Người chỉ rõ, cán bộ kiểm tra phải có đầy đủ năng lực của một cán bộ đảng, làm công tác xây dựng Đảng,đồng thời có những yêu cầu riêng cả về năng lực và phẩm chất, kinhnghiệm, uy tín, bả
Trang 1THỜI SỰ CHÍNH TRỊ
Bộ trưởng Bộ Nội vụ Trần Văn Tuấn tiếp Giám đốc quốc gia Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam
gày 7/11/2008, tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Trần Văn Tuấn đã tiếp bà Setsuko Yamazaky, Giám đốc UNDP tại Việt Nam.
N
Tại buổi tiếp, Bộ trưởng Trần Văn Tuấn và bà Setsuko Yamazaky đã trao đổi
ý kiến về các nội dung, biện pháp nhằm tăng cường quan hệ, thúc đẩy hợp tác giữa
Bộ Nội vụ với UNDP
Phát biểu tại buổi tiếp, Bộ trưởng Trần Văn Tuấn đánh giá cao sự hỗ trợ, hợp tác của UNDP với Việt Nam nói chung và Bộ Nội vụ nói riêng thời gian qua; giới thiệu một số nét nổi bật trong cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính nhà nước Việt Nam, những nội dung chính của dự thảo Luật Cán bộ, công chức; kết quả chủ yếu của công tác cải cách hành chính, quá trình chuẩn bị đề án thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường của Việt Nam ; đồng thời bày tỏ mong muốn UNDP tiếp tục hợp tác, hỗ trợ Việt Nam trong lĩnh vực đào tạo, nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, công chức, triển khai chương trình cải cách hành chính ở các địa phương, tổ chức các hội thảo quốc tế liên quan công tác cải cách hành chính, tạo điều kiện để
Trang 2các chuyên gia Việt Nam tham khảo, trao đổi ý kiến với các chuyên gia nước ngoài trong lĩnh vực này
Bà Setsuko Yamazaky trân trọng cảm ơn Bộ trưởng Trần Văn Tuấn đã dành thời gian tiếp và bày tỏ vui mừng trước sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã hội của Việt Nam thời gian qua; nhất trí cao với những định hướng quan hệ hợp tác giữa hai bên mà Bộ trưởng Trần Văn Tuấn đã nêu; đồng thời khẳng định UNDP luôn sẵn sàng hỗ trợ, hợp tác, giúp đỡ Chính phủ Việt Nam nói chung và Bộ Nội vụ nói riêng, đặc biệt là trong lĩnh vực đào tạo, nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập WTO…./
TRẦN KIÊN
Trang 3HỘI THẢO “KHOA HỌC TỔ CHỨC
VÀ KHOA HỌC TỔ CHỨC NHÀ NƯỚC”
gày 18/11/2008, tại Hà Nội, Bộ Nội vụ phối hợp với Học viện Hànhchính công Canada tổ chức hội thảo “Khoa học tổ chức và khoa học tổchức nhà nước”
và Canada; mô hình tổ chức các cơ quan hành chính nhà nước, tổ chứcchính quyền địa phương theo tinh thần cải cách hành chính; kinh nghiệmcủa Canada về tổ chức cung ứng dịch vụ công nhằm góp phần làm sáng
tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến khoa học tổ chức vàkhoa học tổ chức nhà nước, từ đó cung cấp luận cứ khoa học cho việcnghiên cứu xây dựng bộ máy nhà nước có chức năng, nhiệm vụ phù hợp
Trang 4với yêu cầu, đòi hỏi nội tại của đất nước trong bối cảnh Việt Nam đangtrong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế./.
C
Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga năm 1917 thắng lợi
là do những nguyên nhân cơ bản, chủ yếu sau đây:
Một là, có sự lãnh đạo của giai cấp vô sản Nga, một giai cấp có
tinh thần cách mạng triệt để, được rèn luyện, thử thách, tập dượt trongquá trình cách mạng và có nhiều kinh nghiệm Giai cấp công nhân Nga
có một đảng vô sản kiểu mới - Đảng Cộng sản, đứng đầu là V.I.Lê-ninthiên tài, được vũ trang bằng học thuyết Mác Giai cấp công nhân Ngavừa là động lực, vừa là người lãnh đạo cách mạng Sự lãnh đạo đúngđắn, sáng suốt, nhạy bén của Đảng về chiến lược, sách lược là điều kiệnquyết định bảo đảm thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm1917
Hai là, Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga thắng lợi vì
có khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân ĐảngCộng sản đã tranh thủ về mình những người đồng minh trung thành,hùng hậu, có tinh thần cách mạng là nông dân nghèo, tranh thủ được
Trang 5trung nông và các tầng lớp khác, đặc biệt là binh lính của giai cấp tưsản
Ba là, Cách mạng Tháng Mười Nga nổ ra kịp thời trong điều kiện,
hoàn cảnh quốc tế thuận lợi, khi cuộc chiến tranh thế giới giữa các nước
đế quốc đang diễn ra quyết liệt, chúng không thể tập trung lực lượng
để chống phá cách mạng Hơn nữa, kẻ thù của cách mạng là giai cấp tưsản Nga vừa lạc hậu, vừa yếu đuối và bị phụ thuộc vào chủ nghĩa tưbản Anh, Pháp, có lúc còn phải dựa vào các đảng cơ hội khác
Bốn là, Đảng Cộng sản và Lê-nin đã vận dụng một cách uyển
chuyển, khôn khéo, nhanh nhạy về chính trị, tiến công kẻ thù để giácngộ và vận động quần chúng Đảng Cộng sản và Lê-nin đã đánh giáđúng tình hình và chuyển biến cách mạng kịp thời, làm cho cách mạngnhanh chóng thành công Đảng Cộng sản và Lê-nin đã kết hợp đượccuộc đấu tranh cho hoà bình, đấu tranh giải phóng dân tộc và các dântộc bị áp bức với cuộc đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội thành một phongtrào thống nhất
Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga có giá trị lịch sử sâusắc, to lớn:
Thứ nhất, Cách mạng Tháng Mười Nga là cột mốc mở đầu thời kỳ
mới, thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm
vi toàn thế giới Thật vậy, trong lịch sử xã hội loài người, đã trải quanhiều cuộc cách mạng to lớn nhưng chưa từng có cuộc cách mạng nào
vĩ đại hơn Cách mạng Tháng Mười Nga tạo ra bước ngoặt căn bảntrong lịch sử nước Nga Nó kết thúc cả một thời kỳ lịch sử do giai cấpbóc lột kế tiếp nhau thống trị nước Nga, mở đầu một thời kỳ lịch sử củagiai cấp công nhân và nông dân lao động Nga đứng lên làm chủ vậnmệnh của mình, xây dựng nền chuyên chính vô sản Cách mạng ThángMười Nga vĩnh viễn xóa bỏ sự bóc lột giữa người với người, xoá bỏ mọihình thức áp bức Giai cấp vô sản lần đầu tiên trong lịch sử có vị tríxứng đáng là trung tâm cho mọi cuộc cách mạng mới
Thứ hai, Cách mạng Tháng Mười Nga tạo ra bước ngoặt làm thay
đổi phương hướng, nhịp điệu tiến lên của lịch sử xã hội loài người Nó
đã chọc thủng mặt trận của chủ nghĩa đế quốc, tổ chức thành một quốcgia, một nhà nước kiểu mới của giai cấp vô sản và nhân dân lao động.Cách mạng Tháng Mười Nga không những chỉ ra sự tác động, ảnhhưởng to lớn đến quá trình phát triển của lịch sử thế giới mà còn đemlại cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động các dân tộc bị áp bức,cho những người đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc những nhận thức
Trang 6mới, niềm tin mới về cải tạo thế giới tư bản, về một thế giới công bằng,hợp lý hơn.
Thứ ba, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi đã biến chủ nghĩa
xã hội khoa học từ lý luận trở thành hiện thực Trước Cách mạng ThángMười, chủ nghĩa cộng sản mới chỉ là ước mơ Nay, cách mạng thànhcông ở nước Nga là một hiện thực Bằng những nguyên lý của Mác, Lên-nin đã vận dụng sáng tạo và phát triển thành công cách mạng ở mộtnước Từ đây, những lý luận của chủ nghĩa Mác một lần nữa được chứngminh trong thực tiễn, đi sâu giác ngộ và vận động quần chúng Chủnghĩa Mác trở thành sức mạnh khi nó xâm nhập sâu vào phong tràocách mạng và lý luận đó đã được bổ sung, hoàn thiện một cách phongphú trong Cách mạng Tháng Mười Nga Chính Cách mạng Tháng MườiNga đã giải đáp và chứng minh rằng, chỉ có con đường cách mạng vôsản mới giải phóng được giai cấp công nhân và nhân dân lao động khỏi
áp bức, bóc lột và bất công Vì vậy, thắng lợi của Cách mạng ThángMười Nga năm 1917 đã nêu cao sự vĩ đại của chủ nghĩa Mác - Lê-nin vàbản chất tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội hiện thực
Thứ tư, thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga đã thức tỉnh, cổ
vũ các dân tộc, các thuộc địa bị áp bức đứng lên đấu tranh chống áchxâm lược, cai trị của chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập dân tộc và đi lênchủ nghĩa xã hội Sau Cách mạng Tháng Mười, nhiều nơi đã thành lậpcác Xô-viết như: Xô-viết Hung-ga-ri, Xô-viết Xlô-va-ki-a, nhiều nơi trongcác Xô-viết này, giai cấp công nhân đã bãi công, chiếm xí nghiệp củagiai cấp tư sản, nông dân nổi dậy chiếm ruộng đất của địa chủ, nêu caokhẩu hiệu “noi gương nước Nga”, “Lê-nin muôn năm” Cách mạngTháng Mười đã thức tỉnh các dân tộc thuộc địa, đồng thời vạch ra tínhtất yếu trong sự liên minh giữa phong trào công nhân với cuộc đấutranh giải phóng dân tộc; và đã chỉ ra rằng, chỉ có cách mạng vô sản,chỉ có sự giúp đỡ của giai cấp công nhân các nước đã nắm chính quyềnthì mới có thể giải quyết được vấn đề dân tộc Thực tế đã chứng minh:Cách mạng Tháng Mười Nga đã mở ra khả năng rộng lớn và chỉ ra conđường thắng lợi cho phong trào cách mạng ở châu Á, trong đó có ViệtNam Cách mạng Tháng Mười Nga có ảnh hưởng to lớn đến phong tràocộng sản và công nhân quốc tế Trước cách mạng chỉ có một ĐảngCộng sản duy nhất ở Nga, nhưng sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm
1917, nhiều Đảng đã được thành lập như các Đảng Cộng sản Đức, áo,Hung-ga-ri, Ba Lan, Phần Lan… Các lực lượng tiên tiến của giai cấpcông nhân đã đoàn kết lại chung quanh Đảng Cộng sản Quốc tế cộng
Trang 7sản “Quốc tế III”ä được thành lập năm 1919, dưới sự lãnh đạo của nin đưa phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đến giai đoạn pháttriển mạnh mẽ hơn.
