Với ý nghĩa như vậy, tại hội nghị tập huấn lần này, ngoài những nội dung công việc đã nêu trong thông báo của Bộ gửi từ trước, tôi đề nghị các đồng chí dành thời gian để trao đổi, thảo l
Trang 1ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH GÓP PHẦN KIỀM CHẾ LẠM PHÁT, ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, BẢO ĐẢM
AN SINH XÃ HỘI VÀ TĂNG TRƯỞNG BỀN VỮNG(*)
TS: Trong 2 ngày (11-12/9/2008) tại thành phố Hải Phòng, Bộ Nội vụ đã
tổ chức hội nghị tập huấn về công tác cải cách hành chính Đại diện lãnh đạo Sở Nội vụ, Văn phòng Uỷ ban nhân dân, Sở Thông tin và Truyền thông, cán bộ chuyên trách về cải cách hành chính của 31 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khu vực phía Bắc từ Thừa Thiên - Huế trở ra đã tham dự.
Trang 2nghị lần thứ 5 BCH Trung ương Đảng khóa X về “Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước” và Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Trung ương Thông qua đó, đã thu được một số kết quả quan trọng trong tiến trình cải cách hành chính và chính từ các tác động tích cực của cải cách hành chính đã góp phần làm ổn định kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh - chính trị đất nước.
Tuy nhiên, chúng ta cũng thẳng thắn nhận thấy, so với yêu cầu, cải cách hành chính vẫn chậm trong nhiều khâu, làm ảnh hưởng không nhỏ tới mục tiêu tiếp tục kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững của đất nước Hơn lúc nào hết, chúng ta cần thống nhất trong nhận thức và hành động, cải cách hành chính phải tiếp tục được đẩy mạnh hơn nữa, triển khai đồng bộ, quyết liệt ở cả trung ương và địa phương theo những định hướng, chủ trương, giải pháp mà Nghị quyết Trung ương 5 khóa X, cũng như Chương trình hành động của Chính phủ đã xác định.
Với ý nghĩa như vậy, tại hội nghị tập huấn lần này, ngoài những nội dung công việc đã nêu trong thông báo của Bộ gửi từ trước, tôi đề nghị các đồng chí dành thời gian để trao đổi, thảo luận và cho ý kiến thật sâu sắc, cụ thể về những nội dung công việc quan trọng có ý nghĩa là những nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm cần nỗ lực triển khai thực hiện trong những tháng cuối năm 2008, bao gồm:
- Triển khai Nghị quyết số 53/2007/NQ-CP ngày 07 tháng 11 năm 2007 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước;
- Triển khai sắp xếp, ổn định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện theo các quy định của Chính phủ;
- Tổ chức thực hiện hiệu quả Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22 tháng 6 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện cơ chế “một cửa”,
cơ chế “một cửa liên thông” tại cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương;
-Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tìm ra các biện pháp thích hợp nắm bắt, tháo gỡ vướng mắc, khó khăn của các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, cũng như đời sống của người dân, từ đó chủ động và kiên quyết loại bỏ những thủ tục hành chính không còn phù hợp, gây cản trở cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, đời sống nhân dân trên địa bàn địa phương Đẩy mạnh Kế hoạch thực hiện Đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010 Trong triển khai cải cách thủ tục hành chính, tôi đề nghị cần đặc biệt lưu ý tới việc xây dựng các quy trình giải quyết công việc của dân, tổ chức, xác định rõ trách nhiệm của từng
Trang 3cán bộ, công chức, từng bộ phận, thời gian giải quyết; cần coi trọng công tác kiểm tra việc thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” và xử lý nghiêm những cán
bộ, công chức gây nhũng nhiễu, phiền hà cho dân, tổ chức.
- Xây dựng kế hoạch cải cách hành chính năm 2009 theo tinh thần rõ việc, rõ trách nhiệm triển khai, trong đó chú ý việc bố trí kinh phí cho công tác triển khai cải cách hành chính nằm trong dự toán ngân sách của tỉnh.
Thưa các đồng chí, trong đợt tập huấn này, để giúp các địa phương có thêm sự gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực tiễn, lãnh đạo Bộ chủ trương mời Uỷ ban nhân dân thành phố Hải Phòng giới thiệu, tổ chức cho các đồng chí tham quan trực tiếp mô hình “một cửa”, “một cửa liên thông” theo mô hình mẫu, hiện đại tại một số đơn vị quận, huyện của thành phố Thông qua theo dõi, đánh giá cho thấy, đây là một trong những điển hình tốt và trên thực tế đã được nhiều địa phương đến tham quan, học tập kinh nghiệm thời gian qua Tôi tin rằng, sau khi tham quan, khảo sát trực tiếp thực tiễn triển khai của thành phố Hải Phòng, các đồng chí sẽ đúc rút thêm được những bài học kinh nghiệm để tham mưu, triển khai vận dụng phù hợp vào điều kiện thực tế của từng địa phương ”./.
Trang 4Bộ trưởng Bộ Nội vụ Trần Văn Tuấn chủ trì hội nghị
Bộ trưởng Bộ Nội vụ Trần Văn Tuấn chủ trì hội nghị Dự hội nghị có nguyên Bộ trưởng Bộ Nội vụ Đỗ Quang Trung; các Thứ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Duy Thăng, Văn Tất Thu, cùng đại diện các bộ, ban, ngành trung ương và địa phương, lãnh đạo các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ Nội vụ, các chuyên gia cao cấp của ADB, thành viên ban soạn thảo và tổ biên tập dự thảo Luật CBCC.
