Trong những năm qua Công ty đã thực hiện nhập khẩu một cách có hiệu quả để phục vụ cho quá trình pháttriển kinh tế, qua đó tạo được uy tín của Công ty đối với thị trường trong nước và qu
Trang 1hiệu quả kinh doanh trong hoạt động nhập khẩu tại Công ty Vật
tư kỹ thuật Ngân hàng
Trang 21.1 Khái niệm hoạt động kinh doanh nhập khẩu.
1.2 Đặc điểm của hoạt động kinh doanh nhập khẩu.
1.3 Phân loại nhập khẩu.
1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh nhập khẩu 1.5.Vai trò của kinh doanh nhập khẩu.
2 CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH NHẬP KHẨU TẠI DOANH NGHIỆP.
2.1 Nghiên cứu thị trường.
2.2 Lập phương án kinh doanh.
2.3 Giao dịch, đàm phán và ký kết hợp đồng.
2.4 Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu
3.CÁC KHÁI NIỆM NÂNG CAO HIỆU QUẢ.
3.1Các quan đIểm hiệu quả.
3.2Sự cần thiết nâng cao hiệu quả.
3.3Nâng cao hiệu quả.
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU TẠI CÔNG TY VẬT TƯ
KỸ THUẬT NGÂN HÀNG.
1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ KỸ THUẬT CÓ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU TẠI CÔNG TY.
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty.
1.2 Đặc điểm tổ chức bộ máy điều hành của công ty
1.3 Chức năng và nhiệm vụ của Công ty.
1.4 Đặc điểm về thị trường và khách hàng của Công ty
1.5 Đặc điểm về sản phẩm của Công ty.
2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU TẠI CÔNG TY VẬT TƯ KỸ THUẬT NGÂN HÀNG
2.1 Tổ chức giao dịch ký kết hợp đồng
2.2 Tổ chức thực hiện các hợp đồng.
2.3 Thị trường nhập khẩu của Công ty.
2.4 Kết quả hoạt động nhập khẩu của Công ty
2.5 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
2.6 Đánh giá chung về hoạt động nhập khẩu của Công ty.
CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NHẬP KHẨU TẠI CÔNG TY VẬT TƯ KỸ THUẬT NGÂN HÀNG.
1 Những quan điểm và định hướng kinh doanh của Công ty Vật tư kỹ thuật Ngân hàng
Trang 32 Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu của Công ty Vật tư kỹ thuật Ngân hàng
3 Kiến nghị.
KẾT LUẬN
Trang 4
Trong những năm vừa qua, các hoạt động kinh tế đối ngoại của ViệtNam đã đạt được những thành công đáng kể Với những chủ trương đúng đắncủa Đảng và Nhà nước là xây dựng một nền kinh tế mở, đa phương hoá đadạng hoá quan hệ đối ngoại mà chủ yếu là các quan hệ thương mại đặc biệt làtrong lĩnh vực xuất nhập khẩu Việc phát triển quan hệ ngoại thương đượcxem là mũi nhọn chiến lược chủ đạo trong chương trình phát triển dài hạn vàtoàn diện của đất nước Những định hướng cơ bản hoàn toàn phù hợp với xuhướng phát triển chung trên bình diện quốc gia và quốc tế, nó đã nhanh chóngđưa nền kinh tế nước ta hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới.Quan hệ ngoại thương giữa nước ta với các nước trên thế giới không ngừngtăng lên cả về chất và lượng.
Trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế trước sự phát triển như vũ bãocủa khoa học kỹ thuật công nghệ thông tin Việc đẩy mạnh hoạt động xuấtnhập khẩu là một hướng đi hoàn toàn đúng đắn để phát triển kinh tế đất nước,tránh được tụt hậu về kinh tế và tham gia hội nhập vào nền kinh tế quốc tếmột cách toàn diện và sâu sắc
Cùng với sự phát triển của quá trình giao lưu thương mại, hoạt độngxuất nhập khẩu của nước ta nhìn chung đã đạt được những thành tựu đáng kể,trong đó Công ty Vật tư kỹ thuật Ngân hàng đã và đang góp phần tạo nênthành công đó Công ty Vật tư kỹ thuật Ngân hàng là một đơn vị đầu mối vềnhập khẩu các thiết bị chuyên dùng của ngành Ngân hàng phục vụ cho việchiện đại hoá hệ thống Ngân hàng ở Việt Nam Trong những năm qua Công ty
đã thực hiện nhập khẩu một cách có hiệu quả để phục vụ cho quá trình pháttriển kinh tế, qua đó tạo được uy tín của Công ty đối với thị trường trong nước
và quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay vừa mở ra những cơ hội mới chodoanh nghiệp nhưng cũng đồng thời nó cũng chứa đựng những rủi ro lớn Vì
Trang 5vậy nó đòi hỏi các doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường quốc tế ngàycàng phải tự hoàn thiện mình, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh để đảmbảo doanh nghiệp có thể tồn tại được Đặc biệt là đối với các doanh nghiệptham gia hoạt động xuất nhập khẩu thì việc nâng cao hiệu quả kinh doanhcang trở nên bức thiết và quan trọng hơn bao giờ hết
Qua thực trạng hoạt động của Công ty Vật tư kỹ thuật Ngân hàng trongnhững năm qua được ghi nhận trong những năm qua trong quá trình thực tậpkết hợp với những kiến thức em đã học được tại Trường Đại học em xin mạnh
dạn chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh
trong hoạt động nhập khẩu tại Công ty Vật tư kỹ thuật Ngân hàng”
Đề tài đề cập đến một số ngiệp vụ kinh doanh nhập khẩu hiện nay đangđược sử dụng trong giao dịch ngoại thương tại Việt nam Cụ thể là cácphương pháp giao dịch, các chứng từ liên quan đến giao dịch ngoại thương.Qua đó giúp ta có thể hình dung và nắm bắt được những điều cơ bản phải làmtrước khi tiến hành một giao dịch kinh doanh Thông qua phân tích tình hìnhkinh doanh nhập khẩu tại Công ty Vật tư Ngân hàng rút ra những nhận xétđánh giá, từ đó đưa ra những giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệuquả hoạt động kinh doanh nhập khẩu tại Công ty Vật tư Ngân hàng nói riêng
và các công ty xuất nhập khẩu nói chung
Trong đề án này được chia làm ba phần sau:
Phần 1: Những vấn đề cơ bản về hoạt động nhập khẩu và nâng cao hiệu quảhoạt động kinh doanh nhập khẩu trong các doanh nghiệp
Phần 2: Thực trạng về tình hình hoạt động kinh doanh nhập khẩu tại Công tyVật tư kỹ thuật Ngân hàng
Phần 3: Một số phương hướng và biện pháp nhăm nâng cao hiệu quả kinhdoanh trong hoạt động nhập khẩu tại Công ty Vật tư kỹ thuật Ngân hàng
Trang 6Qua đây, tôi xin chân thành cảm ơn các anh chị phòng kinh doanhXNK-Công ty Vật tư kỹ thuật Ngân hàng đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp
đỡ tôi trong quá trình khảo sát, nghiên cứu thực tập đạt kết quả tốt Xin chânthành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn - Tiến sỹ Vũ Quang Thọ đã tận tình giúp
đỡ tôi trong quá trình xây dựng và hoàn thiện chuyên đề này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do vấn đề đặt ra phức tạp trong khiquỹ thời gian nghiên cứu hạn chế nên khó tránh khỏi thiếu sót Rất mong sựđóng góp ý kiến nhận xét của thầy, cô giáo
Xin trân trọng cảm ơn !
Hà nội, tháng 5 năm 2004
Sinh viên
Trang 7
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG NHẬP
KHẨU TẠI CÁC DOANH NGHIỆP.