Lê-Thứ năm, Cách mạng Tháng Mười Nga là một mẫu mực kiệt xuất
về chiến lược, sách lược và phương pháp cách mạng của giai cấp vôsản Cách mạng Tháng Mười Nga có sự chỉ đạo thiên tài của Lê-nin vàĐảng Cộng sản Nga; đã phân tích tình hình cách mạng một cách kháchquan, đánh giá chính xác các yếu tố và điều kiện cách mạng, đề rachiến lược, sách lược đúng đắn cho từng giai đoạn chuyển biến cáchmạng như: vấn đề thời cơ cách mạng, thay đổi sách lược; vấn đề sửdụng bạo lực cách mạng, vấn đề lợi dụng và khoét sâu mâu thuẫn chủyếu của địch… Có thể nói, những nguyên lý của C.Mác, Ph.Ăng-ghen đãđược V.I.Lê-nin vận dụng một cách đúng đắn, sáng tạo trong suốt quátrình đấu tranh cách mạng mà đỉnh cao là thắng lợi của Cách mạngTháng Mười Nga vĩ đại
Hiện nay, lợi dụng sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên
Xô (cũ) và các nước Đông Âu, các thế lực thù địch và cơ hội trong nước
và quốc tế đã, đang lớn tiếng bôi nhọ, phủ định những giá trị đích thực,ảnh hưởng và ý nghĩa quốc tế của Cách mạng Tháng Mười Nga Song sựthật lịch sử vĩ đại cũng như giá trị lịch sử và tầm vóc to lớn của Cáchmạng Tháng Mười Nga không gì có thể xoá nhoà được Với tinh thầncách mạng, phương pháp xem xét khoa học, chúng ta có thể khẳngđịnh rằng, mặc dù tình hình thế giới đang có nhiều biến động, nhưngkhông làm thay đổi nội dung, tính chất của thời đại ngày nay - đó làthời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vitoàn thế giới, mở đầu bằng thắng lợi của Cách mạng xã hội chủ nghĩaTháng Mười Nga năm 1917 vĩ đại Nói về ý nghĩa của Cách mạng ThángMười Nga đối với cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạngTháng Mười chiếu sáng năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệungười bị bóc lột trên trái đất Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộccách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”(1)./
_
Ghi chú:
Trang 8(1) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
1980, tr.461
Trang 9HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ KIỂM TRA ĐẢNG
CAO VĂN THỐNG
Phó Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu,
Uỷ ban Kiểm tra Trung ương
ằng kinh nghiệm của mình trong việc lãnh đạo và xây dựng đội ngũcán bộ của Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rút ra một chân
lý là: "Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặckém"(1) Người cũng khẳng định "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc"(2).Trong việc lựa chọn và xây dựng đội ngũ cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đãđặt ra tiêu chuẩn cụ thể và đề cập rất sớm, trong tác phẩm "Đường Káchmệnh" Theo Người, tiêu chuẩn cán bộ bao gồm cả đức và tài, phẩm chất
và năng lực, không thể coi nhẹ mặt nào Trong đó, Người nhấn mạnh đức
là gốc, vì người cán bộ có đức thì không bao giờ làm việc thất đức, trái vớiđạo lý, lương tâm của mình và luôn không ngừng phấn đấu để nâng caokhả năng của mình đáp ứng yêu cầu của công việc, nhiệm vụ chính trịđược Đảng, Chính phủ và nhân dân giao phó Đồng thời luôn có ý thứckiên trì trau dồi, tu dưỡng, rèn luyện, từng bước nâng cao mặt tài năngcủa mình lên ngang tầm đòi hỏi của công việc được giao Người chỉ rõ:
"Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn.Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạođức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhândân"(3)
B
Trong từng điều kiện, giai đoạn cách mạng, những tiêu chuẩn củacán bộ luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh bổ sung hoàn thiện và cụ thể hoácho phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ chính trị và đòi hỏi của sự nghiệpcách mạng Người chỉ rõ, ngày nay, Đảng ta yêu cầu cán bộ và đảng viênchẳng những thạo về chính trị mà còn phải giỏi chuyên môn và ai lãnhđạo trong ngành hoạt động nào thì phải biết chuyên môn của ngành đó.Người cũng đặt ra yêu cầu trong công tác cán bộ phải biết sớm phát hiện
và uốn nắn những lệch lạc, thiếu sót khuyết điểm của cán bộ; dự báonhững sai phạm để có biện pháp quản lý, kiểm tra, giám sát, giáo dục,rèn luyện cán bộ, từ đó chủ động phòng ngừa, không để xảy ra vi phạm
từ khi còn manh nha để bảo vệ cán bộ, giữ uy tín của Đảng Người nói:
Trang 10"Giao công việc mà không kiểm tra, đến lúc thất bại mới chú ý đến Thế làkhông biết yêu dấu cán bộ"(4).
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, muốn có cán bộ tốt, sử dụng cán bộđúng mục tiêu, yêu cầu, có hiệu quả thì phải biết lựa chọn, đào tạo, huấnluyện cán bộ phù hợp với công việc được giao Người chỉ rõ "huấn luyệncán bộ là công việc gốc của Đảng"(5) và yêu cầu "Đảng phải nuôi dạy cán
bộ, như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu"(6) Theo Chủtịch Hồ Chí Minh, việc huấn luyện cán bộ phải toàn diện cả về chính trị,văn hoá, khoa học kỹ thuật, đạo đức, ngoại ngữ; giáo dục lý luận Mác -Lê-nin, lý luận của từng ngành, từng lĩnh vực chuyên môn mà người cán
bộ đang làm Người chỉ rõ, mục đích huấn luyện cán bộ là làm cho họnâng cao được nhận thức, tư tưởng, lập trường quan điểm Quan trọnghơn là học để hành, học để vận dụng một cách sáng tạo vào công việc cụthể, hoàn cảnh thực tế công việc của Đảng, Chính phủ và nhân dân giaocho họ để hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ Người còn chỉ rõ mục đíchcao nhất của việc đào tạo cán bộ là xây dựng được một đội ngũ cán bộ có
đủ trình độ, khả năng, bản lĩnh, có phương pháp, phong cách làm việckhoa học, sâu sát, đúng đường lối quần chúng, có trách nhiệm, thực sự làcông bộc, là người đày tớ tận tụy và trung thành của nhân dân
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn sử dụng cán bộ đúng, có hiệu quảthì phải hiểu biết cán bộ, xem xét, đánh giá đúng cán bộ, chẳng nhữngxem xét công tác, cách viết, cách nói của họ, mà còn phải xem xét cáchsinh hoạt, việc làm của họ có đúng với lời nói, bài viết của họ hay không.Người còn nhắc nhở, cách xem xét cán bộ quyết không chấp nhặt Tưtưởng của Người trong việc lựa chọn, bố trí, sử dụng cán bộ rất biệnchứng, cụ thể, thiết thực, tức là phải phù hợp với năng lực và sở trường,khả năng của mỗi cán bộ, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Ngườicho rằng: "Không có ai cái gì cũng tốt, cái gì cũng hay Vì vậy, chúng taphải khéo dùng người, sửa chữa những khuyết điểm cho họ, giúp đỡ ưuđiểm của họ Thường chúng ta không biết tuỳ tài mà dùng người Thí dụ:thợ rèn thì bảo đi đóng tủ, thợ mộc thì bảo đi rèn dao Thành thử haingười đều lúng túng Phải dùng người đúng chỗ, đúng việc"(7) Ngườicăn dặn, trong công tác cán bộ, cần chú trọng khâu cất nhắc, đề bạt; cấtnhắc cán bộ phải căn cứ vào yêu cầu công tác, vào tài năng của cán bộ
Vì "Nếu cất nhắc không cẩn thận, không khỏi đem người bô lô ba la, chỉnói mà không biết làm, vào những địa vị lãnh đạo Như thế rất có hại"(8).Người còn đòi hỏi, chẳng những phải xem xét kỹ cán bộ trước khi cấtnhắc, đề bạt, mà sau khi cất nhắc, đề bạt phải giúp đỡ, thương yêu và
Trang 11phải luôn kiểm tra, giám sát, phê bình cán bộ Người chỉ rõ: "Phải luônluôn dùng lòng nhân ái mà giúp đỡ, lãnh đạo cán bộ Giúp họ sửa chữanhững chỗ sai lầm Khen ngợi họ lúc họ làm được việc Và phải luôn kiểmsoát cán bộ"(9).
Tư tưởng Hồ Chí Minh về sử dụng cán bộ rất khoa học, công tâm,khách quan, toàn diện, dân chủ, công khai và minh bạch, không chỉđối với từng người, mà còn đối với cả các lớp, các thế hệ cán bộ để bổsung, hỗ trợ cho nhau, phục vụ thực hiện thắng lợi sự nghiệp cáchmạng của Đảng, của dân tộc Người còn đặc biệt quan tâm về chínhsách đối với cán bộ để vừa bảo đảm cho họ có đủ điều kiện sinh hoạt,làm việc có kết quả, vừa tạo sự thân ái, đoàn kết trong Đảng Ngườiyêu cầu: "Phải cho họ điều kiện sinh sống đầy đủ mà làm việc Tuỳtheo hoàn cảnh mà giúp họ giải quyết vấn đề gia đình Những điều đórất quan hệ với tinh thần của cán bộ, và sự thân ái đoàn kết trongĐảng"(10)
Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ, không chỉ đối với cán bộcủa Đảng, của Chính phủ, của đoàn thể nhân dân nói chung, mà còn đốivới cán bộ kiểm tra của Đảng nói riêng Người chỉ rõ, cán bộ kiểm tra phải
có đầy đủ năng lực của một cán bộ đảng, làm công tác xây dựng Đảng,đồng thời có những yêu cầu riêng cả về năng lực và phẩm chất, kinhnghiệm, uy tín, bản lĩnh, kỹ năng nghiệp vụ để đáp ứng đòi hỏi của yêucầu nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và phục vụ thực hiện thắng lợi nhiệm vụchính trị và công tác xây dựng Đảng trong từng giai đoạn cách mạng.Người yêu cầu "Cán bộ kiểm tra phải học tập và thấm nhuần đường lối,quan điểm của Đảng, phải luôn chú ý nâng cao khả năng chuyên môn,phải cố gắng công tác, phải trau dồi đạo đức cách mạng Đặc biệt phảinâng cao ý thức tổ chức và kỷ luật, phải thật thà phê bình và tự phê bình
để làm gương mẫu trong việc chấp hành kỷ luật của Đảng Phải chí công
vô tư, không thiên vị, không thành kiến Như thế thì mới làm tốt công táckiểm tra"(11) Người cũng chỉ rõ điều kiện và trách nhiệm của cán bộkiểm tra là: "Người lãnh đạo cần phải có một nhóm cán bộ nhiều kinhnghiệm và giàu năng lực để giúp mình đi kiểm tra Ai đi kiểm tra việc gì,nơi nào nếu có sơ suất thì người ấy phải chịu trách nhiệm"(12)
Trước "Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phítrong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức diễn ra nghiêm trọng Công tác tổ chức và cán bộ còn nhiều mặt yếu kém Chất lượng và hiệuquả công tác kiểm tra, giám sát chưa cao"(13), cùng với tác động xấu của
Trang 12mặt trái kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hoá, để đội ngũ cán bộ,đảng viên đáp ứng yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của việc thực hiệnnhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng trong điều kiện mới, Báocáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về công tác xây dựngĐảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã chỉ rõ: "Mụctiêu chung là xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, cóđạo đức, lối sống lành mạnh, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí, kiênquyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; có tư duy đổimới, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu củathời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; có tinh thần đoàn kết,hợp tác, ý thức tổ chức, kỷ luật cao và phong cách làm việc khoa học, tôntrọng tập thể, gắn bó với nhân dân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu tráchnhiệm Đội ngũ cán bộ phải đồng bộ, có tính kế thừa và phát triển, có sốlượng và cơ cấu hợp lý"(14) Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấphành Trung ương khoá X về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát củaĐảng đã chỉ rõ: "Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp đủ về sốlượng, bảo đảm chất lượng, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ; có phẩm chấtđạo đức cách mạng, có bản lĩnh chính trị, kinh nghiệm, tính chiến đấucao, có kỹ năng nghiệp vụ thuần thục, phương pháp công tác khoa học,công tâm, khách quan, sâu sát, thận trọng và ứng xử có văn hoá Khôngđược lợi dụng vị trí công tác để làm sai chức trách, nhiệm vụ đượcgiao"(15) "Cần tăng cường cán bộ kiểm tra chuyên trách cho uỷ bankiểm tra đảng uỷ cơ sở xã, phường, thị trấn và những tổ chức cơ sở đảngtrong cơ quan, doanh nghiệp có từ 300 đảng viên trở lên"(16).