Pháp lệnh CBCC được ban hành từ năm 1998, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để tổ chức và quản lý các hoạt động liên quan đến công
Trang 5vụ, công chức Đối tượng và phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh phù hợp với đặc điểm của thể chế chính trị ở Việt Nam Thể chế quản lý hoạt động công vụ, công chức được ban hành là hợp hiến, hợp pháp, phù hợp với nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước CHXHCN Việt Nam, tuân thủ quan điểm của Đảng về công tác cán bộ; bộ máy quản lý công vụ, công chức từng bước đi vào hoạt động nền nếp, ổn định Đội ngũ CBCC đã được nâng cao về chất lượng, số đông được trang bị cơ bản về tri thức chuyên sâu, tổng hợp, có ý thức tôn trọng và biết phát huy quyền làm chủ của nhân dân, có tinh thần trách nhiệm và ý thức tổ chức kỷ luật, cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ, công vụ được giao Chế độ tiền lương và đãi ngộ đối với CBCC luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm
Tuy nhiên, sau 10 năm thực hiện, Pháp lệnh CBCC đã bộc lộ những hạn chế, đó là: còn tình trạng chồng chéo, đan xen giữa thể chế quản lý CBCC do Nhà nước ban hành với các quy định về quản
lý cán bộ trong hệ thống Đảng, Mặt trận, đoàn thể; phương thức tổ chức hoạt động công vụ dựa trên cơ sở hệ thống chức nghiệp gắn với việc giao biên chế cho các cơ quan nhà nước đã thể hiện những hạn chế trong việc nâng cao chất lượng hoạt động công vụ và chất lượng đội ngũ CBCC Cách thức tuyển dụng công chức hành chính theo chế độ làm việc suốt đời không thích ứng với cơ chế thị trường; các quy phạm pháp luật về quản lý công vụ, công chức chưa được đưa lên thành luật, nhiều quy định về hoạt động công vụ, công chức cần phải được bổ sung như khái niệm về công vụ, CBCC, đạo đức công vụ, thanh tra công vụ; tiền lương CBCC còn thấp, khó giữ và thu hút người giỏi vào làm công chức; chế độ đãi ngộ và tôn vinh công chức chưa được ban hành đầy đủ, chính sách nhà ở cho công chức, chế độ nghỉ phép còn chưa phù hợp; các điều kiện thực thi công vụ chưa được quy định thống nhất trong hệ thống hành chính;
hệ thống các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng CBCC cần được tổ chức lại theo hướng củng cố về cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, tăng cường giảng viên kiêm chức, đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo, bồi dưỡng theo hướng hiện đại hoá các hoạt động công vụ.
Các đại biểu tham dự hội nghị đã trao đổi ý kiến đánh giá hệ thống thể chế quản lý CBCC và công vụ hiện hành, kết quả 10 năm
Trang 6thực hiện Pháp lệnh CBCC, phát hiện những hạn chế của Pháp lệnh này, đồng thời đề xuất các giải pháp khắc phục; đóng góp ý kiến vào nội dung của dự thảo Luật CBCC; nghe các chuyên gia nước ngoài giới thiệu một số vấn đề về xu hướng cải cách chế độ công
vụ, công chức trên thế giới, bình luận khoa học về dự thảo Luật CBCC và so sánh với luật công vụ của các quốc gia trong khu vực.
Phát biểu tổng kết hội nghị, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Trần Văn Tuấn đánh giá cao tinh thần trách nhiệm của các đại biểu trong việc góp ý vào báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Pháp lệnh CB, CC và
dự thảo Luật CBCC; đồng thời yêu cầu Ban soạn thảo và tổ biên tập
dự thảo Luật CBCC tiếp thu, tập hợp ý kiến của các đại biểu và các chuyên gia nước ngoài, làm cơ sở đề xuất với các cấp có thẩm quyền tiếp tục chỉnh sửa dự thảo Luật CBCC để trình Quốc hội khoá XII thông qua vào kỳ họp thứ tư sẽ diễn ra vào giữa tháng 10/2008./.
KỶ NIỆM 63 NĂM CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ QUỐC KHÁNH 2-9
TÍNH SÁNG TẠO ĐỘC ĐÁO TRONG TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP CỦA VIỆT
NAM
BÙI KHẮC HẰNG
Trường Chính trị tỉnh Thanh Hoá
ách mạng Tháng Tám năm 1945 của nhân dân ta thành công chói lọi là biểu hiện tập trung tính chất của phong trào giải phóng dân tộc trong thời đại ngày nay Tuyên ngôn Độc lập
do Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố ngày 2/9/1945 khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Sự kiện lịch sử này, không chỉ là sản phẩm, là thành tựu của chủ nghĩa Mác - Lê-nin của thời đại, đã lần lượt được hiện thực hoá Mặt khác, chính Cách mạng Tháng Tám đã làm phong phú và sâu sắc thêm nội dung của thời đại - thời đại các cuộc cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc hướng tới mục tiêu chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.
C
Trang 7Tính thống nhất trong vận động biện chứng của sự sáng tạo trong Tuyên ngôn Độc lập với Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản được thể hiện trong những nội dung chính yếu như sau:
Thứ nhất, tư tưởng về độc lập.
Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản nêu một cách khái quát tư tưởng độc lập về chính trị của giai cấp vô sản; tức là “Giai cấp vô sản phải thủ tiêu giai cấp tư sản và giành lấy dân chủ; giai cấp vô sản phải trở thành giai cấp thống trị”(1) và kiến lập một trật tự xã hội mới theo lý tưởng của mình Tuyên ngôn Độc lập không chỉ tuyên bố về quyền độc lập tự do của một dân tộc mà còn tuyên bố
về quyền lựa chọn con đường độc lập tự do của mỗi dân tộc thoát khỏi ách thống trị của thực dân phong kiến Trong Tuyên ngôn có đoạn viết: “Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xoá bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xoá bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam”(2); đồng thời khác với độc lập theo con đường dân chủ tư sản,
ở đây độc lập dân tộc gắn với lợi ích của nhân dân lao động.
Trong Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích lại bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Người phân tích:
“Suy rộng ra tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền
tự do”(3) Tiếp đó, Người trích bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1789: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng
về quyền lợi” Người phân tích: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”(4) Như vậy, Tuyên ngôn độc lập không chỉ tuyên bố về quyền của mỗi dân tộc mà còn là quyền của mỗi con người Tư tưởng về độc lập trong Tuyên ngôn độc lập thể hiện sự gắn liền với xoá bỏ chế độ bóc lột tàn bạo của các thế lực phản cách mạng; giải phóng nhân dân lao động và các giai cấp tầng lớp khác thoát khỏi chủ nghĩa tư bản ngoại bang.
- Thứ hai, tư tưởng về mối quan hệ giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp.