1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHẬP KHẨU
1.1 Khái niệm và vai trò của hoạt động kinh doanh nhập khẩu
1.1.1.Khái niệm về nhập khẩu
Nhập khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, làquá trình trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia dựa trên nguyên tắc trao đổingang giá lấy tiền tệ là môi giới Nó không phải là hành vi buôn bán riêng lẻ
mà là một hệ thống các quan hệ buôn bán trong một nền kinh tế có cả tổ chứcbên trong và bên ngoài
Nếu xét trên phạm vi hẹp thì tại Điều 2 Thông tư số 04/TM-ĐT ngày30/7/1993 của Bộ Thương mại định nghĩa: “ Kinh doanh nhập khẩu thiết bị làtoàn bộ quá trình giao dịch, ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán thiết bị vàdịch vụ có liên quan đến thiết bị trong quan hệ bạn hàng với nước ngoài ”
Vậy thực chất kinh doanh nhập khẩu ở đây là nhập khẩu từ các tổ chứckinh tế, các Công ty nước ngoài, tiến hành tiêu thụ hàng hoá, vật tư ở thịtrường nội địa hoặc tái xuất với mục tiêu lợi nhuận và nối liền sản xuất giữacác quốc gia với nhau
Mục tiêu hoạt động kinh doanh nhập khẩu là sử dụng có hiệu quảnguồn ngoại tệ để nhập khẩu vật tư, thiết bị kỹ thuật và dịch vụ phục vụ choquá trình tái sản xuất mở rộng, nâng cao năng suất lao động, tăng giá trị ngàycông, và giải quyết sự khan hiếm hàng hoá, vật tư trên thị trường nội địa
Mặt khác, kinh doanh nhập khẩu đảm bảo sự phát triển ổn định của cácngành kinh tế mũi nhọn của mỗi nước mà khả năng sản xuất trong nước chưađảm bảo vật tư, thiết bị kỹ thuật đáp ứng nhu cầu phát triển, khai thác triệt đểlợi thế so sánh của quốc gia, góp phần thực hiện chuyên môn hoá trong phân
Trang 8công lao động quốc tế, kết hợp hài hoà và có hiệu quả giữa nhập khẩu và cảithiện cán cân thanh toán
thiện cán cân thanh toán quốc tế
1.2 Đặc điểm của hoạt động kinh doanh nhập khẩu
Hoạt động nhập khẩu là hoạt động phức tạp so với hoạt động kinhdoanh trong nước Hoạt động nhập khẩu có những đặc điểm sau:
- Hoạt động nhập khẩu chịu sự điều chỉnh của nhiều nguồn luật nhưđiều ước quốc tế và Ngoại thương, luật quốc gia của các nước hữu quan, tậpquán Thương mại quốc tế
- Các phương thức giao dịch mua bán trên thị trường quốc tế rất phongphú: Giao dịch thông thường, giao dịch qua trung gian, giao dịch tại hội chợtriển lãm
- Các phương thức thanh toán rất đa dạng: nhờ thu, hàng đổi hàng,L/C
- Tiền tệ dùng trong thanh toán thường là ngoại tệ mạnh có sức chuyểnđổi cao như : USD, bảng Anh
- Điều kiện cơ sở giao hàng: có nhiều hình thức nhưng phổ biến là nhậpkhẩu theo điều kiện CIF, FOB
- Kinh doanh nhập khẩu là kinh doanh trên phạm vi quốc tế nên dịa bànrộng, thủ tục phức tạp, thời gian thực hiện lâu
- Kinh doanh nhập khẩu phụ thuộc vào kiến thức kinh doanh, trình độquản lý, trình độ nghiệp vụ Ngoại thương, sự nhanh nhạy nắm bắt thông tin
- Trong hoạt động nhập khẩu có thể xảy ra những rủi ro thuộc về hànghoá Để đề phong rủi ro, có thể mua bảo hiểm tương ứng
- Hoạt động nhập khẩu là cơ hội để các doanh nghiệp có quốc tịch khácnhau hợp tác lâu dài Thương mại quốc tế có ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ
Trang 9kinh tế - chính trị của các nước xuất khẩu, góp phần phát triển kinh tế đốingoại.
1.3 Phân loại nhập khẩu
Dưới đây là một số loại hình nhập khẩu cơ bản và phổ biến nhất:
1.3.1 Nhập khẩu trực tiếp.
Theo cách thức này, bên mua và bên bán trực tiếp giao dịch với nhau,việc mua và việc bán không ràng buộc nhau Bên mua có thể chỉ mua màkhông bán, bên bán có thể chỉ bán mà không mua Hoạt động chủ yếu làdoanh nghiệp trong nước nhập khẩu hàng hoá, vật tư ở thị trường nước ngoàiđem về tiêu thụ ở thị trường trong nước Để tiến tới ký kết hợp đồng kinhdoanh nhập khẩu, doanh nghiệp phải nghiên cứu kỹ nhu cầu nhập khẩu vật tư,thiết bị trên thị trường nội địa, tính toán đầy đủ các chi phí đảm bảo kinhdoanh nhập khẩu có hiệu quả, đàm phán kỹ lưỡng về các điều kiện giao dịchvới bên xuất khẩu, thực hiện theo hành lang pháp lý quốc gia cũng như thông
lệ quốc tế
Đặc điểm: Được tiến hành một cách đơn giản Bên nhập khẩu phảinghiên cứu thị trường, tìm kiếm đối tác, ký kết hợp đồng và thực hiện theođúng hợp đồng, phải tự bỏ vốn, chịu mọi rủi ro và chi phí giao dịch, nghiêncứu, giao nhận, kho bãi cùng các chi phí có liên quan đến tiêu thụ hàng háo,thuế nhập khẩu
1.3.2 Nhập khẩu uỷ thác.
Theo quyết định số 1172/TM/XNK ngày 22/9/1994 của Bộ trưởng BộThương Mại về việc ban hành” Quy chế XNK uỷ thác giữa các pháp nhântrong nước” đã định nghĩa như sau:
Nhập khẩu uỷ thác là hoạt động dịch vụ thương mại dưới hình thứcnhận làm dịch vụ nhập khẩu Hoạt động này được làm trên cơ sở hợp đồng uỷ
Trang 10thác giữa các doanh nghiệp phù hợp với những quy định của pháp lệnh hợpđồng kinh tế
Như vậy, hợp đồng uỷ thác nhập khẩu được hình thành giữa các doanhnghiệp trong nước có vốn ngoại tệ riêng, có nhu cầu nhập khẩu một loại vật
tư, thiết bị nào đó nhưng lại không được phép nhập khẩu trực tiếp hoặc gặpkhó khăn trong việc tìm kiếm bạn hàng, thực hiện thủ tục uỷ thác nhập khẩucho doanh nghiệp có chức năng thương mại quốc tế tiến hành nhập khẩu theoyêu cầu của mình Bên nhận uỷ thác phải cung cấp cho bên uỷ thác các thôngtin về thị trường, giá cả, khách hàng, những điều kiện có liên quan đến đơnhàng uỷ thác thương lượng đàm phán và ký kết hợp đồng uỷ thác Bên nhận
uỷ thác phải tiến hành làm các thủ tục nhập khẩu và được hưởng phần thù laogọi là phí uỷ thác
Đặc điểm: Doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ nhập khẩu uỷ thác khôngphải bỏ vốn, không phải xin hạn ngạch, không phải tìm kiếm thị trường tiêuthụ hàng nhập, giá trị hàng nhập chỉ được tính vào kim ngạch XNK khôngđược tính vào doanh thu Khi nhận uỷ thác phải làm hai hợp đồng: Một hợpđồng mua bán hàng hoá, vật tư với nước ngoài và một hợp đồng uỷ thác nhậpkhẩu với bên uỷ thác ở trong nước