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ trong xây dựngđội ngũ cán bộ kiểm tra ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ được giao trong giaiđoạn cách mạng mới, cần tập trung vào một số nội dung chính sau:
Một là, xác định rõ mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra cả
về đức và tài, cả về cơ cấu và số lượng, từ đó xây dựng quy hoạch tổngthể về công tác cán bộ của ngành kiểm tra Xây dựng đội ngũ cán bộkiểm tra theo các tiêu chuẩn: tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng;
am hiểu công tác xây dựng Đảng nói chung, công tác kiểm tra, giám sát,
kỷ luật đảng nói riêng; có bản lĩnh chính trị vững vàng, không dao độngtrước những khó khăn, thử thách, có năng lực hoàn thành nhiệm vụ đượcgiao; có kiến thức toàn diện về các lĩnh vực kinh tế, pháp luật, khoa học
và công nghệ; vững về chuyên môn, tinh thông về nghiệp vụ; có bản lĩnh,dũng khí, chính kiến rõ ràng, tính chiến đấu cao trong công việc; trungthực, công tâm, khách quan, không kiêu ngạo, không thiên vị, không
Trang 13thành kiến, không nể nang, né tránh, ngại va chạm; biết hy sinh và dám
hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc Mặt khác, cán bộkiểm tra còn phải thực sự gương mẫu trong công tác, có nhân cách và lốisống mẫu mực, trong sáng, tác phong giản dị, gần gũi, thương yêu đồngchí, có thái độ chân thành, thẳng thắn, trung thực và ứng xử có văn hoá;hết lòng phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì lợi ích của nhân dân,của dân tộc; có ý thức tổ chức kỷ luật cao, tôn trọng tập thể, gắn bó vớinhân dân; không sa ngã trước mọi cám dỗ của kinh tế thị trường, không
"mềm lòng" trước đối tượng kiểm tra, giám sát; kiên quyết đấu tranhchống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực khác
Hai là, tập trung nghiên cứu xây dựng "Quy định về tiêu chuẩn đạo
đức, nghề nghiệp của cán bộ kiểm tra" làm chuẩn mực để cán bộ kiểm traphấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện và thực hiện tốt, khắc phục những thiếusót, lệch lạc khi thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, góp phần nângcao chất lượng, hiệu quả công tác, uy tín của toàn ngành; để uỷ ban kiểmtra các cấp quản lý, giáo dục, kiểm tra, giám sát cán bộ kiểm tra trongviệc thực hiện; để tổ chức đảng, đảng viên và nhân dân biết giám sát cán
bộ kiểm tra trong việc chấp hành Ban hành "Những điều cán bộ kiểm traphải làm" và "Những điều cán bộ kiểm tra không được làm" hoặc "Nhữngđiều kỷ luật đối với cán bộ kiểm tra"; xây dựng Quy định về "xây" và
"chống" trong cán bộ kiểm tra Đồng thời, tổ chức thực hiện tốt các quyđịnh đó trong toàn ngành để đội ngũ cán bộ kiểm tra bảo đảm đáp ứngyêu cầu của nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng trong giaiđoạn cách mạng mới
Ba là, có chiến lược, chính sách, biện pháp và lộ trình cụ thể trong
việc đào tạo (kể cả đào tạo cử nhân chuyên ngành kiểm tra và đào tạosau đại học), huấn luyện, bồi dưỡng lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp
vụ cho đội ngũ cán bộ kiểm tra ở mỗi cấp phù hợp với yêu cầu của nhiệm
vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng Để đào tạo cán bộ kiểm tra toàndiện, sử dụng linh hoạt, hợp lý, đáp ứng yêu cầu công việc được giao, cầnthực hiện tốt việc quy hoạch, bố trí, sử dụng, gắn với việc luân chuyểncán bộ lãnh đạo uỷ ban kiểm tra và cán bộ lãnh đạo, quản lý của cơ quangiúp việc uỷ ban kiểm tra ở cấp trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện Thựchiện thường xuyên việc chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ kiểm tratrong các đơn vị giúp việc của cơ quan uỷ ban kiểm tra nhằm giúp cán bộkiểm tra phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, có kiến thức toàn diện,tránh dập khuôn, lối mòn, bảo thủ, trì trệ trong công tác; ngăn ngừa cáctiêu cực có thể xảy ra
Trang 14Bốn là, bố trí, sử dụng cán bộ kiểm tra hợp lý, phù hợp với khả
năng, sở trường của từng người Thông qua việc nâng cao năng lực quản
lý, nắm chắc tình hình đội ngũ cán bộ kiểm tra về phẩm chất, năng lựcthực tiễn, hiểu rõ về bản chất, tâm lý, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể củatừng cán bộ, kết hợp với yêu cầu của công việc để bố trí, sử dụng cán bộphù hợp với từng vị trí, cương vị công tác Đồng thời, làm tốt công tác tưtưởng, tạo môi trường đoàn kết, nhất trí, tạo điều kiện thuận lợi về mọimặt để cán bộ kiểm tra phấn khởi, không ngừng học tập, tu dưỡng, rènluyện, phấn đấu vươn lên, đủ khả năng, điều kiện thực hiện tốt nhiệm vụ.Những cán bộ chưa đủ tiêu chuẩn, điều kiện để thực hiện công việc đượcgiao thì đưa đi đào tạo, hoặc bồi dưỡng về lý luận chính trị, chuyên môn,nghiệp vụ những cán bộ không đủ khả năng, điều kiện thực hiện nhiệm
vụ thì chuyển sang làm công tác khác phù hợp hơn
Năm là, nghiên cứu xây dựng chính sách, chế độ đãi ngộ hợp lý đối
với cán bộ kiểm tra để tạo điều kiện cho họ và gia đình ổn định cuộcsống, yên tâm công tác; đồng thời thu hút những người có đủ đức, đủ tài,
có tâm huyết, bản lĩnh để làm công tác kiểm tra Tổ chức thực hiện tốt
"Quy định về tiêu chuẩn chức danh cán bộ kiểm tra của Đảng"; có chế độtiền lương, phụ cấp ưu đãi nghề mang tính đặc thù đối với cán bộ kiểmtra Sớm có chính sách, chế độ hợp lý đối với cán bộ kiểm tra Đảng ở cơsở; nghiên cứu việc bố trí cán bộ kiểm tra Đảng chuyên trách ở xã,phường, thị trấn; các thành viên uỷ ban kiểm tra Đảng uỷ cơ sở có chế độphụ cấp trách nhiệm hợp lý./
Ghi chú:
(1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10), (12) Hồ Chí Minh toàntập, T5, H.1995, tr 240, 269, 253, 276, 269, 273, 274, 275, 274, 275,
Trang 15ĐỔI MỚI CÔNG TÁC CÁN BỘ THEO
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
LÊ THỊ NHUNG
Trường Chính trị tỉnh Thái Bình
án bộ được ví như dây chuyền của bộ máy Nếu dây chuyền khôngtốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt.Cán bộ quyết định mọi công việc Công việc thành hay bại một phần lớn
là do tư tưởng, đạo đức, thái độ và lề lối làm việc của cán bộ Chúng tađều biết, để có được người cán bộ lãnh đạo tốt, cần phải làm tốt công táccán bộ Trong công tác cán bộ cần chú ý trước hết đến ba khâu là: đánhgiá, tuyển chọn; đào tạo, bồi dưỡng; bố trí, sử dụng cán bộ
C
Đánh giá, tuyển chọn cán bộ là khâu đầu tiên và được coi là khâu
quan trọng trong công tác cán bộ Để đánh giá, tuyển chọn cán bộ vào bất
cứ một vị trí nào, đặc biệt là các vị trí lãnh đạo, quản lý, cần quan tâm đến
ba yếu tố: nhân cách, năng lực và tính khí
Nhân cách: được hiểu đơn giản là tư cách đạo đức của mỗi người
Bấy lâu nay, trong tiêu chuẩn tuyển chọn cán bộ lãnh đạo, thườngnhấn mạnh đến tinh thần yêu nước, lòng trung thành với chủ nghĩa xã hội,niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sẵn sàng cống hiến và hy sinh cho sựnghiệp cách mạng Có nghĩa là tuyển chọn cán bộ thường nhấn mạnhđến phẩm chất chính trị nhiều hơn là tư cách đạo đức, nhân cách của họ
Thực tế cho thấy, hầu hết cán bộ lãnh đạo các cấp đều có phẩm chấtchính trị tốt, nhưng tại sao tham nhũng vẫn trở thành quốc nạn? Tệ nạn bècánh, cơ hội vẫn xảy ra, thậm chí có nơi còn ở mức độ nghiêm trọng? Phảichăng chúng ta ít nhấn mạnh đến khía cạnh đạo đức của người cán bộ.Thiết nghĩ để hạn chế tình trạng tham nhũng, sự tha hóa trong cán bộ,đảng viên, rất cần có những tiêu chí đạo đức cụ thể cho cán bộ
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra một loạt căn bệnh mà nhữngngười làm cán bộ rất dễ mắc phải như: bệnh địa phương chủ nghĩa, óc bèphái, óc hẹp hòi, lối làm việc bàn giấy, tính vô kỷ luật, ích kỷ, hủ hóa, bệnhtham lam, bệnh lười biếng, bệnh kiêu ngạo, bệnh hiếu danh… Nếu để cán
bộ mắc một trong những căn bệnh này tiếp tục giữ vị trí lãnh đạo thì kỷluật Đảng sẽ lỏng lẻo, công việc bê trễ, chính sách không thi hành đượctriệt để, Đảng xa rời quần chúng Để cất nhắc cán bộ vào những vị trí lãnh
Trang 16đạo, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh cần chú ý đến những chuẩn mực đạo đứcsau:
- Đối với mình: Đừng tự mãn, tự kiêu Nếu tự mãn, tự kiêu thì khôngtiến bộ Phải chịu khó, siêng năng học hỏi
- Đối với đồng chí phải thân ái, không che đậy những điều dở Khôngtranh giành ảnh hưởng của nhau Không ghen ghét, đố kỵ và coi thườngngười khác
- Đối với công việc: phải tận tâm, tận lực, khoa học và có kế hoạch
- Đối với nhân dân: phải tôn trọng dân, hiểu nguyện vọng của dân,hiểu sự cực khổ của dân, hiểu tâm lý của dân, học sáng kiến của dân Phảilàm cho dân tin, phải làm gương cho dân…
- Đối với đoàn thể: phải tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh của đoàn thể.Phải tuyệt đối trung thành với đoàn thể Khi thời bình phải hết sức làmviệc Khi nguy hiểm phải hy sinh vì đoàn thể…
Năng lực: năng lực của một con người bao gồm năng lực chung và
năng lực chuyên môn
Năng lực chung được hiểu là năng lực tư duy phân tích tổng hợp; khảnăng diễn thuyết, thu phục quần chúng; cách làm việc có khoa học, tổchức công việc có hệ thống; dễ thích ứng với những thay đổi mới của điềukiện làm việc
Năng lực chuyên môn thường được hiểu là kiến thức chuyên sâu vềmột lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ và được thể hiện ở bằng cấp đào tạo