Khi Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản ra đời, chủ nghĩa tư bản đang ở thời kỳ cạnh tranh tự do, phát triển trong khuôn khổ mỗi
Trang 8quốc gia dân tộc Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Mác, ghen chưa thể dự đoán được lịch sử nhân loại sẽ nảy sinh một mâu thuẫn mới, song song và gắn chặt với nhau đó là: mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản chính quốc với các dân tộc thuộc địa Tuyên ngôn Độc lập chính là thành quả vĩ đại của cuộc vận động cách mạng, kể
Ăng-từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 cho đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945, là kết quả của đường lối đúng đắn và
sự chỉ đạo chiến lược khôn khéo của Đảng ta và Bác Hồ trong việc định hướng giải quyết mâu thuẫn nói trên Như vậy, vấn đề mà C.Mác và Ăng-ghen nêu: “Giai đoạn thứ nhất trong cuộc cách mạng
là giai đoạn mà giai cấp vô sản tự xây dựng thành giai cấp thống trị
là giai đoạn giành lấy dân chủ”(5) Nhưng đối với cách mạng Việt Nam - giai đoạn tương ứng đó là giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Theo quan điểm của Mác - Ăng-ghen, sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động thoát khỏi ách thống trị của giai cấp tư sản là gắn liền với cách mạng giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc xâm lược Phản ánh qui luật đó, đường lối cách mạng của Đảng ta đã đặt sự nghiệp giải phóng dân tộc lên hàng đầu và xác định giải phóng dân tộc là điều kiện, tiền đề để thực hiện giải phóng giai cấp Nhưng nhiệm vụ giải phóng dân tộc chỉ có thể thực hiện hiệu quả khi được dựa trên tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin; hệ tư tưởng cách mạng của giai cấp vô sản và xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc lấy liên minh công nhân - nông dân - trí thức làm nền tảng đặt dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân mà hạt nhân là Đảng Cộng sản Như vậy, tư tưởng về mối quan hệ giữa giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp trong Tuyên ngôn Độc lập chính là sự vận dụng sáng tạo và phát triển lý luận lên một cấp độ mới.
- Thứ ba, luận điểm về giải quyết mối quan hệ giữa giải phóng
cá nhân với giải phóng xã hội
Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Mác, Ăng-ghen đã khái quát về mối quan hệ của sự phát triển cá nhân và cộng đồng, đó là
“thay cho xã hội tư sản với những giai cấp và đối kháng giai cấp của
nó, xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi
Trang 9người”(6).Tuyên ngôn Độc lập vừa đặt ra quyền bình đẳng giữa các dân tộc, đồng thời cho rằng để đi tới các quyền tự do, bình đẳng của mỗi người trước hết phải giành lại quyền tự do, độc lập cho dân tộc; tức là độc lập tự do của dân tộc được xem như là điều kiện bao trùm và tiên quyết cho hạnh phúc của mỗi cá nhân.
Như vậy, tính sáng tạo độc đáo trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm1945 với Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản năm 1848 chính là biểu hiện sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin nói chung và tư tưởng Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản nói riêng vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam của Đảng ta và Bác Hồ trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân ta đã và đang tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; thực hiện đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ trong bối cảnh đang diễn biến hết sức khó lường Mặc dù còn không ít khó khăn phức tạp, nhưng với một Đảng đã dạn dầy kinh nghiệm và trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại, đương đầu với những thế lực hiếu chiến nhất trong lịch sử thế giới đương đại và làm nên những chiến công hiển hách, hai tiếng “Việt Nam” đã trở thành biểu tượng và niềm tin của nhân dân lao động khắp năm châu Vì vậy, chúng ta luôn luôn tin tưởng vào thắng lợi của con đường cách mạng của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tiếp tục nâng vị thế của dân tộc ta lên những tầm cao mới./.
Ghi ch ú :
(1), (5), (6) Mác - Ăng-ghen, Toàn tập, Tập 4, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995, Tr.606, 616, 617.
(2), (3), (4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 4, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995, Tr.01, 02.
Trang 10HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH
THẤM NHUẦN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ PHONG CÁCH LÀM VIỆC CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY
PGS.TSKH TRẦN NGUYÊN TUYÊN
Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
rong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, những luận điểm của Người
về xây dựng Đảng trong điều kiện Đảng lãnh đạo chính quyền
có một vị trí quan trọng đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng
và phát triển sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ cách mạng, hình thành phong cách làm việc mới của người lãnh đạo
T
Thực tế lịch sử cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng đến nay cho thấy những thắng lợi của cách mạng đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng thông qua việc tập hợp, tổ chức và phát huy sức mạnh của quần chúng, trong đó yếu tố quan trọng là đường lối và phong cách công tác, làm việc của các cán bộ lãnh đạo Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, trong đó người đặc biệt chú ý hình thành phong cách làm việc khoa học và hiệu quả của người lãnh đạo Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu gương trong việc hoạch định đường lối, chính sách vừa có tính nguyên tắc, vừa có tính linh hoạt trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ Người xác định công tác cán bộ như việc đào tạo nhân tài là trọng yếu, rất cần thiết cho đất nước Trong quan niệm của Người, cán bộ luôn gắn với tổ chức, chất lượng của cán bộ là kết quả tổng hợp của tất cả các khâu đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng, đánh giá, sử dụng, đề bạt, cất nhắc, kiểm tra giám sát, phê bình và sự nỗ lực phấn đấu của từng người muốn có cán bộ tốt thì phải có tổ chức vững mạnh, phù hợp và khoa học.
Thông qua quan hệ với tập thể và xã hội sẽ cho thấy rõ tính cách của một người có tính tập thể hay tính cá nhân chủ nghĩa, thể
Trang 11hiện năng lực lãnh đạo trong các tình huống cụ thể của cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định phẩm chất quan trọng hàng đầu của người lãnh đạo là: “Đối với tự mình phải cần, kiệm, liêm, chính Đối với mình phải luôn luôn cầu tiến bộ, luôn tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm của mình, đồng thời phải hoan nghênh người khác phê bình mình” Người nhấn mạnh “tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý” (1)
Theo V.Lê-nin, trong mỗi con người đều có những mặt tích cực
và hạn chế, người cán bộ lãnh đạo phải biết phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực Vận dụng quan điểm này trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ ở nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Đảng viên và cán bộ cũng là người ai cũng có tính tốt
và tính xấu song đã là một người cách mạng thì phải cố gắng phát triển những tính tốt và sửa đổi những tính xấu Vì tính xấu của một người chỉ có hại cho người đó; còn tính xấu của một đảng viên, một cán bộ sẽ có hại đến Đảng, có hại đến nhân dân” tính cách của người lãnh đạo thể hiện trước hết ở thái độ của họ đối với xã hội và bản thân mình Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người lãnh đạo, người quản lý phải thường xuyên tu dưỡng rèn luyện mình để khuyết điểm ngày càng ít, tính tốt ngày càng nhiều thể hiện trên 5 nội dung là nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm
- Nhân là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng bào, đồng chí, sẵn sàng chịu khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc, sung sướng sau thiên hạ; không ham giàu sang, chức quyền
- Nghĩa là ngay thẳng, ngoài lợi ích của đảng, của dân tộc không có lợi ích riêng phải lo toan được đảng giao việc gì to, nhỏ đều cố gắng hoàn thành với kết quả tốt Người lãnh đạo thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói, không sợ người ta phê bình, kiên quyết bảo vệ lẽ phải
- Trí là không bị việc tư túi làm mù quáng, biết làm việc có lợi, tránh làm việc có hại cho Đảng, cho dân
- Dũng là dũng cảm gan góc, gặp việc khó quyết tâm hoàn thành, thấy khuyết điểm có gan sửa chữa
Trang 12- Liêm là liêm chính, không tham địa vị, tiền tài, không háo danh.