1.3.3 Buôn bán đối lưu.
Buôn bán đối lưu trong Thương mại quốc tế là một phương thức giao
dịch trao đổi hàng hoá trong đó nhập khẩu kết hợp chặt chẽ với xuất khẩu,người bán đồng thời là người mua và ngược lại Lượng hàng hoá dịch vụ traođổi có giá trị tương đương Giao dịch đối lưu dựa trên bốn nguyên tắc cânbằng: Cân bằng về mặt hàng, cân bằng về giá cả, cân bằng về cùng một điềukiện giao hàng và cân bằng về tổng giá trị hàng hoá trao đổi
Đặc điểm: Hợp đồng này có lợi ở chỗ là cùng một hợp đồng ta có thểtiến hành đồng thời hoạt động xuất và nhập khẩu Đối với hình thức này thì
Trang 11lượng hàng giao đi và lượng hàng nhận về có giá trị tương đương nhau.Doanh nghiệp xuất khẩu được tính vào cả kim ngạch xuất nhập khẩu, doanhthu trên hàng hoá nhập và hàng xuất
1.3.4 Nhập khẩu tái xuất
Mỗi nước có một định nghĩa riêng về tái xuất, nhưng đều thống nhấtmột quan điểm về tái xuất là xuất khẩu trở ra nước ngoài những hàng hoátrước đây đã nhập khẩu, chưa qua chế biến ở nước tái xuất Có nghĩa là tiếnhành nhập khẩu không phải để tiêu thụ trong nước mà để xuất sang một nướcthứ ba nhằm thu lợi nhuận Giao dịch tái xuất bao gồm nhập khẩu và xuấtkhẩu với mục đích thu về một lượng ngoại tệ lớn hơn vốn bỏ ra ban đầu Giaodịch này luôn thu hút ba nước: nước xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhậpkhẩu
- Doanh nghiệp tái xuất được tính kim ngạch trên cả hàng tái xuất vàhàng nhập, doanh số tính trên giá trị hàng hoá tái xuất do đó vẫn chịu thuế
- Hàng hoá không nhất thiết phải chuyển về nước tái xuất mà có thểchuyển thẳng từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu theo hình thức chuyểnkhẩu, nhưng tiền phải do người tái xuất trả cho người nhập khẩu và thu từngười nhập khẩu
1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh nhập khẩu.
Hoạt động kinh doanh nhập khẩu là một họat động kinh doanh hết sức
Trang 12chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố Có hai nhân tố cơ bản ảnh hưởng đếnhoạt động nhập khẩu, đó là:
1.4.1 Những nhân tố ảnh hưởng bên trong doanh nghiệp
Các yếu tố bên trong doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt độngkinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp, nó tác động một cách trực tiếp và làyếu tố nội lực quyết định hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp có đạt hiệuquả hay không Các nhân tố đó là:
* Tổ chức hoạt động kinh doanh: Đây là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đếnđiều kiện hoạt động kinh doanh nhập khẩu của doanh nghiệp Nếu như việc tổchức kinh doanh càng phù hợp với chức năng nhiệm vụ của doanh nghiệp,phù hợp với yêu cầu kinh tế thị trường, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thịtrường thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Làmtốt công tác tổ chức kinh doanh có nghĩa là doanh nghiệp phải là tốt các khâu:Chuẩn bị trước khi giao dịch như nghiên cứu thị trường, khai thác nhu cầutiêu dùng trong nước, lập phương án kinh doanh thận trọng
* Tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp: Bộ máy quản lý doanh nghiệp
có ảnh hưởng một cách gián tiếp tới hiệu quả của hoạt động kinh doanh nhậpkhẩu nói riêng và hoạt động kinh doanh toàn doanh nghiệp nói chung Tổchức bộ máy quản lý hợp lý, gọn nhẹ, làm việc có hiệu quả sẽ tạo thuận lợicho công tác nâng cao hiệu quả kinh doanh Việc xây dựng và hoàn thiện cơcấu tổ chức bộ máy của doanh nghiệp là một điều hết sức quan trọng trongkinh doanh XNK
* Nhân tố con người: Đội ngũ cán bộ công nhân viên là một nhân tốquan trọng có tính chất quyết định đối với sự thành công hay thất bại tronghoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động nhập khẩu nói riêng Nếudoanh nghiệp có đội ngũ cán bộ công nhân viên năng động, có năng lực, trình
độ chuyên môn cao, nhiệt tình, tích cực trong công tác kết hợp với việc bố trí
Trang 13nguồn nhân lực theo chiến lược “ đúng người, đúng việc, đúng lúc” của doanhnghiệp thì nhất định sẽ có ảnh hưởng tích cực tới hiệu quả kinh doanh
* Vốn kinh doanh: Là nhân tố tối quan trọng, là thành phần không thểthiếu trong kinh doanh, nó là cơ sở cho việc mở rộng hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp
* Cơ sở vật chất và uy tín kinh doanh của doanh nghiệp: Nếu công ty
có cơ sở vật chất kỹ thuật càng hiện đại bao nhiêu thì càng tạo điều kiện thuậnlợi cho công việc kinh doanh bấy nhiêu như: việc giữ gìn bảo quản hàng hoáđược tốt hơn, tiết kiệm chi phí trong khâu vận chuyển , nâng cao chất lượngphục vụ
* Thị trường - khách hàng: Thị trường là một tấm gương trung thực chocác doanh nghiệp tự soi vào để đánh giá hiệu quả kinh doanh của mình Hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp có đạt hiệu quả cao hay không phụ thuộcvào mức độ đáp ứng các yêu cầu của thị trường
1.4.2 Những nhân tố ảnh hưởng bên ngoài doanh nghiệp.
Đây là nhóm nhân tố có tầm ảnh hưởng vĩ mô điều tiết hoạt độngdoanh nghiệp, nó bao gồm:
* Quan hệ chính trị và kinh tế giữa nước ta với nước khác: Hoạt độngnhập khẩu hoạt động trong một khung cảnh rộng lớn là nền kinh tế thế giới,thị trường quốc tế, đối tượng hợp tác rất đa dạng Việc mở rộng các mối quan
hệ chính trị ngoại giao sẽ tạo điều kiện thuận lợi và tiền đề pháp lý cho các tổchức kinh doanh phát triển những bạn hàng mới
* Hệ thống luật pháp: Nó tạo hành lang pháp lý cho doanh nghiệp hoạtđộng Hệ thống luật pháp yêu cầu phải động bộ, nhất quán và phù hợp vớithông lệ quốc tế
* Môi trường chính trị - xã hội: Nhân tố này gây ảnh hưởng không nhỏ
Trang 14trường hoà bình và hữu nghị với các nước trên khu vực và trên thế giới thìmới tạo bầu không khí thuận lợi cho các hoạt động kinh doanh nói chung vàhoạt động nhập khẩu nói riêng.