Giữa năng lực chung và năng lực chuyên môn có mối quan hệ và bổtrợ cho nhau Năng lực chung là cơ sở cho năng lực chuyên môn Năng lựcchung tốt sẽ tạo điều kiện cho năng lực chuyên môn phát triển Ngược lại,năng lực chuyên môn tốt, trong những điều kiện nhất định, sẽ có ảnhhưởng tới sự phát triển của năng lực chung Tuy nhiên, cần tránh quanniệm sai lầm cho rằng, cứ có năng lực chung tốt là có năng lực chuyênmôn sâu và ngược lại
Giữa nhân cách và năng lực của một con người, khi lựa chọn vào vị trílãnh đạo, cần chú trọng tới mặt nào? Xin trích ý kiến của Chủ tịch Hồ ChíMinh về nhân cách người cán bộ Việt Nam là: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm:
- “Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí, đồng bào sẵn lòng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ Vìthế mà không ham giàu sang, không e cực khổ, không sợ uy quyền Nhữngngười đã không ham, không e, không sợ gì thì việc gì là việc phải, họ đềulàm đươc
Trang 17- Nghĩa là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không
có việc gì phải giấu đoàn thể Ngoài lợi ích của đoàn thể, không có lợi íchriêng phải lo toan
- Trí là không có việc gì tư túi nó làm cho mù quáng, cho nên đầu óctrong sạch, sáng suốt Dễ hiểu lý luận Dễ tìm phương hướng Biết xemngười, biết xét việc Vì vậy mà biết làm việc có lợi, tránh việc có hại chođoàn thể
- Dũng là dũng cảm, gan góc, gặp việc gì phải có gan làm, thấykhuyết điểm có gan sửa chữa, cực khổ khó khăn có gan chịu đựng Có ganchống lại những vinh hoa, phú quý không chính đáng Nếu cần thì có gan
hy sinh cả tính mệnh cho đoàn thể, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè,nhút nhát
- Liêm là không tham địa vị, không tham tiền tài, không tham sungsướng, không tham người tâng bốc mình”(1)
Tính khí: tính khí của một người cũng là một yếu tố cần được xét tớikhi đánh giá và tuyển chọn cán bộ vào các vị trí lãnh đạo
Người ta đã khái quát tính khí của con người vào bốn dạng "nóng;hoạt; lạnh và trầm" Mỗi tính khí đều có một ưu và nhược điểm riêng và vìvậy mỗi loại tính khí phù hợp với một loại công việc
Chúng ta không quá nhấn mạnh đến tính khí của một con người, đểrồi xem nhẹ hai tiêu chuẩn cơ bản là nhân cách và năng lực Tuy nhiên,hiểu được tính khí để bố trí vào công việc phù hợp là công việc rất quantrọng để phát huy năng lực sở trường của họ
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý là việc làm không thể
thiếu, kể cả việc đào tạo chuẩn bị cho bổ nhiệm và đào tạo, bồi dưỡng saukhi bổ nhiệm Về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhắc nhở:phải tích cực đào tạo và sử dụng tốt cán bộ chuyên môn trong tất cả cácngành, các cấp Cán bộ chính trị phải chú trọng học tập kinh tế, kỹ thuật
để lãnh đạo sản xuất được tốt Cán bộ chính trị phải biết kỹ thuật, khôngbiết, chỉ chính trị suông, không lãnh đạo được Huấn luyện cán bộ là côngviệc gốc của Đảng Ta thiếu nhiều cán bộ quá, phải tích cực đào tạo, huấnluyện cán bộ Đảng phải giúp đỡ cho cán bộ đi học Đảng đã giúp, cán bộphải chịu khó học Đồng chí ta nhiều người kinh nghiệm thực hành khánhưng về văn hóa thì i tờ Những đồng chí trí thức đọc nhiều nhưng không
có kinh nghiệm công tác, chưa quen nền nếp làm việc của Đảng Vậy phảinâng cao lý luận cho cán bộ và dạy cho cán bộ trí thức làm công tác quầnchúng
Trang 18Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ những năm qua đã có nhiều đổimới cả về nội dung chương trình, phương pháp đào tạo và đề ra các mứcchuẩn trong đào tạo Tuy nhiên, các chương trình đào tạo và các tiêuchuẩn đào tạo vẫn bất cập, thể hiện ở một số nội dung như:
- Các yêu cầu về tiêu chuẩn kiến thức đối với người cán bộ lãnh đạochưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn, chương trình đào tạo chưa phùhợp
- Phương pháp đào tạo vẫn không có gì đổi mới nhiều, chủ yếu ápdụng phương pháp truyền thống theo kiểu độc thoại, giảng viên giảng,người học thụ động nghe
- Một số yêu cầu về tiêu chuẩn hoá cán bộ chưa thật cụ thể để có kếhoạch đào tạo, bồi dưỡng phù hợp cho từng đối tượng; đặc biệt là các yêucầu về trình độ lý luận chính trị, trình độ ngoại ngữ và khả năng sử dụngcông cụ tin học trong quản lý
Bố trí, sử dụng cán bộ không phù hợp thì cán bộ khó có điều kiện
để bộc lộ năng lực của mình, kể cả khi được tuyển chọn và đào tạo, bồidưỡng tốt Về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: người đời ai cũng
có chỗ hay chỗ dở, ta phải dùng chỗ hay của người và giúp người chữa chỗ
dở Dùng người cũng như dùng gỗ Người thợ khéo thì gỗ to gỗ nhỏ, thẳng,cong đều tùy từng chỗ mà dùng được “Khi cất nhắc cán bộ, cần phải xét
rõ người đó có gần gũi quần chúng, có được quần chúng tin cậy và mếnphục không Lại phải xem người ấy hợp với việc gì Nếu người ấy có tài màkhông dùng tài của họ, cũng không được việc Nếu cất nhắc không cẩnthận, không khỏi đem người bô lô ba la chỉ nói mà không biết làm vào địa
vị lãnh đạo, như thế rất có hại"(2) Phải khéo léo kết hợp các lứa tuổi khôngcoi thường cán bộ trẻ, đồng thời biết phát huy và sử dụng kinh nghiệm củanhững cán bộ đi trước Giải pháp để bố trí đúng và sử dụng có hiệu quả độingũ cán bộ là:
- Có quy hoạch cán bộ cụ thể: khi đã có quy hoạch cán bộ, cùng vớinhững tiêu chuẩn cụ thể cho từng chức danh lãnh đạo, sẽ dễ dàng bố trícán bộ đúng vị trí và người cán bộ cũng dễ dàng phát huy năng lực củamình khi được bổ nhiệm vào cương vị mới
- Thực hiện luân chuyển cán bộ: qua việc thực hiện luân chuyển cán
bộ, sẽ lựa chọn được những cán bộ tài năng, có năng lực đảm trách vai tròlãnh đạo, chỉ đạo, điều hành nhiệm vụ của đơn vị, kể cả trong khu vực sảnxuất - kinh doanh
Ngoài ba khâu nói trên, để có đội ngũ cán bộ giỏi, yên tâm làm việc,còn cần có chính sách hợp lý đối với cán bộ Trong quá trình lãnh đạo cách
Trang 19mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở Đảng ta: “Phong trào giảiphóng sôi nổi, nảy nở rất nhiều nhân tài ngoài Đảng Chúng ta không được
bỏ rơi họ, xa cách họ Chúng ta phải thật thà đoàn kết với họ, nâng đỡ họ.Phải thân thiết với họ, gần gũi họ, đem tài năng của họ giúp ích vào côngcuộc kháng chiến cứu nước”… “phải luôn tùy theo hoàn cảnh mà vẽ cho
họ về phương hướng công tác, để cho họ phát huy năng lực và sáng kiếncủa họ… phải cho họ điều kiện sinh sống đầy đủ mà làm việc Khi họ đau
ốm, phải có thuốc thang, tùy theo hoàn cảnh mà giúp họ giải quyết vấn đềgia đình Đảng ta có hàng triệu người, hàng vạn cán bộ Trong đó sĩ, nông,công, thương, binh đều có Từng lớp xã hội khác nhau, trình độ văn hóakhác nhau, tính tình cá nhân cũng không giống nhau Sao cho đối đãi đúngvới mọi người? Đó là vấn đề rất trọng yếu”(3) Do vậy, để có một đội ngũcán bộ vừa hồng, vừa chuyên như mong muốn của Bác Hồ, Đảng, Nhànước cần chăm lo cuộc sống cho bản thân cán bộ và gia đình của họ
Đổi mới công tác cán bộ, bao gồm các khâu đánh giá, tuyển chọn,đào tạo, bồi dưỡng và bố trí, sử dụng cán bộ lãnh đạo đang là một đòi hỏibức xúc, mang tính khách quan Điều đó xuất phát từ mục tiêu của côngtác cán bộ là lựa chọn cho được một đội ngũ cán bộ có phẩm chất đạo đứctốt và năng lực quản lý, lãnh đạo thực sự phù hợp với tình hình mới Vănkiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X đã khẳng định: cần tiếp tục đổimới công tác cán bộ hướng tới “Mục tiêu chung là xây dựng đội ngũ cán bộ
có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống lành mạnh, khôngquan liêu, tham nhũng, lãng phí, kiên quyết đấu tranh chống quan liêu,tham nhũng, lãng phí; có tư duy đổi mới, sáng tạo, có kiến thức chuyênmôn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa; có tinh thần đoàn kết, hợp tác, ý thức tổ chức, kỷ luật cao vàphong cách làm việc khoa học, tôn trọng tập thể, gắn bó với nhân dân,dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm Đội ngũ cán bộ phải đồng bộ,
có tính kế thừa và phát triển, có số lượng và cơ cấu hợp lý
Nhiệm vụ quan trọng nhất là xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, trướchết là đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược và người đứng đầu tổ chứccác cấp, các ngành của hệ thống chính trị”(4)
Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tácxây dựng Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã nêurõ: “Đổi mới mạnh mẽ, triển khai đồng bộ các khâu: đánh giá, quy hoạch,đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng, xây dựng và thực hiệnchính sách cán bộ Đánh giá cán bộ phải công khai, minh bạch, kháchquan, toàn diện và công tâm, lấy hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ chính trị
Trang 20làm thước đo phẩm chất và năng lực cán bộ Đánh giá cán bộ lãnh đạophải căn cứ vào hiệu quả công tác, khả năng đoàn kết, quy tụ, phát huysức mạnh của tập thể, tạo ra sự tiến bộ và kết quả cụ thể trong ngành, lĩnhvực, địa phương, đơn vị mình phụ trách; không tham nhũng, lãng phí, quanliêu Không đề bạt, bổ nhiệm những người không đủ phẩm chất và nănglực; khoan dung những người thành thật nhận và sửa chữa sai lầm, khuyếtđiểm Tiếp tục cải cách chế độ tiền lương, thực hiện tốt chính sách đối vớicán bộ lão thành cách mạng, cán bộ tiền khởi nghĩa, cán bộ hưu trí”(5).