Các phẩm chất trên là yêu cầu về đạo đức cách mạng của người lãnh đạo, quản lý tuy nhiên, cách mạng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi những người lãnh đạo phải có đủ cả phẩm chất và có năng lực đáp ứng yêu cầu đặt ra cho từng thời kỳ Nếu cán bộ lãnh đạo, quản
lý chỉ có phẩm chất tốt về đạo đức cách mạng thì chưa đủ, mà theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần phải có năng lực quản lý, nắm bắt nhanh nhạy các vấn đề phát sinh, điều hành giải quyết tốt công việc hồ chí minh khẳng định: “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa” Cán bộ cách mạng, theo người, phải có đủ hai tiêu chuẩn “vừa hồng, vừa chuyên”, thực chất đó là mối quan hệ giữa đức và tài trong nhân cách người cán bộ quản lý, trong đó đức
là “gốc” Năng lực của cán bộ quản lý không phải tự có mà do quá trình công tác, rèn luyện, học tập của bản thân theo chủ tịch hồ chí minh “năng lực của người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có
mà một phần lớn là do công tác, do tập luyện mà có” (2)
Người khẳng định: “cũng như sông, thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” Cần phải biết sử dụng nhân tài, có khả năng lãnh đạo vì sự nghiệp cách mạng chung,
“phải trọng nhân tài, trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta” (3).
Năng lực, phong cách làm việc khoa học của người lãnh đạo được hình thành thông qua hoạt động thực tiễn cách mạng Ph.Ăng- ghen đã chỉ rõ thực tiễn đặt ra nhu cầu cho con người nhiều hơn mười trường đại học Vận dụng quan điểm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống,
nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng
cố cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong Cho nên, trong mọi hoạt động cách mạng, chúng ta đều phải học tập tự cải tạo Thực tiễn cách mạng “đều là những trường học rất tốt cho chúng ta rèn luyện đạo đức cách mạng”
Trang 13Những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phong cách lãnh đạo của người cán bộ đã vận dụng và phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam Các quan điểm này đã được Đảng Cộng sản Việt nam vận dụng trong việc xây dựng chính sách đào tạo và phát triển cán bộ quản lý, hình thành phong cách lãnh đạo mới phù hợp với yêu cầu cụ thể của từng thời kỳ.
Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
đã khẳng định: “trên cơ sở phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, nâng cao dân trí để xây dựng đội ngũ cán bộ một cách cơ bản, chính quy, có hệ thống; đồng thời thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân để giáo dục, rèn luyện, đào tạo, đánh giá, sàng lọc, tuyển chọn cán bộ” (5)
Phát triển quan điểm này, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ mục tiêu của công tác cán bộ trong thời kỳ mới là: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo và quản
lý ở các cấp, vững vàng về chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn, gắn bó với nhân dân” (6) Để thực hiện được mục tiêu này, Đại hội IX của đảng đã xác định những chủ trương, biện pháp cơ bản như:
- Có cơ chế và chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo bồi dưỡng cán bộ, tận dụng những người có đức, có tài Thực hiện đúng đắn nguyên tắc đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản
lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức
và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ Làm tốt công tác quy hoạch và tạo nguồn cán bộ cho cả trước mắt và lâu dài
- Việc đánh giá sử dụng đúng cán bộ cần phải sử dụng tổng hợp các yếu tố như: căn cứ tiêu chuẩn cán bộ, lấy hiệu quả công tác thực tế và tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu; có phương pháp khoa học, khách quan, công tâm trong việc đánh giá cán bộ
- Đổi mới đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trên cơ sở kết hợp các thế hệ độ tuổi bảo đảm tính liên tục kế thừa và phát triển
Trang 14- Thực hiện luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý theo quy hoạch ở các ngành và địa phương, khắc phục tư tưởng cục bộ, khép kín, cản trở việc luân chuyển cán bộ
Văn kiện Đại hội X của Đảng tiếp tục khẳng định tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng phong cách lãnh đạo của đội ngũ cán bộ lãnh đạo “Cán bộ phải là người có phẩm chất chính trị tốt, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, hết lòng phấn đấu vì lợi ích của nhân dân, của dân tộc, có bản lĩnh chính trị vững vàng, không giao động trước những khó khăn, thử thách; có năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao; có nhân cách và lối sống mẫu mực, trong sáng; có ý thức tổ chức kỷ luật cao, tôn trọng tập thể, gắn bó với nhân dân” (7).
Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của đảng, của đất nước, của chế độ ta, là cái
“gốc” của mọi công việc Bác Hồ đã chỉ rõ: nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì nhân dân là chủ trong bộ máy nhà nước, cán bộ công chức là “công bộc” của dân, chịu sự giám sát của dân.
để làm được điều nêu trên, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức phải nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực, tinh thần tận tụy phục vụ nhân dân, trung thành với Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa công tác cán bộ giữ một vị trí quan trọng, quyết định trực tiếp đến sự nghiệp cách mạng của Đảng ta Công tác cán bộ là một hoạt động cụ thể nhằm định hướng cho một chiến lược lâu dài của
sự nghiệp cách mạng, đáp ứng nhu cầu sự nghiệp cách mạng Để đổi mới công tác cán bộ, cần đổi mới đồng bộ các khâu có liên quan đến cán bộ bao gồm: tiêu chuẩn, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, lựa chọn, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, kiểm tra và quản lý cán bộ Muốn vậy cần chú trọng các giải pháp như:
- Hoàn thiện chế độ công vụ, quy chế cán bộ, công chức, coi trọng cả năng lực và lãnh đạo, bảo đảm tính nghiêm túc, trung thực trong thi tuyển tạo cơ hội cho những người có đủ điều kiện được tuyển dụng làm cán bộ, công chức nhà nước.
- Coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý về đường lối, chính sách, về kiến thức và kỹ năng quản lý hành chính nhà nước, quản lý
Trang 15kinh tế – xã hội trong điều kiện cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.
- Sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước theo đúng chức danh, tiêu chuẩn; thực hiện tinh giản biên chế
- Định kỳ kiểm tra, đánh giá cán bộ, công chức, kịp thời thay thế những cán bộ, công chức yếu kém và thoái hóa
- Tăng cường cán bộ cho cơ sở Có chế độ chính sách đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ đối với cán bộ xã, phường, thị trấn
Những quan điểm của chủ tịch hồ chí minh về xây dựng đội ngũ cán bộ, hình thành phong cách làm việc của người lãnh đạo đã thể hiện sự vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết của Chủ nghĩa Mác – Lê-nin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam Những quan điểm này luôn có giá trị đúng đắn trong điều kiện mới của cách mạng Việt Nam, khi nước ta đang thực hiện xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, tích cực chủ động hội nhập kinh tế quốc tế./
Trang 16HỌC TẬP TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TIẾT KIỆM VÀ THỰC HÀNH TIẾT KIỆM
ĐẶNG HẰNG THU PHƯƠNG
Đại học Công đoàn Hà Nội
rong các bài nói chuyện, bài viết của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã đề cập nhiều đến tiết kiệm và thực hành tiết kiệm Người đã luận giải kỹ các nội dung về tiết kiệm và thực hành tiết kiệm, đồng thời cũng chỉ ra rằng công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí
là một nhiệm vụ quan trọng và luôn luôn phải thực hiện mọi lúc, mọi nơi.
T
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiết kiệm là không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi Tiết kiệm không phải là bủn xỉn, mà những việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của cũng vui lòng Tiết kiệm là tích cực Tiết kiệm không phải là ép bộ đội, cán bộ và nhân dân nhịn ăn, nhịn mặc Trái lại, tiết kiệm cốt để giúp vào tăng gia sản xuất, mà tăng gia sản xuất là để dần dần nâng cao mức sống của bộ đội, cán bộ và nhân dân Nói theo lối khoa học, thì tiết kiệm là tích cực, chứ không phải
là tiêu cực (1) Mục đích của việc tiết kiệm, Người chỉ rõ: tiết kiệm là
để phục vụ cho kháng chiến và kiến quốc; để tăng thêm tiền vốn xây dựng đất nước Điều này càng quan trọng khi nước ta là nước dân chủ nhân dân, không thể tích lũy vốn theo kiểu thực dân, đế quốc bằng cách cướp bóc thuộc địa, bóc lột công nhân, nông dân, vay nợ nước ngoài và hơn thế nữa, tiết kiệm để nhanh chóng đưa nước ta ra khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu, hậu quả 80 năm đô
hộ, vơ vét của thực dân Pháp rồi đến phát xít Nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ 3 nội dung của việc tiết kiệm bao gồm: tiết kiệm sức lao động Tức là phải tổ chức sắp xếp cho khéo, phải nâng cao năng suất lao động, một người làm bằng hai, ba người Tiết kiệm thời giờ, Người nói: “Thời giờ tức là tiền bạc; “Một tấc bóng là một thước vàng Ai đưa vàng bạc vứt đi, là người điên rồ, ai đưa thời giờ vứt đi,
là người ngu dại (2) Tiết kiệm thời giờ của mình và tiết kiệm thời
Trang 17giờ của người khác Tiết kiệm tiền của Phải tiết kiệm tiền của nhà nước, của nhân dân và của chính mình Việc này liên quan tới tiết kiệm sức người, tiết kiệm thời giờ Đối tượng cần phải tiết kiệm mà Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra ở đây là tất cả mọi người đều phải tiết kiệm, song trước hết là các cơ quan, bộ đội, các xí nghiệp Nội dung tiết kiệm phải cụ thể, thiết thực ngay trong vị trí công tác của mình.
Bộ đội, chiến sĩ thì tiết kiệm đạn, quân nhu, chiến lợi phẩm; cán bộ
cơ quan hành chính thì tiết kiệm thời gian, giấy, mực; cán bộ tư pháp tiết kiệm thời giờ cho dân khi triển khai nhanh công việc
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nếp sống hết sức giản dị, tiết kiệm Sự giản dị, tiết kiệm ấy mãi mãi là tấm gương sáng ngời cho muôn thế hệ noi theo Đã có rất nhiều câu chuyện kể về tấm gương tiết kiệm của Bác, trong đó câu chuyện về đôi dép cao su và máy lạnh trong phòng Bác là những ví dụ điển hình về đạo đức sống giản dị, thanh tao, tiết kiệm của Người Chuyện kể rằng: sau khi tiếp quản Thủ đô (tháng 10/1945), Trung ương bố trí Bác ở và làm việc trong ngôi nhà cao tầng, đồ sộ, vốn là nơi của viên Toàn quyền Đông Dương Bác không đồng ý và sau đó đã chọn một căn phòng nhỏ trước đây là nơi ở của người thợ điện trong Phủ Toàn quyền, đồng thời bảo anh em phục vụ quét dọn ngôi nhà đồ sộ ấy để làm nơi vui chơi cho các cháu thiếu nhi và tiếp khách Trong thời gian Bác sống ở Hà Nội, thấy đôi dép cao su của Bác đã cũ, anh em phục
vụ đề nghị cho thay dép mới, nhưng Bác chưa đồng ý, vì dép ấy vẫn còn dùng được Có người mạnh dạn thưa với Bác là đôi dép mới chỉ
có hai đồng rưỡi, không nhiều nhặn gì Bác đã giải thích: vấn đề không phải là hai đồng rưỡi mà là phải xem đã cần thay dép mới chưa? Đôi dép của Bác còn dùng được thì chưa nên thay! Khi đi thăm các địa phương, Bác bảo anh em phục vụ chuẩn bị cơm mang theo, hễ lúc nào thuận tiện thì dừng lại ăn cơm Theo Bác, xuống thăm các địa phương, đơn vị là để nắm tình hình thực tế và góp ý, nhắc nhở về các công việc, chứ không phải xuống dự tiệc tùng, gây tốn kém Bác còn nói vui: ở tỉnh chiêu đãi thì họ cho mình ăn một nhưng sẽ hết cả con bò Nếu Bác đến thăm bốn tỉnh như vậy thì kinh tế sẽ lạm phát Có tỉnh nọ mặc dù đã được báo trước là Bác có mang cơm theo, nhưng vẫn sắm sửa cỗ bàn thịnh soạn Khi được