* Môi trường kinh doanh: Phải đảm bảo sự ổn định vĩ mô nên kinh tếtrong đó chú ý đảm bảo tỷ giá hối đoái ổn định và phù hợp, khắc phụ sự thâmhụt của cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế nhăm lành mạnhhoá môi trường kinh doanh, sẽ tạo thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanhnhập khẩu
1.5 Vai trò của hoạt động kinh doanh nhập khẩu
Hoạt động kinh doanh nhập khẩu là một trong hai bộ phận cấu thànhnên nghiệp vụ ngoại thương Biểu hiện là việc mua hàng hoá và dịch vụ từnước ngoài về phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước hoặc nhằm tái sản xuấtvới mục đích thu lợi nhuận Nhập khẩu thể hiện mối tương quan gắn bó chặtchẽ với nhau giữa các nền kinh tế của các quốc gia với nền kinh tế thế giới.Tuy nhiên mỗi một thời kỳ đều có đặc điểm riêng, chiến lược phát triển kinh
tế riêngvì vậy mà vai trò, nhiệm vụcủa hoạt động kinh doanh nhập khẩu cũngđược điều chỉnh cho phù hợp với mục tiêu nhà nước đề ra
Trên thực tế, một khi nền kinh tế quốc gia đã hoà nhập vào nền kinh tếthế giới thì vai trò của hoạt động kinh doanh nhập khẩu ngày càng trở nênquan trọng, có thể thấy cụ thể là:
- Nhập khẩu mở rộng khả năng tiêu dùng trong nước, cho phép tiêudùng một lượng hàng hoá nhiều hơn khả năng sản xuất trong nước, đáp ứngnhu cầu tiêu dùng ngày càng cao cũng như thị hiếu của người tiêu dùng, làmtăng mức sống người dân, tăng thu nhập quốc dân
- Nhập khẩu tạo sự chuyển giao công nghệ, do đó có thể tái xuất mởrộng hàng hoá có hiệu quả, tiết kiệm thời gian và chi phí, tạo ra sự đồng đều
về phát triển trong nước
Trang 15- Nhập khẩu tạo ra sự cạnh tranh tích cực giữa hàng nội và hàng nhậpkhẩu tức là tạo ra động lực cho các nhà sản xuất trong nước không ngừngvươn lên, tạo đà cho xã hội ngày càng phát triển
- Nhập khẩu xoá bỏ tình trạng độc quyền, phá vỡ triệt để cơ chế tự cung
tự cấp của nền kinh tế đóng
- Nhập khẩu giải quyết được các nhu cầu đặc biệt như hàng hoá khanhiếm, hàng hoá cao cấp, công nghệ hiện đại mà trong nước không thể sảnxuất được hay khó khăn trong quá trình sản xuất vì nguồn lực khan hiếm
- Nhập khẩu góp phần khai thác có hiệu quả lợi thế so sánh của mộtquốc gia, tham gia sâu rộng và sự trao đổi quốc tế và sự phân công lao độngquốc tế trên cơ sở chuyên môn hoá sản xuất, gắn thị trường trong nước với thịtrường thế giới, từng bước hoà nhập nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thếgiới phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế
Tuy nhiên, để phát huy được hết vai trò và nhiệm vụ của hoạt độngnhập khẩu còn tuỳ thuộc và quan điểm đường lối lãnh đạo của mỗi nước Vớinước ta, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nhà nước quản lý kinh tế đốingoại tập trung bằng mệnh lệnh, nghị định của chính phủ làm cho hoạt độngnhập khẩu mất đi tính linh hoạt và không đúng với bản chất của nó Từ sau
ĐH VI, nhà nước đã đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đối ngoại phù hợp vớinền kinh tế thị trường thì hoạt động nhập khẩu đang dần khởi sắc và đi vàoquỹ đạo của nó
Tuy chỉ qua một thời gian ngắn mà hoạt động nhập khẩu đã pháthuy được vai trò lớn của nó, thực sự đã tạo cho thị trường trong nước trở nênsôi động, đa dạng và phong phú về hàng hoá, vật tư Tạo ra sự cạnh tranhmạnh mẽ giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Nền kinh tếnước ta đang chuyển mình hoà nhập với nền kinh tế khu vự và thế giới
Trang 162 CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH NHẬP KHẨU TẠI CÁC DOANH NGHIỆP.
2.1 Nghiên cứu thị trường nhập khẩu
Nghiên cứu thị trường nhập khẩu là cả một quá trình tìm kiếm kháchhàng và có hệ thống cùng với việc phát triển tổng hợp các thông tin cần thiết
để giải quyết vấn đề Marketing Bởi vậy, nghiên cứu thị trường ngày càngđóng vai trò quan trọng để giúp các nhà kinh doanh đạt hiệu quả cao tronghoạt động nhập khẩu
Để nắm vững các yếu tố thị trường hiểu rõ quy luật vận động của thịtrường nhăm ứng xử kịp thời, các nhà nhập khẩu nhất thiết phải tiến hànhcông tác nghiên cứu thị trường, bao gồm: Nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu,nghiên cứu dung lượng thị trường, lựa chọn bạn hàng, nghiên cứu giá cả hànghoá trong nhập khẩu
2.1.1 Nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu.
Mục đích nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu là để tiến hành nhập khẩuđúng chủng loại mà thị trường trong nước cần kinh doanh có hiệu quả, đạtđược mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp Việc nhận biết mặt hàng nhậpkhẩu trước hết căn cứ vào nghiên cứu sản xuất và tiêu dùng trong nước về sốlượng, chất lượng, tính thời vụ, thị hiếu cũng như tập quán tiêu dùng của từngvùng, từng lĩnh vực sản xuất Từ đó tiến hành xem xét các khía cạnh của hànghoá cần nhập khẩu như công dụng, đặc tính, quy cách, phẩm chất, mẫu mã,giá cả, điều kiện mua bán, kỹ năng sản xuất và các dịch vụ kèm theo
2.1.2 Nghiên cứu dung lượng thị trường
Dung lượng thị trường là khối lượng hàng hoá được giao dịch trên mộtphạm vi thị trường nhất định trong một thời gian nhất định, thường là mộtnăm Nghiên cứu dung lượng thị trường phải xác định nhu cầu thật của kháchhàng và khả năng cung cấp của nhà sản xuất Nghiên cứu dung lượng của thịtrường nhằm hiểu rõ hơn về quy luật vận động của thị trường
Trang 172.1.3 Lựa chọn bạn hàng.
Trong thương mại quốc tế, bạn hàng hay khách hàng là những ngườihoặc những tổ chức có quan hệ với ta nhằm thực hiện các quan hệ hợp đồngmua bán hàng hoá hay dịch vụ, các hoạt động hợp tác kinh tế hay khoa học kỹthuật liên quan đến việc cung cấp hàng hoá
Chọn thương nhân để giao dịch: Thường chọn những người xuất nhậpkhẩu trực tiếp Chúng ta cần quan tâm đến quan điểm kinh doanh của thươngnhân đó, lĩnh vực kinh doanh của họ, vốn, cơ sở vật chất, uy tín và mối quan
hệ trong kinh doanh của họ
2.1.4 Nghiên cứu giá cả hàng hoá trong nhập khẩu
Giá cả luôn gắn liền với thị trường và là một yếu tố cấu thành thịtrường, nghiên cứu giá cả thị trường là một bộ phận của nghiên cứu thịtrường, nó bao gồm các công việc sau: Nghiên cứu mức giá từng mặt hàng tạitừng thời điểm trên thị trường, xu hướng biến động và các nhân tố ảnh hưởng
Giá quốc tế có tính chất đại diện đối với một loại hàng hoá nhất địnhtrên thị trường thế giới và là giá của những giao dịch thông thường, khôngkèm theo một điều kiện đặc biệt nào và thanh toán bằng ngoại tệ tự do chuyểnđổi
2.2 Lập phương án kinh doanh
Bao gồm các bước sau:
- Đánh giá tình hình thị trường và thương nhân
- Lựa chọn mặt hàng, thời cơ, điều kiện và phương thức kinh doanh
- Đề ra những mục tiêu cụ thể như : sẽ nhập khẩu bao nhiêu với giá cảbao nhiêu, nhập ở thị trường nào và tình hình tiêu thụ hàng hoá đó như thếnào
Trang 18- Đề ra biện pháp thức hiện: Bao gồm cả biện pháp đối với trong nước
và biện pháp đối với thị trường ngoài
- Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế của hoạt động kinh doanh
2.3 Giao dịch, đàm phán và ký kết hợp đồng
2.3.1 Các phương thức chủ yếu trong giao dịch nhập khẩu
Dưới đây là một số phương thức giao dịch cơ bản trong buôn bán quốctế:
* Giao dịch trực tiếp: Giao dịch trực tiếp trong kinh doanh thương mạiquốc tế là giao dịch mà người mua (hoặc bán) thoả thuận, bàn bạc trực tiếp(hoặc thông qua thư từ, điện tín ) với người bán (người mua) về hàng hoá,giá cả, giao dịch, phương thức thanh toán Trong phương thức thanh toán nàyhai bên tiếp cận thị trường hỏi giá, báo giá, chào hàng và đi đến chấp thuậngiá cả của hàng hoá đó Và từ đó đi đến ký kết hợp đồng nhập khẩu hàng hoá
* Giao dịch qua trung gian: Giao dịch qua trung gian trong kinh doanhThương mại quốc tế là giao dịch mà người mua (hoặc người bán) quy định vềđiều kiện trong giao dịch mua bán về hàng hoá, giá cả, điều kiện giao dịch,phương thức thanh toán phải qua một người thứ ba là người trung gian buônbán(chủ yếu là các cửa hàng đại lý, các tổ chức môi giới) Việc sử dụng đại lý
và môi giới có nhiều ưu điểm: Những người trung gian hiểu rõ về tình hình thịtrường, luật pháp, tập quán địa phương, giảm được chi phí vận chuyển, hìnhthành được đại lý buôn bán tiêu thụ rộng, tạo điều kiện cho việc chiếm lĩnh thịtrường mới Tuy nhiên giao dịch này cũng có những nhược điểm là mất liên
hệ trực tiếp với khách hàng, thị trường buôn bán, lợi nhuận bị chia sẻ
* Giao dịch tại hội chợ triển lãm: Hội chợ là thị trường hoạt động định
kỳ tổ chức vào một thời gian nhất định Tại đó người bán trưng bày hàng hoácủa mình và tiếp xúc với người mua để ký kết hợp đồng mua bán
Trang 19* Giao dịch tại sở giao dịch hàng hoá: Sở giao dịch hàng hoá là thịtrường đặc biệt, tại đó thông qua người môi giới do sở giao dịch chỉ địnhngười mua và người bán mua bán hàng hoá có khối lượng lớn có phẩm chấtđồng loại và có thể thay thế nhau Các loại giao dịch ở sở giao dịch là: Giaodịch ngay, giao dịch kỳ hạn, nghiệp vụ tự bảo hiểm
2.3.2 Đàm phán
Đàm phán thương mại là quá trình trao đổi ý kiến của các chủ thể trongmột quan hệ kinh doanh nhằm đi tới thống nhất các điều kiện, cách xử lýnhững vấn đề nảy sinh trong quan hệ buôn bán Nội dung của các cuộc đàmphán thương mại gồm: Tên hàng, phẩm chất, số lượng, bao bì, đóng gói, giaohàng, giá cả, thanh toán, bảo hiểm, bảo hành
