn rất nhanh, xương sọ
phần mặt phát triển mạnh Khuôn mặt thiếu niên cũng thay đổi do sự phát triển nhanh chóng phần phía trước của hộp xương sọ
- Sự phát triển của hệ cơ: Sự tăng khối lượng các bắp thịt và cơ bắp diễn ra mạnh, tạo nên sự mạnh
mẽ của nam giới và tạo nên sự mềm mại, duyên dáng của các em nữ
- Hệ tim mạch phát triển cũng không cân đổi Thể tích tim tăng nhanh, tim to hơn, hoat động mạnh hơn, trong khi các mạch máu lại phát triển chậm hơn dẫn đến sụ rối loạn tạm thời của tuần hoàn máu Do đó thiếu niên thường bị mệt mỏi, chóng mặt, khi phải làm việc quá sức hoặc làm việc trong một thời gian kéo dài
- Sự phát triển của hệ thần kinh không cân đối Sự phát triển của hệ thống tín hiệu thứ nhất và tín hiệu thứ hai, giữa hưng phấn và ức chế cũng diễn ra mất cân đổi (Quá trình hưng phấn mạnh hơn úc chế)
- Trong lứa tuổi thiếu niên có sự thay đổi đột ngột bên trong cơ thể do những thay đổi trong hệ thống các tuyến nội tiết đang hoạt động tích cục (đặc biệt những hoocmon của tuyến giáp trạng, tuyến sinh dục) vì vậy, làm việc quá sức, sự căng thẳng thần kinh kéo dài, sụ xúc động và những cám xúc tiêu cực có thể là nguyên nhân gây rối loạn nội tiết và rối loạn chức năng của hệ thần kinh
- Đặc điểm xã hội
+ Vị trí của thiếu niên trong xã hội: Thiếu niên có những quyền hạn và trách nhiệm xã hội
lớn hơn so với HS tiểu học tham gia nhiều hoạt động xã hội phong phú: giáo dục các em nhỏ; tham gia các hoạt động tập, vệ sinh trường lớp, …Điều này giúp cho HS THCS mở rộng các quan hệ xã hội, kinh nghiệm sổng thêm phong phu, ý thức xã hội được nâng cao
+ Vị trí của thiếu niên trong gia đình: Thiếu niên được thừa nhận là một thành viên tích cục
trong gia đình, được giao một số nhiệm vụ như: chăm sóc em nhỏ, nấu ăn, dọn dẹp Ở HS THCS được cha mẹ trao đổi, bàn bạc một số công việc trong nhà Các em quan tâm đến việc xây dựng và bảo vệ uy tín gia đình Nhìn chung, các em ý thúc được vị thế mới của mình trong gia đình và thực hiện một cách tích cục Tuy nhiên, đa số thiếu niên vẫn còn đi học, các em vẫn phụ thuộc vào cha
mẹ về kinh tế, giáo dục Điều này tạo ra hoàn cảnh có tính hai mặt trong đời sống của thiếu niênn trong gia đình
+ Vị trí của thiếu niên trong nhà trường THCS: Vị thế của HS THCS hơn hẳn vị thế của HS
tiểu học HS THCS ít phụ thuộc vào giáo viên hơn so với nhi đồng Các em học tập theo phân môn Mọi môn học do một giáo viên đảm nhiệm Mỗi giáo viên có yêu cầu khác nhau đối với HS, có trình độ, tay nghề, phẩm chất sư phạm và có phong cách giảng dạy rìêng đòi hỏi HS THCS phải thích ứng vỏi những yêu cầu mới của các giáo viên Sự thay đổi này có thể tạo ra những khó khăn nhất định cho HS nhưng lại là yếu tổ khách quan để các em dần có được phương thức nhận thức người khác
Trang 32 Đặc điểm tâm, sinh lí của học sinh trung học cơ sở
- Về thể chất:
HS THCS có tuổi đời từ 11 đến 15 tuổi, tuổi có biến động lớn và có ý nghĩa đặc biệt của đời người với một số đặc điểm sau:
+ Cơ thể phát triển tuy chưa thật hoàn thiện nhưng các em đã có sức lực khá mạnh mẽ
+ Tuổi dậy thì (biểu hiện nam tính và nữ tính)
+ Hoạt động giao tiếp là hoạt động chủ đạo, trước hết là với HS cùng lứa Qua đó hình thành tình bạn của tuổi thiếu nìên
+ Tuổi vị thành niên: HS THCS có độ tuổi từ 11 đến 16, các em không còn là trẻ con nhưng cũng chưa phẳi là người lớn, là tuổi thiếu niên và thanh niên đã có sự phát triển về sinh lí và tâm lí, các em thích làm người lớn nhưng chưa ý thức được đầy đủ, vị thế xã hội của các em là vị thành niên Trong nền văn hoá của dân ta, từ xa xưa đã có quan niệm “Con dại cái mang" và người dân thường cư xủ với nhau như thế Thời nay, trong giáo dục, GV THCS cũng nên có quan niệm và cách úng xử “HS mắc khuyết điểm thì GV cũng có phần trách nhiệm"
- Về hoạt động tập thể của HS THCS:
Các hoạt động đoàn thể: HS THCS thuộc lứa tuổi thiếu niên, ngoài hoạt động học - hành là hoạt động cơ bản các em còn có các hoạt động khác như sinh hoạt Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ chí Minh theo các hình thức: Nghi thức Đội, hoạt động văn thể, giao luu tâm tình chia sẻ giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, sinh hoạt, kể cả những vấn đề tế nhị ở tuổi dậy thì, tuổi vị thành niênn, gia chánh
Các hoạt động công ích xã hội: Giúp đỡ người khó khăn, làm từ thiện, tham gia gìn giữ, tôn tẹo các khu di tích, công viên, nơi sinh hoạt công cộng