Chủ trương nói trên thể hiện quyết tâm đổi mới của Đảng ta trongcông tác cán bộ Với quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân, thời gian tới,chúng ta sẽ có đội ngũ cán bộ ngang tầm với nhiệm vụ cách mạng trongthời kỳ mới: thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trên
cơ sở phát huy nội lực và hội nhập quốc tế./
Trang 21CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Những vấn đề đặt ra về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo nhu cầu
PGS TS NGUYỄN HỮU HẢI
Học viện Hành chính
iệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước tuỳ thuộc rất lớn vào phẩmchất, năng lực giải quyết vấn đề của cán bộ, công chức Bởi vậy,việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo nhu cầu đang đặt racấp bách không chỉ đối với cơ sở đào tạo, cơ quan quản lý và sử dụngcông chức, mà còn đối với các tổ chức, công dân Nhiều vấn đề đặt ranhằm tăng cường đào tạo, bồi dưỡng theo nhu cầu cho cán bộ, côngchức nước ta trong thời kỳ mới
H
I Sự cần thiết đào tạo, bồi dưỡng theo nhu cầu
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương ĐảngKhoá X tiếp tục khẳng định sự cần thiết và tầm quan trọng của việc đổimới, nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức nhà nướctrong giai đoạn hiện nay và lâu dài Chính phủ đặt ra mục tiêu đào tạo,bồi dưỡng cán bộ, công chức nâng cao kiến thức, năng lực quản lý điềuhành và thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, đáp ứng yêucầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Những năm qua, công chức hành chính thuộc các ngạch chuyênviên cao cấp, chuyên viên chính, chuyên viên đã được bồi dưỡng theotiêu chuẩn ngạch về kiến thức quản lý nhà nước và lý luận chính trị,bước đầu hình thành đội ngũ cán bộ, công chức có kiến thức cơ bản vềhành chính nhà nước Công chức sự nghiệp được đào tạo để nâng caotrình độ chuyên môn, kỹ năng và phương pháp thực hiện nhiệm vụ Cán
bộ, công chức chuyên môn cấp xã được tổ chức đào tạo, bồi dưỡng vềtrình độ học vấn, lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ Đến năm
2005, công chức hành chính ngạch chuyên viên trở lên về cơ bản đãđược đào tạo về chuyên môn ở trình độ đại học; hơn 90% công chứchành chính các ngạch chuyên viên trở lên đã đáp ứng được tiêu chuẩn
về trình độ lý luận chính trị, 80% đáp ứng tiêu chuẩn về kiến thức quản
lý nhà nước; 95% được đào tạo tin học; gần 40% công chức ngạchchuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp có khả năng giaotiếp hoặc sử dụng ngoại ngữ trong lĩnh vực chuyên môn
Trang 22Đến năm 2006, tất cả công chức hành chính được đào tạo, bồidưỡng theo tiêu chuẩn ngạch và 70% cán bộ chuyên trách, công chứcchuyên môn xã, phường, thị trấn được đào tạo, bồi dưỡng đạt tiêuchuẩn Ngoài ra, gần 292.000 Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đượcbồi dưỡng kiến thức và kỹ năng về thực thi quyền lực theo luật định,khoảng 50.000 lượt người được bồi dưỡng kiến thức về hội nhập kinh tếquốc tế.
Các chương trình, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chứcnhà nước đạt mục tiêu: từng bước hoàn thiện nội dung, phương thứcđào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo ngạch bậc, chức vụ; chấtlượng đội ngũ giảng viên về quản lý nhà nước, cán bộ lãnh đạo quản lý,đội ngũ chuyên gia đầu ngành làm công tác tham mưu về quản lý hànhchính được nâng cao
Tuy nhiên, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức có một
số hạn chế:
Một là, tình trạng lạc hậu, chậm đổi mới trong công tác đào tạo
vẫn là lực cản lớn, ảnh hưởng chất lượng xây dựng đội ngũ cán bộ, côngchức Việc đào tạo còn theo cung, nghĩa là cơ sở đào tạo có cái gì đàotạo, bồi dưỡng cái ấy, chưa xuất phát từ nhu cầu của người học, từ sựcần thiết của các kỹ năng thực hiện nhiệm vụ của công chức Thậm chí,người làm công tác đào tạo cũng chưa được đào tạo, bồi dưỡng về đổimới công tác đào tạo Các ý tưởng cải cách về đào tạo vẫn chưa đượcquan tâm triển khai thực hiện
Hai là, chưa có hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức Hiện nay vấn đề này vẫn còn nan giải cầnđược quan tâm nhiều hơn Về lâu dài, cần xây dựng một hệ thống tiêuchí đánh giá khoa học, cụ thể về kỹ năng, kiến thức chuyên môn cũngnhư đạo đức công vụ của công chức sau khi được đào tạo, bồi dưỡng
Ba là, chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chưa đáp
ứng yêu cầu Cán bộ, công chức tham gia vào các khoá đào tạo, bồidưỡng chủ yếu là do yêu cầu duy trì hay chuyển ngạch chứ không phảivới mục đích nâng cao trình độ và năng lực
Bốn là, các chương trình bồi dưỡng theo ngạch bậc còn thiên về lý
thuyết, chưa quan tâm đúng mức cả về nội dung, thời lượng và phươngpháp đối với chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng để thực thi công việc.Nội dung giáo trình, tài liệu có phần chưa phù hợp với đối tượng học,chương trình bố trí chưa hợp lý cho những đối tượng học khác nhau,
Trang 23phương pháp giảng dạy chưa đổi mới cho nên hiệu quả đào tạo khôngcao.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Điều cốt yếu trong công tác đào tạocán bộ công chức là phải xuất phát từ nhu cầu thực tế và phải đáp ứngnhu cầu đó” Việc đào tạo, bồi dưỡng theo nhu cầu đang trở thành đòihỏi cần thiết khách quan của các cơ quan nhà nước và cán bộ, côngchức Đào tạo, bồi dưỡng theo nhu cầu giúp công chức chủ động lựachọn nội dung, chương trình, cơ sở đào tạo và thời gian học tập phù hợpsát thực tế Điều đó giúp cho cơ quan sử dụng công chức có kế hoạchđào tạo, bồi dưỡng nhân sự hàng năm Công chức tự lựa chọn việc họctập sẽ nâng cao tính tự giác và trách nhiệm trong học tập và thực thinhiệm vụ, là cơ sở để cơ quan sử dụng công chức đánh giá đúng hơnnăng lực thi hành công vụ Bên cạnh đó, cơ quan quản lý đào tạo giảmbớt phần việc đôn đốc công chức tham gia đào tạo bồi dưỡng, tập trungkiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo, bồi dưỡng hàng năm Thực hiện đàotạo theo nhu cầu còn giúp tiết kiệm và nâng cao hiệu quả sử dụng kinhphí đào tạo, bồi dưỡng Ngoài ra, cơ sở đào tạo có điều kiện đa dạnghoá các khoá đào tạo, mở rộng qui mô và nâng cao trình độ đào tạonguồn nhân lực cho việc thực thi công vụ Nếu đáp ứng nhu cầu đàotạo, thì cơ sở đào tạo trở thành đối tác thân thiện của các cơ quan trong
hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương, cơ sở Đồng thờiphương thức đào tạo này còn tạo động lực phát triển cho mỗi cơ sở đàotạo, do phải nỗ lực vươn lên để đáp ứng nhu cầu đào tạo của cán bộ,công chức ở mỗi thời kỳ
II Những vấn đề đặt ra và giải pháp
Tuy nhiên, công việc này cũng gặp không ít khó khăn Nhữngcông chức làm việc theo chuyên môn sâu, ít giao tiếp với khách hàng(tổ chức và công dân) sẽ gặp khó khăn trong việc xác định nhu cầu đàotạo, bồi dưỡng, bởi họ thiếu những tiêu chí so sánh giữa năng lực hiện
có và yêu cầu công việc Thậm chí họ ít có thời gian tiếp cận với nhữngnội dung, chương trình và uy tín của các cơ sở đào tạo Không ít côngchức chưa nhận thức đúng trách nhiệm về kết quả đào tạo, bồi dưỡnglựa chọn theo nhu cầu, bởi họ quen dựa vào sự bố trí học tập của cơquan, tổ chức Cơ quan sử dụng công chức có phần lo lắng về sự phântán thời lượng, nội dung, phạm vi và thời gian trong đào tạo, bồi dưỡngtheo nhu cầu của công chức Mặt khác, họ cũng gặp khó khăn trongviệc xác định nhu cầu Nguyên nhân là do tâm lí ngại thể hiện, đề đạtnguyện vọng được đào tạo theo nhu cầu riêng Điều này sẽ gây khó
Trang 24khăn cho việc lập kế hoạch và thực hiện công tác đào tạo, phát triểnnhân sự trong cơ quan.