2.3.3 Ký kết hợp đồng nhập khẩu.
Một hợp đồng kinh tế ngoại thương là sự thoả thuận giữa những đương
sự có quốc tịch khác nhau trong đó một bên bán (bên xuất khẩu) là một tài sảnnhất định gọi là hàng hoá Bên mua có trách nhiệm trả tiền và nhập hàng.Hình thức hợp đồng bằng văn bản là một hình thức bắt buộc đối với các đơn
vị XNK ở nước ta Các điều khoản trong hợp đồng do bên mua và bên bánthoả thuận chi tiết, mặc dù trước đó đã có đơn đặt hàng và chào hàng, nhưngvẫn phải thiết lập văn bản hợp đồng làm cơ sở pháp lý cụ thể cho các hoạtđộng trao đổi hàng hoá từ quốc gia này sang quốc gia khác, và làm căn cứ choviệc xác định lỗi khi có tranh chấp xảy ra
2.4 Tổ chức thực hiện hợp đồng nhập khẩu
Sau khi hợp đồng nhập khẩu được ký kết, đơn vị kinh doanh XNK với
tư cách là một bên ký kết - phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó Nói chungcần tiến hành các công việc sau:
Trang 20- Khi thực hiện hợp đồng nhập khẩu, doanh nghiệp phải xin giấy chứngnhận đăng ký kinh doanh và giấy chứng nhận đăng ký mã số doanh nghiệpxuất nhập khẩu và xin giấy phép nhập khẩu đối với hàng chuyên ngành
- Kiểm tra chất lượng hàng hoá nhập khẩu: Theo NĐ 200/CP ngày31/12/1973 và Thông tư liên Bộ GTVT- Ngoại thương số 52/TTLB ngày25/1/1975, hàng nhập khẩu khi đi qua cửa khẩu cần được kiểm tra kỹ càng.Doanh nghiệp nhập khẩu, với tư cách là một bên đứng tên trong vận đơn, phảilập thư dự kháng nếu nghi ngờ hoặc thực sự thấy hàng có tổn thất, sau đó phảiyêu cầu công ty bảo hiểm lập biên bản giám định nếu tổn thất xảy ra bởinhững rủi ro đã được mua bảo hiểm
- Thuê tàu chở hoặc uỷ thác thuê tàu: Trong quá trình thực hiện hợpđồng nhập khẩu việc thuê tàu chở hàng được tiến hành dựa vào: Những điềukhoản của hợp đồng mua bán ngoại thương, đặc điểm hàng mua bán và điềukiện vận tải Chủ hàng nhập khẩu phải căn cứ vào đặc điểm và khối lượngvận chuyển của hàng hoá để lựa chọn thuê tàu cho phù hợp đảm bảo thuận lợi
và nhanh chóng
- Mua bảo hiểm: Các chủ hàng nhập khẩu của ta, khi cần mua bảohiểm, đều mua tại các Công ty Việt nam để đề phòng rủi ro Các đơn vị kinhdoanh khi mua bảo hiểm phải làm một hợp đồng với công ty bảo hiểm Tuỳthuộc vào đặc điểm tính chất của hàng hoá, điều kiện vận chuyển mà mua bảohiểm chuyến hay mua bảo hiểm bao Có ba điều kiện bảo hiểm chính: Bảohiểm rủi ro (Điều kiện A), Bảo hiểm có tổn thất riêng (Điều kiện B) và Bảohiểm miễn tổn thất riêng (Điều kiện C)
- Làm thủ tục Hải quan: Hàng hoá khi đi ngang qua biên giới quốc gia
để nhập khẩu đều phải làm thủ tục Hải quan Thủ tục Hải quan là một công cụquản lý hành vi mua bán theo pháp luật của Nhà nước để ngăn chặn buôn lậu
Trang 21Việc làm thủ tục Hải quan gồm ba bước chủ yếu: Khai báo Hải quan, xuấttrình hàng hoá và thực hiện các quyết định của Hải quan
- Giao nhận hàng nhập khẩu: Theo NĐ 200/CP ngày 31/12/1973 “ Các
cơ quan vận tải có trách nhiệm tiếp nhận hàng nhập khẩu trên các phương tiệnvận tải từ nước ngoài vào, bảo quản hàng hoá đó trong quá trình xếp dỡ, lưukho, lưu bãi và giao cho các đơn vị đặt hàng theo lệnh giao hàng của tổngcông ty đã nhập hàng đó” Và theo NĐ 200/CP ngày 31/12/1993 của nhànước thì mọi việc giao nhận hàng đều phải uỷ thác qua cảng khi hàng vềcảng
- Làm thủ tục thanh toán: Nghiệp vụ thanh toán là sự vận dụng tổnghợp các điều kiện thanh toán quốc tế, là nghiệp vụ quan trọng và cuối cùngtrong việc thực hiện hợp đồng nhập khẩu Trong kinh doanh thương mại hiệnnay có rất nhiều phương thức thanh toán khác nhau như: phương thức nhờthu, phương thức điện chuyển tiền và phương thức tín dụng chứng từ
+ Khiếu nại và giải quyết khiếu nại: Khi thực hiện hợp đồng nhập khẩu, nếuchủ hàng nhập khẩu phát hiện thấy hàng nhập khẩu bị tổn thất, đổ vỡ, thiếuhụt, mất mát thì cần lập hồ sơ khiếu nại ngay để khỏi bỏ lỡ thời gian khiếunại