- Về tâm lí:
Tự coi mình là người lớn nhưng chưa thật trưởng thành, thường vẫn bị người lớn nhìn nhận là
“trẻ con", dẫn đến tình trạng có “rào cản" về sự chia sẻ giữa HS THCS và người lớn, trước hết là các bậc cha mẹ
Linh cảm của HS THCS phát triển phong phú, trước hết là tình bạn cùng trang lứa, các em nhạy cảm, sẵn sàng cảm thông chia sẻ với bạn và muốn được bạn cảm thông chia sẻ với mình, điều mà các
em còn ít nhận được từ các bậc cha mẹ, GV
Nhận thức của HS THCS phát triển khá cao, đáng chú ý là sự phát triển tư duy khoa học (tư duy
lí luận), tính trừu tượng và tính lí luận trong nhận thức
Ý chí của HS THCS phát triển khá cao, các em đã có sức mạnh về thể chất và tinh thần để có thể vượt qua những khó khăn trở ngại trong học tập và trong cuộc sống
MODULE 14: “Xây dựng kế hoạch dạy học theo hướng tích hợp”
1 Các yêu cầu của một kế hoạch dạy học theo hướng tích hợp:
- Trang bị cho học sinh hiểu biết những kiến thức cần thiết, cơ bản về những nội dung cần được tích hợp để từ đó giáo dục các em có những cử chỉ, việc làm, hành vi đúng đắn
- Phát triển các kĩ năng thực hành, kĩ năng phát hiện và ứng xử tích cực trong học tập cũng như trong thực tiển cuộc sống
Trang 4- Giúp học sinh hứng thú học tập, từ đó khắc sâu được kiến thức đã học.
- Nội dung tích hợp phải phù hợp với từng đối tượng học sinh ở các khối lớp thông qua các môn học và hoạt động giáo dục khác nhau
- Tránh áp đặt, giúp học sinh phát triển năng lực
2 Mục tiêu, phương pháp, nội dung của kế hoạch dạy học theo hướng tích hợp.
a Mục tiêu
- Hiểu được bản chất của kế hoạch dạy học tích hợp.
- Làm cho quá trình học tập có ý nghĩa
(Bằng cách gắn học tập với cuộc sống hàng ngày, trong quan hệ với các tình huống cụ thể mà học sinh
sẽ gặp sau này, hòa nhập thế giới học đường với thế giới cuộc sống.)
- Phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn
(Cái cốt yếu là những năng lực cơ bản cần cho học sinh vận dụng vào xử lí những tình huống có ý nghĩa trong cuộc sống, hoặc đặt cơ sở không thể thiếu cho quá trình học tập tiếp theo.)
- Dạy sử dụng kiến thức trong tình huống cụ thể
(Thay vì tham nhồi nhét cho học sinh nhiều kiến thức lí thuyết đủ loại, dạy học tích hợp chú trọng tập dượt cho học sinh vận dụng các kiến thức kĩ năng học được vào các tình huống thực tế, có ích cho cuộc sống sau này làm công dân, làm người lao động, làm cha mẹ, có năng lực sống tự lập.)
- Xác lập mối quan hệ giữa các khái niệm đã học
(Trong quá trình học tập, học sinh có thể lần lượt học những môn học khác nhau, những phần khác nhau trong mỗi môn học nhưng học sinh phải biết đặt các khái niệm đã học trong những mối quan hệ
hệ thống trong phạm vi từng môn học cũng như giã các môn học khác nhau Thông tin càng đa dạng, phong phú thì tính hệ thống phải càng cao, có như vậy thì các em mới thực sự làm chủ được kiến thức và mới vận dụng được kiến thức đã học khi phải đương đầu với một tình huống thách thức, bất ngờ, chưa từng gặp.)
b Phương pháp
Phương pháp dạy học theo hướng tích hợp là lồng ghép nội dung tích hợp vào các bài dạy, tùy theo từng môn học mà lồng ghép tích hợp ở các mức độ như liên hệ, lồng ghép bộ phận, toàn phần, từ đó giáo dục và rèn kĩ năng sống, giá trị sống cho học sinh
Để vận dụng quan điểm tích hợp vào việc giảng dạy, chúng ta cần chú ý đến ba hình thức tích hợp sau:
+ Tích hợp ngang
+ Tích hợp dọc
+ Tích hợp liên môn
c Nội dung
Dạy học theo hướng lồng ghép tích hợp thực hiện ở một số nội dung môn học và các hoạt động giáo dục:
Nội dung tích hợp được bao gồm những nội dung như Tích hợp giáo dục đạo đức, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; giáo dục phòng chống tham nhũng; sử dụng năng lượng tiết
Trang 5kiệm và hiệu quả; bảo vệ môi trường; giáo dục về dân số, đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên; giáo dục về tài nguyên và môi trường, chủ quyền biển đảo theo hướng dẫn của Bộ GD-ĐT
Mức độ tích hợp tùy theo từng môn học, nội dung để lựa chọn mức độ tích hợp:
+ Mức độ tích hợp từ liên hệ (chỉ khai thác nội dung bài học và liên hệ với kiến thức (mức độ hạn chế);
+ Tích hợp bộ phận, chỉ một phần của bài học, hoạt động thực hiện nội dung giáo dục (mức độ trung bình);
+ Đến tích hợp toàn phần, cả một bài có nội dung trùng khớp với nội dung giáo dục (mức độ cao).