- Cơ quan quản lý đào tạo công chức sẽ phải theo dõi công tácđào tạo, bồi dưỡng công chức thường xuyên hơn so với đào tạo, bồidưỡng theo ngạch hiện nay Do số cơ sở đào tạo được công chức lựachọn nhiều hơn, nên cơ quan quản lý đào tạo phải mở rộng giao tiếp vềnội dung, tần suất và làm tăng tính phức tạp
- Cơ sở đào tạo sẽ phải thường xuyên cập nhật nhu cầu đào tạo, điềuchỉnh nội dung, chương trình, liên hệ với các đối tác, thân thiện hơn vớikhách hàng, chịu trách nhiệm nhiều hơn với sản phẩm của mình v.v… Đểđáp ứng yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng theo nhu cầu, đội ngũ giảng viên của
cơ sở đào tạo cũng cần phải có trình độ lý luận cao, am hiểu thực tế và đặcbiệt phải thành thạo về kỹ năng giảng dạy tích cực theo tình huống Thực
tế, số giảng viên đáp ứng được những tiêu chuẩn này chưa nhiều
Để khắc phục những nhược điểm trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,công chức hướng tới thực hiện đào tạo theo nhu cầu, cần thực hiện một
số giải pháp:
Cần có sự thống nhất về mục tiêu, nội dung, phương thức và lộtrình đào tạo theo nhu cầu giữa các cơ quan quản lý đào tạo, cơ sở đàotạo và cơ quan quản lý công chức Trên cơ sở đó thiết lập hệ thống thểchế mới về đào tạo và quản lý đào tạo và quyết tâm thực hiện
Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cần nỗ lực đổi mới phương thức vànội dung các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chosát với thực tế, theo hướng chuyển sang học tập theo nhu cầu của mỗingười Các chương trình đào tạo tiền công vụ, bồi dưỡng theo ngạchcán sự, chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp chuyểnsang chương trình bồi dưỡng theo chức danh ở mỗi cấp chính quyền.Chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cần hướng vào cácvấn đề thiết thực đặt ra từ quá trình thực thi công vụ Việc đào tạo, bồidưỡng phải chuyển từ truyền thụ lý thuyết sang hướng dẫn kỹ năngthực hành, từ đào tạo dựa theo nguồn cung (chỉ căn cứ vào nguồn lựccủa cơ sở đào tạo) sang đào tạo theo cầu (căn cứ vào nhu cầu củangười học); từ đào tạo, bồi dưỡng để phục vụ nhu cầu ở trong nước,sang đào tạo, bồi dưỡng để phát triển khả năng cạnh tranh trong khuvực và quốc tế
Trước mắt cần nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên thông qua
tổ chức các khoá học về chuyên môn và phương pháp giảng dạy hiệnđại, hiệu quả; đưa giảng viên tiếp cận với công việc thực tế trước khi
Trang 25giảng dạy; thu hút đội ngũ giảng viên kiêm chức có kinh nghiệm, đãđược đào tạo cơ bản, có năng lực giảng dạy tham gia đào tạo, bồidưỡng cán bộ, công chức
Về trung hạn và dài hạn, cần hình thành các trung tâm trợ giúpcông vụ cho cán bộ, công chức nhằm nâng cao kỹ năng làm việc theonhóm, phát huy tính năng động, sáng tạo của công chức và tăng cườngbản lĩnh cho họ trong quá trình thực thi công vụ Sắp xếp và củng cố hệthống các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức từ trung ươngđến địa phương, thu hút các học viện, trường đại học, các công ty trongnước và ngoài nước tham gia đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lựchoạt động cho đội ngũ cán bộ, công chức
Trong chương trình đào tạo, bồi dưỡng cần coi trọng và đẩy mạnhhơn nữa công tác giáo dục đạo đức và phẩm chất chính trị cho đội ngũcán bộ, công chức để nâng cao lòng yêu nước, yêu chế độ, niềm tự hàodân tộc và tinh thần trách nhiệm phục vụ nhân dân Tăng cường đônđốc, giám sát, kiểm tra việc thực hiện Quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức ban hành kèm theo Quyết định 161/2003/QĐ-TTg củaThủ tướng Chính phủ; xây dựng các kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cụthể, chi tiết theo nhu cầu thực tế; đồng thời xây dựng một hệ thống tiêuchí để đánh giá chất lượng và hiệu quả của công tác đào tạo, bồi dưỡngcán bộ, công chức Đào tạo những kỹ năng làm việc cho cán bộ, côngchức chứ không chỉ cung cấp kiến thức một chiều về khái niệm và kỹnăng làm việc Xác định nguyên tắc trong các chương trình đào tạo, bồidưỡng là cung cấp kiến thức ở mức cần thiết và rèn luyện kỹ năngđến mức có thể
Thực hiện đồng bộ chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, côngchức Thực tế còn có khoảng cách khá lớn giữa đào tạo và sử dụng.Công chức được cử đi đào tạo, khi về không được bố trí công việc phùhợp Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng của các bộ, ngành chưa được quantâm đầu tư đúng mức; sự phối hợp giữa các cơ quan trong việc xâydựng quy hoạch đào tạo cán bộ, công chức còn lỏng lẻo, chưa theo kếhoạch chung; kết quả đào tạo, bồi dưỡng không có tính bền vững /
Tài liệu tham khảo:
- Bộ Nội vụ, tài liệu Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Quyết định
số 74/2001/QĐ-TTg và triển khai kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,công chức giai đoạn 2006-2010
Trang 26- Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2010” - Bộ Nội vụ.
2006 David Ma, Đổi mới văn hóa công vụ ở Việt Nam, quan điểm củamột người nước ngoài, báo cáo tại Hội nghị quốc tế về CCHC tại ViệtNam, Hà Nội 25-26/12/2006
Trang 27ĐẨY MẠNH XÃ HỘI HOÁ DỊCH VỤ CÔNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
TS NGUYỄN MINH PHƯƠNG
Viện Khoa học tổ chức Nhà nước
1 Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về đẩy mạnh
xã hội hóa dịch vụ công
Tư tưởng về xã hội hoá dịch vụ công được hình thành từ Nghịquyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tư (Khoá VII)
“đa dạng hoá các hình thức tổ chức chăm sóc sức khoẻ (nhà nước, tậpthể, nhân dân) trong đó y tế nhà nước là chủ đạo” và được chính thứcđưa vào trong văn kiện Đại hội Đảng VIII “Các vấn đề chính sách xã hộiđều giải quyết theo tinh thần xã hội hoá Nhà nước giữ vai trò nòng cốtđồng thời động viên mỗi người dân, các doanh nghiệp, các tổ chứctrong xã hội, các cá nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham gia giảiquyết các vấn đề xã hội”
Nghị quyết Đại hội Đảng IX đã khẳng định: “Các chính sách xã hộiđược tiến hành theo tinh thần xã hội hoá, đề cao trách nhiệm của chínhquyền các cấp, huy động các nguồn lực trong nhân dân và sự tham giacủa các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội” Văn kiện Đại hội Đảng
X tiếp tục cụ thể hóa: “Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục và đào tạo” và
“Xúc tiến xã hội hóa các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thông tin vớibước đi thích hợp cho từng loại hình, từng vùng” Nghị quyết Hội nghịlần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X “Về tiếp tục hoànthiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” đã khẳngđịnh “Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư cho giáo dục, y tế, văn hóa, thểdục thể thao, đặc biệt là cho những vùng nghèo, người nghèo, bảo đảmnhững dịch vụ cơ bản cho nhân dân Đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa,vận dụng hợp lý những mặt tích cực của cơ chế thị trường”
Thể chế hoá chủ trương của Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghịquyết số 90/NQ-CP ngày 21/8/1997 về phương hướng và chủ trương xãhội hoá các hoạt động giáo dục, y tế và văn hoá; Nghị định số 73/1999/NĐ-CP về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với hoạt động tronglĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao Trong Chương trình tổng thểcải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010 của Chính phủ, vấn
đề dịch vụ công được đề cập rất cụ thể: “Xây dựng quan niệm đúng đắn
Trang 28về dịch vụ công Nhà nước có trách nhiệm chăm lo đời sống vật chất vàvăn hoá của nhân dân, nhưng không phải vì thế mà mọi công việc vềdịch vụ công đều do cơ quan nhà nước trực tiếp đảm nhiệm Trong từnglĩnh vực cần định rõ những công việc mà Nhà nước phải đầu tư và trựctiếp thực hiện, những công việc cần chuyển giao cho các tổ chức xã hộiđảm nhiệm”
Nghị quyết 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩymạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục, thểthao khẳng định: xã hội hoá nhằm phát huy tiềm năng trí tuệ và vậtchất trong nhân dân, huy động toàn xã hội chăm lo sự nghiệp giáo dục,
y tế, văn hoá, thể dục thể thao Các nhiệm vụ đẩy mạnh xã hội hóa chủyếu gồm :1) Nhà nước đổi mới cơ chế chính sách, đổi mới phương thức
cơ cấu đầu tư; 2) Chuyển các cơ sở công lập đang hoạt động theo cơchế sự nghiệp mang nặng tính hành chính bao cấp sang cơ chế tự chủ;3) Phát triển mạnh các cơ sở ngoài công lập với hai loại hình dân lập và
tư nhân; 4) Tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra
Như vậy theo tinh thần các văn kiện của Đảng và Nhà nước, xã hộihoá chính là huy động nguồn lực từ trong nhân dân và sự tham gia củangười dân vào việc giải quyết các vấn đề thuộc chính sách xã hội của Nhànước, nhưng không làm giảm vai trò, trách nhiệm của nhà nước trong việcđảm bảo các dịch vụ công cơ bản cho người dân
2 Một số kết quả đạt được và hạn chế, vướng mắc trong việc thực hiện xã hội hóa dịch vụ công
Chính phủ đã nghiên cứu ban hành các chính sách và quy địnhlàm cơ sở cho việc thực hiện chủ trương đẩy mạnh xã hội hóa, thu hútcác nguồn lực tham gia vào hoạt động phát triển sự nghiệp giáo dục, y
tế, văn hóa, thể dục thể thao Kết quả là hệ thống các cơ sở cung ứngdịch vụ công ngoài công lập ngày càng phát triển, đáp ứng một phầnđáng kể nhu cầu của xã hội trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa
và thể dục thể thao… tạo công ăn việc làm cho hàng chục vạn người.Mạng lưới các trường, cơ sở đào tạo, dạy nghề ngoài công lập đã được
mở rộng ở các cấp học Trình độ đào tạo; tỷ lệ học sinh, sinh viên ở cáctrường ngoài công lập ngày càng tăng Nhiều cơ sở y tế ngoài công lậpđược thành lập ở các địa phương, thực hiện cấp cứu, khám chữa bệnhcho hàng triệu lượt người, góp phần giảm tải cho các cơ sở khám chữabệnh công lập Các cơ sở cung ứng dịch vụ văn hóa và thể dục thể thaongoài công lập tăng nhanh, thu hút được nhiều nguồn lực, nhiều thànhphần kinh tế trong xã hội tham gia
Trang 29Thực hiện có hiệu quả chủ trương đẩy mạnh xã hội hóa, huy độngđược nhiều nguồn lực xã hội để cùng với ngân sách nhà nước đầu tưcho các lĩnh vực dịch vụ công, tạo điều kiện cho ngân sách nhà nướctập trung đầu tư phát triển các cơ sở công lập phục vụ những vùngnghèo, người nghèo và đảm bảo những dịch vụ cơ bản như: giáo dụcphổ cập; các chương trình mục tiêu quốc gia; y tế dự phòng, y tế cơ sở,chăm sóc sức khoẻ cơ bản cho các đối tượng chính sách, người nghèo Đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích thành lập các cơ sở ngoài công lập,
mở rộng phạm vi và nâng cao chất lượng dịch vụ của các cơ sở này;thúc đẩy việc hình thành cơ chế cạnh tranh giữa các loại hình tổ chứccung ứng dịch vụ công lập và ngoài công lập nhằm mở rộng và nângcao chất lượng phục vụ; nâng cao ý thức trách nhiệm và mở rộng sựtham gia của toàn dân vào sự nghiệp phát triển giáo dục, y tế, văn hóa,thể dục thể thao… của đất nước
Việc tăng nhanh số lượng các cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài cônglập đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước phải đổi mới nội dung vàphương thức quản lý nhà nước trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ công.Qua đó, tạo được sự chuyển biến trong chỉ đạo điều hành, tổ chức thựchiện xã hội hóa ở các cấp, các ngành, các địa phương, góp phần thayđổi nhận thức của xã hội trong việc triển khai thực hiện xã hội hóa
Tuy nhiên, thực tế công tác xã hội hoá hoạt động giáo dục, y tế,văn hoá và thể dục thể thao chưa đảm bảo định hướng đã đề ra, kếtquả đạt được còn ít và thiếu vững chắc so với tiềm năng Tiến độ thựchiện chuyển đổi cơ sở công lập, bán công sang loại hình ngoài công lậphoặc doanh nghiệp còn chậm Mức độ phát triển xã hội hoá không đồngđều giữa các vùng, miền và cả giữa các địa phương có điều kiện kinh tế
- xã hội như nhau Cơ chế, chính sách đầu tư, thu hút các nguồn lực của
xã hội để phát triển các cơ sở dịch vụ công ngoài công lập chưa đủmạnh; các chính sách đòn bẩy kinh tế như thuế, tín dụng, đất đai, chế
độ tiền lương, bảo hiểm xã hội chưa được triển khai thực hiện đồng bộ
và nhất quán để thúc đẩy sự phát triển của hệ thống các cơ sở dịch vụngoài công lập Công tác chỉ đạo tổ chức thực hiện thiếu kiên quyết, sựphối hợp giữa các bộ, ngành và các địa phương chưa chặt chẽ
Nguyên nhân cơ bản của những hạn chế trên đây là do quan niệm
về xã hội hoá của các cấp, các ngành và xã hội còn chưa đầy đủ vàtoàn diện, xem xã hội hoá chỉ là biện pháp huy động sự đóng góp củanhân dân trong điều kiện Nhà nước khó khăn về tài chính, ngân sách;chưa thực sự quyết tâm đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động dịch vụ
Trang 30công Tư tưởng bao cấp, trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước của một bộ phậncán bộ, công chức và người dân còn khá nặng nề Trong khi đó, côngtác quán triệt, tuyên truyền về mục tiêu, sự cần thiết của xã hội hóachưa được chú ý đúng mức.