3 CÁC KHÁI NIỆM VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH TRONG
HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP
3.1 Các quan điểm về hiệu quả.
Khi đề cập đến vấn đề hiệu quả có thể đứng trên nhiều góc độ khác
nhau để xem xét
Nếu xét theo hiệu quả cuối cùng thì: Hiệu quả kinh tế là mức độ chênhlêch giữa doanh số thu được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Đứngtrên góc độ này thì phạm trù hiệu quả đông nhất với lợi nhuận Hiệu quả kinhdoanh cao hay thấp là tuỳ thuộc vào trình độ tổ chức hoạt động sản xuất -kinh doanh và tổ chức quản lý trong toàn doanh nghiệp
Trang 22Nếu đứng trên góc độ các yếu tố riêng lẻ để xem xét thì hiệu quả thểhiện trình độ và khả năng sử dụng các yếu tố đó trong quá trình sản xuất-kinhdoanh Nó phản ánh kết quả kinh tế thu được từ việc sử dụng các yếu tố thamgia vào hoạt động sản xuất-kinh doanh Chỉ tiêu hiệu quả là một chỉ tiêu chấtlượng tổng hợp phản ánh trình độ lợi dụng các yếu tố tham gia quá trình sảnxuất-kinh doanh Đồng thời là phạm trù kinh tế gắn liền với sản xuất hànghoá, phản ánh trình độ của nền sản xuất hàng hoá, sản xuất hàng hoá có pháttriển hay không là do hiệu quả đạt được cao hay thấp, chỉ tiêu hiệu quả phảnánh cả về mặt định lượng và cả về mặt định tính Về mặt định lượng thì hiệuquả kinh tế của hoạt động sản xuất-kinh doanh phản ánh mối tương quan giữakết quả thu được và chi phí bỏ ra Về mặt định tính nó phản ánh ảnh hưởngcủa hoạt động sản xuất - kinh doanh đối với việc giải quyết những yêu cầu và
mục tiêu kinh tế, những yêu cầu và mục tiêu chính trị - xã hội
Khi đứng trên phạm vi khác nhau để xem xét vấn đề hiệu quả thì có thể
chia hiệu quả làm nhiều loaị khác nhau
Nếu đứng trên phạm vi xã hội và nền kinh tế quốc dân để xem xét thìgồm có hiệu quả KT- XH và hiệu quả chính trị Cả hai chỉ tiêu hiệu quả nàyđều có vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Nếu đứng trên phạm vi từng yếu tố, từng doanh nghiệp riêng lẻ thì cóphạm trù hiệu quả kinh tế và phạm trù hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh tế của một hoạt động sản xuất-kinh doanh nhăm đề cậptới những lợi ích kinh tế mà hoạt động đó thu được thông qua việc so sánhgiữa các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh và chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh
tế không phản ánh quy mô, hình thức của hoat động kinh tế mà phản ánh vềmặt chất lượng của nó Trong quá trình phát triển sản xuất xã hội thì nguồn tàinguyên ngày càng khan hiếm và trở nên đắt hơn, người ta thấy rằng kết quảthu được từ các hoạt động đó là rất thấp Lý luận hiệu quả kinh tế băt nguồn
Trang 23từ yêu cầu thự tế của quá trình sản xuất nhằm diễn giải, đánh giá chất lượngcủa toàn bộ quá trình hoạt động đó đồng thời tác động tích cực trở lại công tácquản lý, tổ chức kinh doanh được tốt hơn Vấn đề hiệu quả kinh tế trở thànhchỉ tiêu đánh giá hoạt động kinh doanh chung của quốc tế khi đưa ra thảo luậnnăm 1878 do Sapodơnicop cùng các nhà kinh tế và khoa học khác trình bày.Nhưng mãi tới năm 1910 thì hiệu quả kinh tế mới chính thức được thống nhất
và được công nhận băng văn bản Từ đó tới nay, khái niệm về hiệu quả kinh
tê luôn được quan tâm nghiên cứu, hoàn thiện và trở thành bộ phân quantrọng của kinh tế học trong nền kinh tế thị trường Quan điểm về hiệu quảkinh tế được chia thành ba hệ thống quan điểm sau:
* Hệ thống quan điểm thứ nhất: Cho răng hiệu quả kinh tế được xácđịnh bởi tỷ số giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.Hiệu quả kinh tế được đánh giá theo công thức:
Trang 24rằng: “Hiệu quả kinh tế được xem xét trong mối tương quan giữa một bên làkết quả thu được và một bên là chi phí bỏ ra ” Tác giả Lê Thụ cũng đã xácđịnh: “Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu tổng hợp nhất về chất lượng của hoạt động SX-KD Nội dung của nó là so sánh kết quả thu được và chi phí bỏ ra”.
* Hệ thống quan điểm thứ hai: Cho rằng hiệu quả kinh tế được đo bằng
hiệu số giữa giá trị sản xuất đạt được và chi phí bỏ ra đẻe đạt được kết quả đó.Theo quan điểm này hiệu quả kinh tế được xác định bằng công thức:
Qt - Qt-1
H =
Ct - Ct-1
Trong đó: Qt và Qt-1 : Là kết quả của hai thời kỳ liên kết
Ct và Ct-1 : Là chi phí tương ứng với Qt và Qt-1
Quan điểm này thường được dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế trongtổng thể kinh tế - xã hội Quan điểm tổng thể của LN Canieop cho rằng:
“Hiệu quả của sản xuất xã hội được tính toán và kế hoạch hoá trên cơ sở
Trang 25những nguyên tác chung đối với nền KTQD bằng cách so sánh kết quả củasản xuất với chi phí hoặc nguồn dự trữ đã sử dụng
Từ hệ thống quan điểm hiệu quả kinh tế trên cho thấy khái niệm hiệuquả kinh tế là một phạm trù kinh tế, nó được hình thành, bổ sung và hoànthiện cùng với quá trình của lịch sử phát triển kinh tế Để áp dụng khái niệmhiệu quả kinh tế cho việc phân tích một cách đầy đủ, chính xác các hình thứckinh tế, chúng ta cần kết hợp hài hoà việc sử dụng ba hệ thống quan điểmtrên Mỗi hệ thống quan điểm hiệu quả kinh tế sẽ được áp dụng để phân tíchhiện tượng kinh tế theo từng lĩnh vực với mức độ, phạm vi không gian thờigian cụ thể Chẳng hạn khi phân tích kết quả kinh tế của một hiện tượng màchỉ chú trọng tới hệ thông quan điểm thứ nhất thì sẽ không được hiệu quảthực của các mức đầu tư tạ các giai đoạn khác của hoạt động kinh tế đó Điều
đó dẫn tới sai sót trong việc hoạch định kết quả quản lý trong tương lai.Thường những ngành đạt tỷ suất nguồn vốn lớn là ngành sản xuất có quy mônhỏ, có chu kỳ sống của sản phẩm ngắn, mức độ cạnh tranh và rủi ro cao nênviệc so sánh hiệu quả của các quy mô sản xuất khác nhau Xét hiệu qủa kinh
tế của hoạt động kinh doanh theo tỷ số giữa gia tăng hiệu quả và gia tăng chiphí tương ứng theo thời kỳ là xét hiệu quả kinh tế của vốn đầu tư ứng với nềntảng cơ sở vật chất hay nguồn lực đã có sẵn, ứng với các mức đầu tư theo cácgiai đoạn khác nhau của cùng một hoạt động kinh tế ta đã thu được các mứcgia tăng của kết quả là khác nhau
Vậy, khái niệm hiệu quả kinh tế có thể được mở rộng theo ba hệ thốngquan điểm trên là: Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế đánh giá một cáchtổng quát chất lượng các hoạt động kinh tế thông qua các chỉ tiêu hiệu số, chỉtiêu so sánh hay sự gia tăng giữa kết quả và chi phí để đạt kết quả đó theonhững lĩnh vực trong những điều kiện cụ thể
Trang 26Ngoài các công thức tổng quát trên thì hiệu quả kinh tế của một hoạtđộng kinh doanh được đánh giá thông qua nhiều chỉ tiêu khác nhau, trong đóchủ yếu là:
- Tỷ suất lợi nhuận trên vốn (TLN):
- Suất chi phí ( HC):
HC = C/Q.