Trang 18mời, Bác kiên quyết không ăn mà còn phê bình rất nghiêm khắc Theo một cán bộ Cục Cảnh vệ được bảo vệ Bác Hồ trong những năm 1954-1962 thì có được ở gần Bác mới chứng kiến một điều đặc biệt: dù trời đông giá rét hay ngày hè nóng nực, không bao giờ thấy Bác kêu nóng hay rét quá Có một dịp trong lúc chúng tôi đang nghĩ cách chống nóng cho Bác thì các đồng chí bên Bộ Ngoại giao công tác ở nước ngoài gửi biếu Bác chiếc máy điều hòa nhiệt độ Khi nhận máy về, từ các anh ở Văn phòng Bác đến anh em phục vụ, bảo
vệ đều vui mừng thấy như các đồng chí bên ngoại giao đã giúp mình tìm ra đáp số một bài toán khó Lúc đó Bác đi công tác vắng Các anh quyết định cho lắp máy điều hòa vào phòng của Bác, định khi Bác về sẽ xin phép sau Các đồng chí thợ điện tích cực làm việc, chỉ một buổi sáng chiếc máy đã được đặt gọn vào tường trong phòng làm việc của Bác Cầu dao điện vừa đóng, tiếng máy chạy ro
ro, giống như có bầy ong về tổ Lúc đó ở Hà Nội máy điều hòa còn hiếm, anh em chúng tôi nhiều người mới biết lần đầu, cứ tấm tắc khen Tuy vậy chúng tôi vẫn hồi hộp chờ ý kiến của Bác, bởi lẽ chúng tôi đều biết Bác sống rất giản dị Những tiện nghi Trung ương dành cho Bác, thứ nào thật cần thiết Bác mới dùng Chúng tôi hồi hộp chờ đợi Lần ấy Bác đi công tác độ một tuần mà chúng tôi cảm thấy như đã dài hàng tháng Nghe tin Bác về, chúng tôi chạy ra đón Sau khi thăm hỏi anh em, Bác đi về phòng ở Vừa bước vào phòng, chợt Bác dừng lại, hỏi: “các chú này, hôm nay nhà mình có mùi gì lạ quá”! Chúng tôi nhìn nhau, chưa ai trả lời câu hỏi của Bác Chính tôi cũng chưa phát hiện được điều gì Sau này hỏi các đồng chí thợ điện mới biết chiếc máy điều hòa do một hãng của nước ngoài sản xuất, chất lượng máy tốt, hình dáng đẹp nhưng muốn làm vui lòng khách, trong máy họ gắn thêm một bình bơm tự động có chứa nước hoa Khi máy vận hành, van mở, nước hoa theo gió tỏa ra nên trong phòng lúc nào cũng phảng phất mùi thơm Nếu ai không chú ý thì chỉ cảm thấy như quanh đây có mùi hoa lan, hoa huệ vậy Biết không giấu được Bác, các đồng chí phục vụ xin lỗi Bác, rồi trình bày
rõ lý do về chiếc máy điều hòa nhiệt độ Không thấy Bác tỏ thái độ
gì, chúng tôi thở phào nhẹ nhõm Nhưng chỉ đến đầu giờ làm việc chiều hôm ấy, Bác cho gọi anh Vũ Kỳ đến và ân cần bảo: “Chiếc
Trang 19máy điều hòa nhiệt độ tốt đấy, các chú có thể đem đến cho quân y viện hoặc trại điều dưỡng thương binh Hôm trước Bác đến thăm thấy các chú ấy ở nóng lắm Còn Bác thì chưa cần, Bác ở thế này là được rồi” Anh Vũ Kỳ và các đồng chí phục vụ đã hết lời đề nghị nhưng Bác vẫn không thay đổi ý kiến Thế là ngay buổi chiều hôm
ấy chiếc máy điều hòa được đưa ra khỏi căn phòng của Bác.
Nêu mấy mẩu chuyện nhỏ về tấm gương giản dị, tiết kiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh để chúng ta liên hệ đến cuộc sống của mỗi người hiện nay rồi học tập, làm theo gương Bác Từ các câu chuyện nay, mỗi cán bộ, công chức - những công bộc của dân, những con người theo Chủ tịch Hồ Chí Minh là những “đầy tớ trung thành của nhân dân”, kiểm điểm bản thân để soi rọi vào mình, xem lại mình
đã thực sự xứng đáng với danh hiệu cao quý đó chưa, nhất là vào thời điểm khi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đang ra sức thi đua học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người Có nhiều câu chuyện, nhiều hình ảnh và những việc làm của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức hiện nay nếu đem ra soi thì không xứng đáng với lời dạy của Bác Không ít công chức hiện nay, có thu nhập không cao, song hiện vẫn được sống trong những ngôi nhà rộng rãi, đầy đủ tiện nghi hiện đại, với chi phí sinh hoạt hàng tháng cao gấp hàng chục lần thù lao nhà nước chi trả cho họ qua lương Cuộc sống
cá nhân của không ít cán bộ, công chức là đảng viên cũng rất hoang phí, xa hoa Xã hội ngày nay đã phát triển hơn nhiều so với thời kỳ đất nước trong kháng chiến, song dù không phải đi dép cao su, mang cơm nắm khi đi công tác như Bác, chúng ta cũng không nên quá lãng phí, sa vào tiệc tùng, tiêu hoang công sản khi thi hành nhiệm vụ nhà nước, gây phản cảm trước dư luận và nhân dân lao động Chúng ta đang thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” ở mọi ngành, mọi cấp, thiết nghĩ sau mỗi đợt sơ kết, các cơ quan, đơn vị cũng phải nêu ra được những
cá nhân, đơn vị cụ thể làm tốt, làm chưa tốt, có biểu hiện tham nhũng, tiêu cực, xa hoa, lãng phí để cuộc vận động này đi vào thực chất và đạt hiệu quả cao Học tập Bác là phải làm theo Bác, học thực chất, làm thực chất, học và làm theo bằng chính trách nhiệm cán bộ, đảng viên trước nhân dân, bằng liêm sỉ và đạo đức công vụ, chứ
Trang 20không học và làm một cách vô thức Mỗi cán bộ, công chức, đảng viên đang sống và làm việc theo pháp luật, được người dân giám sát hãy sống và làm việc cho tốt sao cho không phụ lòng nhân dân, đi ngược lại với mong muốn của Bác Hồ - đấy chính là những việc làm thiết thực và hiệu quả nhất trong việc thực hiện cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Thực hiện tốt điều
đó cũng chính là chúng ta đã làm cho tấm gương Bác mãi ngời sáng trong lòng mỗi người dân Việt Nam./.