3 Một số giải pháp đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ công ở nước ta hiện nay
- Nhận thức đúng bản chất và mục tiêu xã hội hóa dịch vụ côngtrong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, để khuyếnkhích phát triển xã hội hóa dịch vụ công, coi đây là một trong nhữnggiải pháp chủ yếu để huy động mạnh mẽ các nguồn lực và năng lực xãhội, nhằm đáp ứng nhu cầu và lợi ích của các tầng lớp nhân dân, phùhợp với sự phát triển xã hội Trách nhiệm quản lý và tổ chức cung ứngdịch vụ công của các cấp chính quyền cần xác định rõ trên các mặt chủyếu như: ban hành các cơ chế, chính sách và qui định những tiêuchuẩn, định mức, chất lượng, giá, phí, dịch vụ hợp lý; đảm bảo cungứng các dịch vụ xã hội cơ bản, đáp ứng nhu cầu của xã hội; giao kếhoạch hoặc đặt hàng và thanh toán dịch vụ theo đơn đặt hàng với đơn
vị tổ chức cung ứng dịch vụ công; thực hiện trợ giúp người nghèo, đốitượng chính sách được thụ hưởng dịch vụ sự nghiệp công; thanh tra,kiểm tra quá trình thực hiện dịch vụ công
- Về lý luận, cần làm rõ quan niệm về quyền sở hữu trong các loạihình xã hội hóa dịch vụ công (trường học, bệnh viện, viện nghiên cứu,
cơ sở văn hoá, thể dục thể thao, vui chơi giải trí ngoài công lập ); hìnhthành các quan niệm đúng đắn liên quan đến các vấn đề về dịch vụngoài công lập
- Xây dựng hành lang pháp lý cùng với các cơ chế, chính sách ưuđãi hữu hiệu và khả thi để khuyến khích việc chuyển đổi mô hình hoạtđộng đối với các đơn vị sự nghiệp bán công và công lập sang hình thức
tư thục cũng như cho việc thành lập các cơ sở ngoài công lập, cổ phầnhoá Từng bước chuyển cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệpcông lập sang cơ chế cung ứng dịch vụ để khuyến khích các cơ sở thuộcmọi thành phần kinh tế cùng tham gia Xây dựng các chế độ học phí,viện phí và phí, lệ phí trong các lĩnh vực văn hoá, giáo dục, y tế, thểdục thể thao theo hướng từng bước tính toán đầy đủ các chi phí cơbản, phù hợp với khả năng huy động nguồn lực trong xã hội, với đặcđiểm của từng vùng, từng địa phương, từng loại đối tượng
- Rà soát lại quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập,chú ý quy hoạch phát triển các dịch vụ ngoài công lập, đáp ứng quy mô
Trang 31định hướng phát triển, phù hợp với yêu cầu xã hội; điều chỉnh, bổ sungquy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng mởrộng sự tham gia của các thành phần kinh tế, kể cả đầu tư của nướcngoài Tăng cường và đa dạng hoá các nguồn lực ngoài ngân sách nhànước đầu tư cho phát triển các đơn vị dịch vụ công lập và dịch vụ ngoàicông lập.
- Cùng với các chính sách đầu tư có hiệu quả cho các loại hìnhdịch vụ công lập, cần có chính sách hỗ trợ đầu tư ban đầu và đầu tưkhuyến khích các cơ sở ngoài công lập, đa dạng các hình thức như: tưnhân góp vốn, liên doanh, vốn đầu tư nước ngoài; BOT (đầu tư - khaithác - chuyển giao), BT, BTO; Nhà nước xây dựng nhà cửa, cơ sở hạtầng cho các cơ sở ngoài công lập thuê dài hạn với giá ưu đãi Các địaphương có quy hoạch về đất, dành quỹ đất để xây dựng và phát triểncác cơ sở ngoài công lập phù hợp với định hướng phát triển xã hội hoá
- Tiếp tục thông tin, tuyên truyền trong toàn xã hội về chủ trương,chính sách của Đảng và Nhà nước, trong đó có các nội dung xã hội hoádịch vụ công một cách thường xuyên, sinh động, đa dạng và hiệu quảtrên các phương tiện truyền thông
- Có cơ chế kiểm tra, kiểm soát hợp lý nhằm đảm bảo chất lượngcung ứng dịch vụ của các cơ sở ngoài công lập Xây dựng và ban hànhtiêu chuẩn hoá về cán bộ, cơ sở vật chất đối với cơ sở ngoài công lập.Quy định chế độ thông tin, báo cáo và trách nhiệm giải trình của cácđơn vị dịch vụ sự nghiệp công Hình thành các tổ chức kiểm định, đánhgiá chất lượng dịch vụ độc lập theo ngành, lĩnh vực Xây dựng cơ chếgiám sát và đẩy mạnh công tác kiểm tra, thanh tra để kịp thời xử lýnhững hiện tượng tiêu cực, tuỳ tiện Phát huy vai trò của các tổ chức xãhội - nghề nghiệp, tổ chức phi chính phủ trong quản lý và tổ chức cungứng dịch vụ công
- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế và tranh thủ mọi nguồn viện trợ đểtăng cường đầu tư cho giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ; có chínhsách động viên, thu hút đội ngũ trí thức Việt kiều về nước tham giagiảng dạy, nghiên cứu khoa học, khám, chữa bệnh, hoạt động văn hóa,thi đấu thể thao./
Trang 32CÔNG TÁC VĂN PHÒNG TRONG BỐI CẢNH HIỆN ĐẠI HOÁ NỀN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
TS LƯU KIẾM THANH
Khoa Văn bản và Công nghệ Hành chính, Học viện Hành chính
ăn phòng cơ quan hành chính nhà nước (văn phòng) là đơn vị cóchức năng tham mưu giúp lãnh đạo tổ chức và điều hành côngviệc, đồng thời là trung tâm thông tin phục vụ lãnh đạo Văn phòng chủyếu tham mưu về mặt tổ chức, điều hành công việc lãnh đạo, chỉ đạocủa lãnh đạo, nói cách khác, là tổ chức sự làm việc giúp lãnh đạo
V
Chức năng tham mưu được thể hiện trong mỗi nhiệm vụ cụ thểnhư xây dựng quy chế làm việc và tổ chức làm việc theo quy chế; giúplãnh đạo xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình công tác; thôngtin tổng hợp phục vụ lãnh đạo; thẩm định về phạm vi, yêu cầu, quytrình, tiến độ, thể thức của các đề án; kiến nghị xử lý các vấn đề thuộcchức năng lãnh đạo của cơ quan, tổ chức; biên tập, kiểm tra và chịutrách nhiệm về thủ tục, thể thức của văn bản
Bên cạnh đó, văn phòng còn là bộ phận phục vụ trực tiếp các hoạtđộng hàng ngày như tổ chức các cuộc làm việc của lãnh đạo, các hộinghị, các chuyến đi công tác, hoạt động chuyên môn của các đơn vị, bộphận; chuẩn bị các điều kiện, phương tiện bảo đảm công tác của cơquan, tổ chức nói chung
Chức năng tham mưu, tổng hợp và phục vụ đan xen nhau, cóquan hệ mật thiết với nhau: tham mưu là để phục vụ, trong phục vụ cótham mưu Cũng từ đó việc lựa chọn, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ vănphòng cần có định hướng đáp ứng tốt chức năng, nhiệm vụ của vănphòng, trong đó cần xác định rõ văn phòng không chỉ là cái “hộp thư”hay “một cái máy giúp việc” đơn thuần, mà cần có những con ngườiphấn đấu vươn lên, sáng tạo, có được những ý kiến đề xuất xác đáng;đồng thời cũng cần tránh coi văn phòng là “tổng tham mưu”, bao biệnlàm thay những công việc không đúng chức năng
Văn phòng phải có ý thức đi trước một bước so với các đơn vị kháctrong nhiệm vụ đổi mới Văn phòng càng sớm hiện đại hoá, càng phục
vụ tốt sự lãnh đạo của cơ quan, tổ chức Hiện đại hoá văn phòng cũngkhông phải là việc tốn kém lắm, điều kiện để trang bị cơ sở vật chấtcũng không đến nỗi khó lắm, song việc đào tạo nhân sự thích ứng với
Trang 33trang thiết bị hiện đại đó, với phong cách làm việc mới, hiện đại lại làvấn đề cần bàn.