Chỉ tiêu này biểu hiện tỷ trọng chi phí cần thiết để có được một đơn vịkết quả hay còn gọi là suất tiêu hao Nó thường được để định giá các sảnphẩm trước khi tung ra thị trường
- Tỷ suất doanh lợi ( Rb):
Trang 27S : Tổng số tiền bỏ ra để kinh doanh
- Thời gian hoàn vốn: ( T ):
S
T =
B + A + I
Trong đó: I : Là khoản trả tiền lợi tức và tiền vay
- Doanh lợi hoà vốn ( S0)
Trang 28VLĐ
Trong đó: M : Tổng doanh thu
- Mức lợi nhuận đạt được trên một lao động ( PLĐ):
LN
P LĐ =
T
Trong đó: T: Tổng số lao động bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh lợi nhuận mà một lao động làm ra trong kỳ, chỉtiêu này càng lớn phản ánh hiệu quả sử dụng lao động càng cao
Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng các yếu tố thì phản ánh hiệu quảdụng từng yếu tố tham gia vào quá trình SX-KD của doanh nghiệp Các chỉtiêu này càng lớn phản ánh hiệu quả sử dụng các yếu tố càng cao, tất cả đềugóp phần vào việc nâng cao hiệu quả SX-KD của toàn doanh nghiệp, đồng
Trang 29thời nó cũng phản ánh một khía cạnh nào đóhiệu quả kinh doanh của doanhnghiệp thông qua hoạt động nhập khẩu vật tư, thiết bị
3.2 Sự cần thiết tất yếu phải nâng cao hiệu quả kinh doanh trong hoạt động nhập khẩu
Hiệu quả hoạt động kinh doanh nói chung và hiệu quả hoạt động nhậpkhẩu nói riêng có vai trò hết sức quan trọng trong việc duy trì và phát triểndoanh nghiệp Hiệu quả kinh doanh xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn SX-
KD, nó quyết định sự sống của mỗi doanh nghiệp Doanh nghiệp hoạt độngcàng có hiệu quả thì càng mở rộng, nâng cao khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnhthị trường rộng lớn và tạo uy tín của doanh nghiệp trên thương trường Do vậyhiệu quả SX-KD của doanh nghiệp là một vấn đề có tầm quan trọng to lớn tácđộng trực tiếp tới các doanh nghiệp, buộc họ phải quan tâm nghiên cứu đểduy trì và phát triển hoạt động SX - KD của mình Ngày nay, trên thươngtrường mà người ta ví rằng “Thương trường như chiến trường” nóng bỏng vàkịch liệt như vậy, một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì bản thân nóphải luôn luôn không ngừng hoàn thiện và phát triển Trong quá trình SX-KD,các doanh nghiệp không chỉ nghĩ đến việc đoạt doanh thu hàng năm cao màcòn nghĩ đến việc làm sao để kết quả đạt được năm nay phải cao hơn nămtrước cả về số lượng và chất lượng Sự cần thiết đó xuất phát từ nhữngnguyên nhân sau:
- Các doanh nghiệp, thương nhân luôn mong muốn doanh nghiệp ngàycàng thu được nhiều lợi nhuận hơn, ngày càn đem lại nhiều lợi ích kinh tế, lợiích xã hội hơn nữa cho bản thân các doanh nghiệp và toàn xã hội Để đáp ứngđược mong muốn đó, các doanh nghiệp cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinhdoanh và hiệu quả nhập khẩu vật tư, thiết bị, có như vậy mới đáp ứng đượcmong muốn của mình
- Các doanh nghiệp luôn có tham vọng, mong muốn doanh nghiệp của
Trang 30trên thị trườngnhằm chống chọi với môi trường kinh doanh phức tạp trong cơchế thị trường hiện nay Để đạt được điều đó công ty cần phải nâng cao cácchỉ tiêu như: Doanh thu, tốc độ chu chuyển nguồn vốn, lợi nhuận, kim ngạchnhập khẩu Đó chính là những chỉ tiêu hiệu quả thì doanh nghiệp mới thoảmãn được mong muốn của mình trong chiến lược phát triển doanh nghiệp
- Kinh doanh trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp phải chấp nhậncạnh tranh gay gắt và chỉ giành thắng lợi khi doanh nghiệp kinh doanh cóhiệu quả hơn đối thủ cạnh tranh Do đó, để vượt lên trên các đối thủ cần phảikhông ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Tóm lại, nâng cao hiệu quả kinh doanh nhập khẩu là sự cần thiết kháchquan để đảm bảo cho doanh nghiệp duy trì và phát triển, khẳng định vị trí củamình trên thị trường
3.3 Nâng cao hiệu quả kinh doanh trong hoạt động nhập khẩu
3.3.1 Hoàn thiện công tác tổ chức kinh doanh nhập khẩu
Công tác tổ chức kinh doanh có vai trò rất quan trọng đối với việc nângcao hiệu quả hoạt động kinh doanh nhập khẩu Nếu như vịêc tổ chức kinhdoanh càng phù hơp với chức năng, điều kiện của doanh nghiệp, phù hợp vớiyêu cầu của cơ chế thị trường, đáp ứng nhu cầu thị trường nó sẽ thúc đẩydoanh nghiệp chiếm lĩnh thị phần, thu hút khách hàng, nâng cao khả năngcạnh tranh trên thị trường, làm tăng tài sản vô hình cho doanh nghiệp Đểhoàn thiện công tác tổ chức kinh doanh nhập khẩu có thể thực hiện các chiếnlược sau:
hình thức nhập khẩu
Hiện nay, trong hoạt động ngoại thương có bốn hình thức nhập khẩu cơ
bản, đó là: Nhập khẩu trực tiếp, nhập khẩu uỷ thác, buôn bán đối lưu, nhậpkhẩu tái xuất Tuy nhiên, thực tế ở Việt Nam cho tháy nước ta áp dụng hai
Trang 31hình thức nhập khẩu chủ yếu là nhập khẩu trực tiếpvà nhập khẩu uỷ thác Vìvậy, các doanh nghiệp kinh doanh XNK phải tìm mọi biện pháp để thực hiệnhai biện pháp này có hiệu quả Ngoài ra, cần phải khai thác nhu cầu tiêu dùng
ở thị trường trong nước, xem xét khả năng của doanh nghiệp để kết hợp vớicác hình thức kinh doanh nhập khẩu khác như nhập khẩu tái xuất nhằm thu lợinhuận Trên cơ sở nước nhập khẩu phải có những khó khăn nhất định trongviệc nhập khẩu trực tiếp hàng hoá, vật tư đó Tiến hành nhập khẩu vật tư, máymóc thiết bị đồng thời xuất khẩu sản phẩm cho họ, nhập khẩu hàng hoá kếthợp với tái chế để xuất khẩu hàng hoá đó, làm trung gian xuất nhập khẩu chohọ
3.3 1.2 Linh hoạt trong giao dịch kinh doanh nhập khẩu
Quá trình kinh doanh nhập khẩu được tiến hành qua nhiều khâu, nhiềucông việc, từ giai đoạn chuẩn bị giao dịch, đàm phán ký kết hợp đồng cho đến
tổ chức thực hiện hợp đồng
Giai đoạn chuẩn bị giao dịch phải được thực hiện hết sức cẩn thận, tỉ mỉ
và chu đáo; Linh hoạt trong quá trình nghiên cứu thị trường mà trong đónghiên cứu hàng hoá, lựa chọ nhà cung cấp phù hợp là quan trọng; Chính xác
và hiệu quả trong khâu lập phương án kinh doanh
Việc đàm phán ký kết hợp đồng ngoài việc gặp nhau trực tiếp cần chútrọng đến một vài hình thức khác nhau như đàm phán ký kết hợp đồng quađiện thoại, thư tín, Fax, mạng Internet
Phải biết sử dụng nghệ thuật ứng xử trong đàm phán Biện pháp này rấtquan trọng, giúp cho doanh nghiệp giảm được nhiều chi phí, tiến hành đàmphán ký kết hợp đồng một cách nhanh chóng Bên cạnh đó phải linh hoạttrong thủ tục hành chính, cập nhật thông tin, cập nhật chính sách quant lý vĩ
mô của nhà nước tạo thuận lợi cho việc tổ chức thực hiện hợp đồng