Trang 21CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
Về tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo cán bộ, công chức
PGS.TS NGUYỄN HỮU ẢI
Học viện Hành chính Quốc gia
ào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cho nền công vụ là một yếu tố then chốt trong chiến lược quản lý phát triển nền công
vụ của mỗi quốc gia Ở nước ta, đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức theo yêu cầu cải cách hành chính là nhiệm vụ trọng tâm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X tiếp tục khẳng định sự cần thiết và tầm quan trọng của việc đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước ở nước ta không chỉ trong giai đoạn hiện nay
mà còn cả về lâu dài.
Đ
Thực tiễn đào tạo cán bộ, công chức:
Đào tạo cán bộ, công chức nhà nước ở nước ta hiện nay bao gồm hai nội dung: đào tạo tiền công vụ và đào tạo trong công vụ Trong đó, đào tạo trong công vụ lại bao gồm đào tạo nâng cao kiến thức chuyên môn thông qua hệ thống các trường cao đẳng, đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân và đào tạo về kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước tại Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin đề cập đến hoạt động đào tạo cán bộ, công chức do Học viện Hành chính và hệ thống các trường quản lý cán bộ của bộ ngành và trường chính trị các tỉnh thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ được giao
Có thể tóm lược về hoạt động đào tạo cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay như sau:
- Về định hướng đào tạo:
Trang 22Việc cử cán bộ đi đào tạo là một nhiệm vụ, đồng thời là một yêu cầu trong đánh giá kết quả hoạt động của cơ quan, đơn vị Thêm vào đó, người được cử đi đào tạo thường phải bảo đảm những điều kiện nhất định về thâm niên, cấp bậc lương và quy hoạch phát triển công chức Chính vì vậy, xu hướng phổ biến hiện nay là đào tạo công chức theo chỉ tiêu của cơ quan và theo thâm niên, theo cấp của người được đào tạo chứ không theo chức năng mà họ thực hiện(1) Đào tạo theo nhu cầu người học - một xu thế đào tạo tiến
bộ và bắt đầu phổ biến ở khu vực tư - hiện vẫn chưa được áp dụng rộng rãi trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức khu vực công
- Nội dung và phương pháp đào tạo:
Xuất phát từ định hướng đào tạo nêu trên nên nội dung đào tạo được áp dụng chung cho những nhóm đối tượng người học có trình độ chuyên môn khác nhau, công tác ở những vị trí công việc rất khác nhau Người học được cung cấp những kiến thức cơ bản về nhà nước, hành chính nhà nước, về pháp luật - tức là những kiến thức chung về quản lý nhà nước - chứ không đi vào yêu cầu công việc; phần kỹ năng hầu như bị bỏ trống Thêm vào đó, chưa có sự phân định rõ ràng về nhóm kiến thức dành cho những người sắp bước vào nền công vụ, hay với những cán bộ, công chức đang làm việc.
Với nội dung đào tạo như vậy, phương pháp đào tạo được áp dụng chủ yếu là thuyết trình Việc trao đổi, thảo luận tuy được thiết
kế trong khung chương trình, song áp dụng chưa nhiều do thời lượng hạn chế, do đó, người học khó có thể hình thành kỹ năng giải quyết công việc sau khi kết thúc khoá học
- Tiêu chí và phương pháp đánh giá kết quả đào tạo:
Trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng, người học được đánh giá kết quả thông qua điểm của bài kiểm tra giữa kỳ Kết thúc khóa đào tạo, người học trải qua kỳ thi kiểm tra dưới hình thức tự luận là chính; nội dung câu hỏi xoay quanh những kiến thức quản lý nhà nước có trong tài liệu; việc chấm điểm và đánh giá trên tinh thần
“giơ cao đánh khẽ” vì học viên đều là những người hoặc sắp bước vào nền công vụ, hoặc đang công tác ở một vị trí nhất định và khả
Trang 23năng thăng tiến của họ có thể phụ thuộc một phần vào xếp loại của chứng chỉ khoá học mà họ vừa tham gia.
Đối với cả đơn vị đào tạo và đơn vị cử cán bộ đi đào tạo, kết quả và chất lượng đào tạo chủ yếu được xác định dựa trên số lượng học viên tốt nghiệp và xếp loại giỏi hay khá, mà không quan tâm nhiều đến việc sau khoá học, người học sẽ ứng dụng được gì vào công việc hàng ngày ở cơ quan, đơn vị.
Như vậy, có thể thấy việc đào tạo cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay còn mang tính hình thức, mới tập trung vào lượng chứ chưa chú trọng nhiều vào chất Và đôi khi vì lý do này hay lý do khác mà có hiện tượng đánh đồng giữa số lượng đào tạo và chất lượng đào tạo Chính vì vậy, xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo là một đòi hỏi khách quan và có tính cấp thiết để từng bước xây dựng được một đội ngũ cán bộ, công chức có chất lượng, hướng tới một nền công vụ tiên tiến, của dân, do dân, vì dân.
Tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo cán bộ, công chức:
Người phương Tây hay dùng câu thành ngữ “What is measured gets done” (Cái gì đo lường được thì mới thực hiện được) để nói về mục tiêu họat động của con người hay tổ chức Tuy nhiên trong đào tạo, nói đến chất lượng là nói đến kết quả và hiệu quả của cả quá trình từ nhận thức đến tư duy và hành động của mỗi con người, rất khó “cân, đo, đong, đếm” một cách rạch ròi như các biến định lượng khác
“Sản phẩm” của đào tạo cán bộ, công chức là sự bù đắp đầy đủ hơn về phẩm chất chính trị, đạo đức công vụ và kiến thức được bổ sung, kỹ năng được huấn luyện để công chức nhà nước gắn bó trọn vẹn với chức nghiệp hay việc làm trong nền công vụ và hiệu quả hoạt động của họ ảnh hưởng trực tiếp đến nền công vụ quốc gia Chính vì vậy, nói đến chất lượng đào tạo công chức là nói đến kết quả và hiệu quả làm việc của họ thu được cao hơn sau đào tạo - tức
là sau mỗi khoá học, người học phải có được những phẩm chất, năng lực gì giúp ích cho họ trong thực thi công vụ.