Việc hiện đại hoá trang thiết bị phải được tiến hành đồng thời vớihiện đại hoá chính tri thức con người làm việc trên những trang thiết bị
đó và trong đó việc trang bị tri thức cần được tiến hành trước một bước
Chất lượng công tác mọi mặt của văn phòng phụ thuộc rất nhiềuvào việc giải quyết vấn đề đó Đặc biệt, đối với cán bộ nghiên cứu, tổnghợp cần phải luôn luôn tự rèn luyện nâng cao trình độ biên tập, vănphong trong sáng, ngắn gọn nhưng rõ ràng, nhất là về nội dung, tưtưởng
Để hiện đại hoá công tác văn phòng cần nghiên cứu, xây dựng vàtiến hành tối ưu hoá các quá trình thực hiện nhiệm vụ của văn phòng,trong đó trước hết cần quan tâm đến những nội dung của hoạt độnghoàn thiện công việc văn phòng
Có thể thấy: một trong những vấn đề cơ bản nhất của bất cứ một
cơ quan, tổ chức nào cũng là vấn đề tối ưu hoá và giải pháp tối ưu Việcgiải quyết các công việc văn phòng đang và về lâu dài vẫn là vấn đềđược quan tâm Việc nghiên cứu lý thuyết và hoạt động thực tiễn củacông tác văn phòng trên cơ sở các khoa học quản lý và điều hành cóthể giải quyết được những vấn đề này
Bất cứ một mạng lưới phức tạp nào cũng bao gồm các điểm nútchính Từ điểm nút này tới điểm nút khác ta có thể gọi là một cunghoặc một tuyến quy trình giải quyết công việc Tuyến ngắn nhất, nhanhchóng nhất và có hiệu quả nhất giữa từng đôi điểm nút có thể được tínhtoán, xem xét Việc tối ưu hoá chính là tìm ra những điểm nút đó
Thí dụ, hoạt động giải quyết công việc có thể được tối ưu trênnhững mặt khác nhau tuỳ thuộc vào mục tiêu và mức độ hiệu quả hoácông việc trên những phương diện nhất định như:
1 Thể chế hoá (ban hành các quy chế về tổ chức bộ máy, nhân
sự, quy trình hoạt động, điều hành, công tác tổng hợp, văn thư - lưu trữ,quản trị )
2 Tổ chức: bộ máy và nhân sự phân định rõ trách nhiệm và quyềnhạn khi tiêu chuẩn đã được xây dựng và áp dụng từ trên xuống dưới,nếu có vấn đề trục trặc nào xảy ra có thể dễ dàng xác định được phầntrách nhiệm của các bên có liên quan)
3 Quy trình công tác (cần xây dựng một bộ tiêu chuẩn đầy đủ vềquy trình công tác Quá trình xây dựng tiêu chuẩn đồng thời là quá trìnhhợp lý hoá, thống nhất hoá công việc; cắt bỏ những công đoạn, những
Trang 34thao tác không cần thiết Các tài liệu này cần được lưu trữ, thườngxuyên xem xét và loại bỏ những phần lạc hậu Công tác kiểm tra chấtlượng là một hoạt động không thể thiếu, cần quy định rõ những điểmcần kiểm tra và những chỉ tiêu cần thử nghiệm trong toàn bộ quá trìnhgiải quyết công việc Quy trình công tác sẽ bao gồm: các giai đoạn tiếnhành; nguyên tắc thực hiện công việc; phương pháp, cách thức thựchiện ).
4 Chất lượng dịch vụ, sản phẩm: một trong những yếu tố quantrọng quyết định sự phát triển của đơn vị là chất lượng sản phẩm haydịch vụ, vì vậy phải quy định rõ ràng tiêu chuẩn chất lượng sản phẩmhay dịch vụ của đơn vị, đồng thời phải có biện pháp kiểm soát để khôngbao giờ có các sản phẩm hay dịch vụ không đạt tiêu chuẩn Việc kiểmsoát chặt chẽ ở khâu cuối cùng là cần thiết nhưng chất lượng sản phẩmkhông phải chỉ quyết định ở khâu cuối cùng, chất lượng sản phẩm đượchình thành trong suốt quá trình sản xuất, vì vậy cần có bộ tiêu chuẩn
kỹ thuật cho quá trình thực thi công việc; tiêu chuẩn về kỹ năng vàtrình độ của nhân viên ở các vị trí làm việc khác nhau để bảo đảm chấtlượng công việc; tiêu chuẩn bảo đảm duy trì chất lượng sản phẩm
5 Sử dụng và quản lý thông tin (quá trình tin học hoá)
6 Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 vàohoạt động của văn phòng
Thực hiện áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000vào hoạt động của văn phòng là một nhu cầu và xu hướng tất yếu Vềtổng thể, quá trình này cần trải qua các giai đoạn: trang bị kiến thức vềcác bước để xây dựng hệ thống quản lý chất lượng: lập kế hoạch, đàotạo chuyên môn; khảo sát hệ thống hiện có của đơn vị, viết hệ thốngtài liệu; công bố thực hiện; đánh giá nội bộ và cải tiến; chứng nhận đạttiêu chuẩn và duy trì chất lượng của hệ thống Đây là sự khởi động hếtsức cần thiết để tối ưu hoá và nâng cao chất lượng phục vụ của vănphòng nhằm đóng góp tích cực và thiết thực vào thực hiện nhữngnhiệm vụ chính trị và chuyên môn của cơ quan, tổ chức; tạo sự chuyểnbiến đột phá vào chất lượng phục vụ và phong cách làm việc khoa học,hiệu quả hơn
Hạn chế chủ yếu về cải cách hành chính nói chung hiện nay ởnước ta là không nhanh chóng dứt điểm, thiếu biện pháp triệt để Do
đó, bộ máy quản lý chính quyền các cấp phải xác định các giải phápkhả thi, có khả năng thật sự giải quyết các vấn đề bức xúc và quyếttâm để tạo ra chuyển biến mạnh mẽ Những giải pháp cơ bản liên quan
Trang 35đến hợp lý hoá, chuẩn hoá và công khai hoá trong giải quyết công việcphục vụ lãnh đạo và toàn cơ quan, tổ chức nói chung Xét một cáchnghiêm túc, trong bối cảnh cải cách hành chính hiện nay thật khó cóthể bằng lòng với kết quả hoạt động của văn phòng không ít các cơquan, tổ chức.
Trong bối cảnh tiếp tục thực hiện giai đoạn II (2006-2010) của Đề
án tiếp tục đổi mới phương thức điều hành và hiện đại hoá công sở củanền hành chính, việc đổi mới lề lối làm việc hành chính văn phòng vẫn
là công tác trọng tâm đối với nhiều cơ quan, tổ chức Bởi lẽ, công tácvăn phòng cần được nâng cao hơn nữa nhằm đáp ứng những yêu cầucủa nền hành chính trong giai đoạn phát triển mới của đất nước Điềunày đem lại những thành quả nhất định trong công tác văn phòng Vớinhiều hình thức khác nhau, nhiều văn phòng đã áp dụng hệ thống quản
lý chất lượng ISO trong một số mặt công tác; xây dựng và ban hànhquy chế, quy trình xử lý công việc cho từng lĩnh vực cụ thể Từ đó hoànthành tốt hai chức năng cơ bản là tham mưu - tổng hợp điều phối vàhậu cần Trong khi đó, vẫn còn không ít những bất cập liên quan đếncông tác văn phòng Thí dụ, đội ngũ cán bộ làm công tác văn phònghiện nay chưa được đào tạo đúng với chuyên môn, nghiệp vụ củamình; tổ chức bộ máy văn phòng không đồng nhất, chức năng cònchồng chéo, trùng lặp Điều này ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả và sựvận hành thông suốt của công tác văn phòng Chính vì vậy, cần phải
có sự chuẩn hoá trong công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ để cán
bộ, công chức văn phòng có tác phong làm việc hiệu quả, chuẩn mực
và hiện đại Đồng thời, mỗi đơn vị trong văn phòng phải luôn luôn có
ý thức đánh giá nhiệm vụ đổi mới của mình, tổng kết những gì đã làmđược, những gì còn tồn đọng, định ra phương hướng kiện toàn để tiếptục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phục vụ Vấn đề là cầncân nhắc kỹ lưỡng đổi mới khâu nào trước, khâu nào sau và từngbước nâng cao thế nào Cần có tầm nhìn lâu dài với lộ trình thực hiệnchắn chắn, rõ ràng cho từng thời kỳ cụ thể./
Trang 36NGHIÊN CỨU – TRAO ĐỔIQUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC HAY QUẢN LÝ NHÂN SỰ?
PGS TS LÊ THỊ VÂN HẠNH
Học viên Hành chính
ể nâng cao chất lượng công tác quản lý và sử dụng cán bộ hiện naytrong các cơ quan nhà nước, việc thay đổi triết lý quản lý con ngườitrong tổ chức là quan trọng và cấp thiết Phạm trù “nguồn nhân lực và
“quản lý nguồn nhân lực” cần được nghiên cứu, ứng dụng trong các tổchức thuộc khu vực nhà nước nhằm góp phần nâng cao năng lực, hiệuquả, hiệu lực quản lý, điều hành, thích ứng với nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa và hợp tác kinh tế quốc tế
Đ
Quản lý nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực của một tổ chức được hiểu là tổng thể những tiềmnăng lao động của con người phù hợp với kế hoạch và chiến lược pháttriển của tổ chức trong một thời kỳ nhất định Khái niệm “tiềm năng” ởđây là sự tổng hòa các tiềm năng về thể lực, trí lực và tâm lực của ngườilao động để có thể đảm bảo một cơ cấu lao động phù hợp với từng giaiđoạn phát triển của tổ chức Việc xem tiềm năng lao động của con ngườitrong các tổ chức là “nguồn nhân lực” là một cách tiếp cận “mở”, thaythế cho quan niệm truyền thống, xem con người trong tổ chức chỉ là “lựclượng lao động” hay “nhân sự” của tổ chức với sự chú trọng vào số lượnghiện có với những yêu cầu cụ thể về tiêu chuẩn để đáp ứng nhu cầu hiệntại của tổ chức
Tư duy mới về quản lý nguồn nhân lực (human resourcesmanagement) ra đời trong bối cảnh kinh tế thị trường phát triển với sựgia tăng cạnh tranh đòi hỏi các tổ chức phải có tầm nhìn chiến lược lâudài và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực Sự phát triển và năng độngcủa thị trường lao động đã thực sự tạo ra cơ hội việc làm cho lực lượnglao động chất lượng cao Vì vậy, các tổ chức, cả trong khu vực công và
tư, đều đứng trước những thử thách lớn trong việc thu hút, duy trì và sửdụng hiệu quả nguồn nhân lực Xuất phát từ những yêu cầu đó, “quản lýnguồn nhân lực” ra đời như một sự lựa chọn thay thế quản lý nhân sự