Trang 32Việc mở rộng danh mục hàng hoá nhập khẩu phải đi đôi với việc mởrộng ngành hàng, phát triển thị trường, tăng doanh thu và tăng lợi nhuận củadoanh nghiệp Bên cạnh việc xác định mặt hàngnhập khẩu nào là chủ yếu,truyền thống là thế mạnh của doanh nghiệp là tập trung gia tăng về số lượngcũng như chất lượng và giữ gìn, phát triển thị trường đó Cần phải tìm kiếm
và khai thác nhu cầu tiêu dùng và sản xuất trong nước về các loại hàng hoákhác Từ đó doanh nghiệp nghiên cứu khả năng và tìm kiếm nguồn cung cấpcác loại hàng hoá đó trên thị trường thế giới trên cơ sở mối quan hệ và khảnăng của doanh nghiệp, lập phương án kinh doanh cho từng mặt hàng Kinhdoanh nhập khẩu nhiều loại hàng hoá, vật tư sẽ có cơ sở chiếm lĩnh nhiềuđoạn, nhiều khúc thị trường khác nhau Từ đó nâng cao được doanh số bánhàng của doanh nghiệp
3.3.1.4 Thúc đẩy hoạt động khuyếch trương bán hàng
Suy cho cùng thì việc doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu hàng hoá, vật
tư có đạt hiệu quả hay không là tuỳ thuộc vào việc hàng hoá, vật tư nhập về
có tiêu thụ được hay không Để tổ chức tốt khâu bán hàng thì điều qua trọngphải thúc đẩy hoat động khuyếch trương bán hàng, đó là một công cụ quantrọng trong chiến lược Marketing trong mỗi doanh nghiệp Các doanh nghiệp
có thể sử dụng các chiến lược sau:
- Quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng
- Làm tốt các hoạt động xúc tiến bán hàng như: Phát không các tài liệuliên quan đến sản phẩm cho khách hàng, bán hàng kèm theo quà thưởng
- Xây dựng tốt mối quan hệ quần chúng nhằm thu hút sự chú ý củakhách hàng như: Tổ chức hội nghị khách hàng, hội thảo quốc tế, tiến hành cáchoạt động tài trợ, từ thiện
Trang 33- Tổ chức dịch vụ sau bán hàng như: Doanh nghiệp cần cung cấp tưliệu kỹ thuật như các bản hướng dẫn sử dụng, sơ đồ cấu tạo và các Cataloguehàng hoá, bảo hành bảo dưỡng
- Các điều kiện ưu đãi trong thanh toán
- Sử dụng các kỹ thuật yểm trợ như: Mở rộng cửa hàng giới thiệu sảnphẩm, tham gia vào các hiệp hội kinh doanh, hội chợ triển lãm
3.3.2 Mở rộng trị trường
Kinh doanh trong cơ chế thị trường, chiếm lĩnh thị trường là yêu cầuquan trọng để phát triển doanh nghiệp Các doanh nghiệp bên cạnh việc duytrì và mở rộng thị trường chính hiện có của mình, cần phải luôn luôn mở rộngthị trường kinh doanh, phân khúc thị trường hợp lý nhằm nâng cao khả năngcạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, có như vậy doanh nghiệp mớiđạt hiệu quả kinh doanh cao Bởi vì, thị trường đóng vai trò hết sức quantrọng cho mỗi doanh nghiệp, thị trường là môi trường kinh tế-xã hội củadoanh nghiệp, là tấm gương để các doanh nghiệp nhận biết nhu cầu xã hội vàđánh giá kết quả kinh doanh của mình để thông qua đó doanh nghiệp có thểbiết được nên kinh doanh cái gì? Thị trường là nơi hình thành các mối quan
hệ kinh tế của doanh nghiệp với doanh nghiệp, của doanh nghiệp với toàn bộnền kinh tế quốc dân Đối với các doanh nghiệp kinh doanh XNK thì việc
mở rộngthị trường có nghĩa là đồng thời mở rộng cả thị trường mua và thịtrường bán
Trang 34trực tiếp tới hiệu quả hoạt động kinh doanh Vì vậy, sự đa dạng của thitrường mua sẽ cho phép doanh nghiệp tận dụng việc cạnh tranh trong cungcấp hàng hoá, có cơ hội lựa chon nhà cung cấp; Doanh nghiệp thuận lợi trongviệc quyết định nhập khẩu loại hàng hoá, vật tư nào? của ai? mà thoả mãnđược các yêu đặt ra như: Chi phí thấp nhất, chất lượng hàng hoá cao, các điềukiện về thuế quan, thủ tục hải quan, vận chuyển và các điều kiện ưu đãi vềcác dịch vụ khác; Doanh nghiệp cũng thuận lợi trong việc thu hút người mua,nhằm tiêu thụ nhanh chóng, tốc độ quay vòng vốn nhanh và đạt lợi nhuận cao.
Để mở rộng thị trường nhập khẩu, doanh nghiệp cần thông qua các tổ chứcthương mại, tổ chức kinh doanh quốc tế, tổ chức tư vấn hoặc tự kiểm tra,nghiên cứu để xác định xem có bao nhiêu nhà cung cấp cùng một loại hànghoá, vật tư trên cơ sở cân nhắc về chi phí vận chuyển, chất lượng hàng hoá,các điều kiện cơ sở giao hàng, phong tục tập quán kinh doanh của thị trường
Từ đó, doanh nghiệp quyết định nên nhập hàng từ thị trường nào là tối ưu,đồng thời xác định hợp tác làm ăn lâu dài nếu thấy có lợi
3.3 2.2 Thị trường bán
Việc mở rộng thị trường bán sẽ cho phép doanh nghiệp gia tăng sốlương hàng hoá nhập khẩu, mở rộng danh mục hàng hoá nhập khẩu, nâng caokhả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, thúc đẩy gia tăng doanh số bán hàng,tăng lợi nhuận, nâng cao uy tín và vị trí của doanh nghiệp Thị trường bánđóng vai trò chủ yếu vì trong đó hoạt động bán hàng có tác động trực tiếp tớihiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, biểu hiện: chỉ có thông quahoạt động bán hàng các doanh nghiệp mới có thể thực hiện được mục tiêu củaquá trình kinh doanh đề ra, chỉ có bán hàng mới nâng cao trách nhiệm củaCBCNV trong doanh nghiệp để từng bước cải thiện đời sông của họ Bánhàng nhằm tăng thị phần cho doanh nghiệp, mở rộng quy mô và phạm vi thịtrường hàng hoá; Tối đa hoá doanh thu và lợi nhuận; Bán hàng nhằm phục vụ
Trang 35khách hàng, góp phần vào việc thoả mãn nhu cầu tiêu dùng, phát triển kinh
tế-xã hội của đất nước, đây chính là một khía cạnh chức năng tế-xã hội của doanhnghiệp và tự khẳng định vị trí của minh như một tế bào của nền kinh tế quốcdân Để mở rộng thị trường bán, các doanh nghiệp cần tập trung vào một sốbiện pháp sau:
- Để tấn công sang thị trường của đối thủ cạnh tranh các doanh nghiệpcần phải tạo ra ưu thế hơn hẳn cho sản phẩm của mình như: chất lượng, giá
cả, các điều kiện mua bán khác, phương thức thanh toán và hoạt độngMarketing
- Để mở rộng thị trường bán loại hàng hoá doanh nghiệp đang nhậpkhẩu, doanh nghiệp cần phải điều tra, xác định đúng nhu cầu của thị trường
về các loại hàng hoá đó một cách linh hoạt như:
+ Với những hàng hoá , vật tư mà việc tiêu thụ thường được tiến hànhtheo các đơn đặt hàng thì doanh nghiệp có thể xác định câù bằng cách cộngtất cả các khối lượng hàng hoá đã được ký kết theo các mức giá bán, theochủng loại và thời điểm tiêu thụ
+ Với các doanh nghiệp đã biết được dung lượng thị trường và thị phầntương đối của doanh nghiệp mình thì có thể xác định cầu bằng công thức: Nhu cầu TT về hàng hoá của DN = Dung lượng thị trường * Thị phần DN + Trong trương hợp các doanh nghiệp không xác định được thị phần củadoanh nghiệp mình họ có thể xác định cầu hàng hoá bằng cách lấy dunglượng thị trường trừ đi phần thị trường tương đối của các doanh nghiệp trongmột ngành
+ Đối với những hàng hoá mà đối tượng tiêu dùng đã được chỉ định cóthể dựa vào quy mô biên chế và định mức cho phép để xác định nhu cầu thịtrường