Một khoá đào tạo có chất lượng là một khoá học mà khi kết thúc, cán bộ, công chức hình thành được những phẩm chất và năng lực sau đây:
Trang 24Một là, có kiến thức quản lý nhà nước
Trong phạm vi các khoá đào tạo, bồi dưỡng về quản lý nhà nước cho cán bộ, công chức(2), tiêu chí đầu tiên để đánh giá chất lượng đào tạo là sau khoá học, công chức phải có được những kiến thức cơ bản về nhà nước, xác định đúng chức năng của nhà nước nói chung, của mỗi hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước nói riêng và xác định đúng chức trách của công chức trong thực thi công vụ.v.v
Hiện nay ở nước ta, chưa có sự phân biệt rạch ròi giữa cán bộ, công chức, viên chức, do đó học viên trong các khoá đào tạo, bồi dưỡng thường bao gồm cả ba nhóm đối tượng này và họ đến từ những cơ quan, đoàn thể khác nhau trong hệ thống chính trị Tuy nhiên, yêu cầu đạt được của mỗi khoá học là người học phải nắm được những kiến thức khái quát về nhà nước và quản lý nhà nước,
từ đó xác định được cơ quan, đơn vị mình nằm ở đâu trong hệ thống chính trị, thực hiện chức năng, nhiệm vụ gì, có quan hệ như thế nào với những tổ chức nhà nước khác
Hai là, có khả năng đặt vấn đề và kỹ năng giải quyết vấn đề
Công việc thực tế của cán bộ, công chức trong thực thi công vụ luôn phải đối mặt và giải quyết các vấn đề trong hệ thống và ngoài
xã hội, trong đó, có những vấn đề biểu hiện bên ngoài là giống nhau nhưng đòi hỏi cách giải quyết khác nhau, có những vấn đề đòi hỏi không chỉ một mà nhiều biện pháp giải quyết đồng bộ Chính vì vậy, người cán bộ, công chức hoàn thành nhiệm vụ là người có khả năng phát hiện vấn đề (problem - finding) và giải quyết được vấn đề (problem - solving).
Tuy nhiên, kỹ năng là sự kết hợp chín muồi giữa lý thuyết với kinh nghiệm thực tiễn Vì vậy, khó lòng đòi hỏi một công chức dự bị sau khi trải qua một khoá đào tạo tiền công vụ phải có khả năng phát hiện và kỹ năng giải quyết vấn đề như một chuyên viên chính Thêm nữa, kỹ năng cần có đối với mỗi công chức ở mỗi vị trí công việc, mỗi lĩnh vực công tác khác nhau là khác nhau
Mặc dù có những khác biệt nhất định như vậy, song tiêu chí chung để đánh giá chất lượng của một khoá đào tạo cán bộ, công chức là sau khoá học, người học biết chủ động liên hệ giữa kiến thức đã được tiếp nhận để có những đề xuất cụ thể, sát thực tế
Trang 25trong lĩnh vực công tác, từ đó tìm kiếm được cách thức giải quyết công việc khoa học Các tình huống quản lý trong thực tế hết sức đa dạng, giảng viên chỉ có thể đưa vào bài giảng một vài bài tập tình huống, đặt ra một số vấn đề trong vô vàn vấn đề nảy sinh trong cuộc sống Với thời lượng đào tạo ngắn, mục tiêu học tập càng cần
rõ ràng, cụ thể theo cách cung cấp cho người học phương pháp để
họ khoa học hoá việc phát hiện và giải quyết vấn đề, tạo tiền đề cho họ vừa thử nghiệm, vừa tích luỹ tiếp kỹ năng trong quá trình công tác.
Ba là, có thái độ tích cực trong thực thi công vụ.
Tiêu chí thái độ rất quan trọng, nhưng cũng không dễ dàng định lượng Ở đây, mục tiêu hướng tới của đào tạo cán bộ, công chức không phải là đào tạo ra những con người làm việc trong bộ máy phục vụ nhân dân có trình độ, năng lực song lại không muốn phục vụ nhân dân Việc đào tạo công chức có chất lượng đòi hỏi sau quá trình đào tạo, công chức không chỉ có kiến thức, kỹ năng, mà còn phải có mong muốn đem kiến thức, kỹ năng đó áp dụng vào thực thi công vụ nhằm nâng cao hiệu quả công việc Hay nói cách khác là có mong muốn cống hiến cho nền công vụ nước nhà
Tiêu chí này được cụ thể hoá bằng những yêu cầu như sau: + Có phẩm chất chính trị.
Quản lý nhà nước luôn phải hướng tới mục tiêu chính trị, vì thế cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước rất cần được rèn luyện và củng cố về phẩm chất chính trị Sau mỗi khoá học, học viên phải thấm nhuần hơn những lý tưởng cao đẹp mà Đảng, Nhà nước và xã hội đang theo đuổi, từ đó xây dựng vững chắc hơn niềm tin vào lý tưởng đó và trung thành với lợi ích mà mục tiêu chính trị đã xác định Đồng thời xác lập quyết tâm thực hiện mục tiêu chính trị của mỗi tổ chức và toàn hệ thống Đo lường tiêu chí này có thể là sự thống nhất cao độ hay không của mỗi học viên trong toàn khoá học.
+ Có đạo đức xã hội.
Các khoá đào tạo công chức thường thiết kế các nội dung về đạo đức công vụ; về công vụ, công chức Sau khi kết thúc khoá học, cán bộ, công chức phải ý thức được rằng mình là người làm việc trong bộ máy nhà nước, người dân nhìn vào mình để đánh giá
Trang 26thương hiệu của từng cơ quan hay cả bộ máy nhà nước, do đó phải luôn có ý thức giữ gìn hình ảnh, đạo đức, tác phong chuẩn mực trong con mắt quần chúng nhân dân.
+ Có đạo đức nghề nghiệp.
Một chỉ tiêu đánh giá khoá đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức có chất lượng cao là khi kết thúc khoá học, công chức ý thức được rằng mình là một người lao động làm công việc đặc biệt như: làm việc trong bộ máy nhà nước, sử dụng công sản vào thực thi công vụ, hưởng lương từ ngân sách nhà nước, phục vụ lợi ích công.
Từ đó, họ ý thức được mình là công bộc của dân, cần phải có thái độ tôn trọng nhân dân, có nghĩa vụ phục vụ nhân dân Đồng thời sau khoá đào tạo, bồi dưỡng, công chức giao tiếp có văn hoá hơn với công dân, làm cho họ hài lòng hơn về thái độ và chuyên môn nghiệp vụ trong giải quyết các mối quan hệ hay sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực công.v.v
+ Có “tầm nhìn” chung.
Chúng tôi dùng từ “tầm nhìn” (vision) với ý nghĩa: công chức trải qua đào tạo phải nhận thức được đầy đủ mục tiêu mà nền hành chính nhà nước đang hướng tới là gì, từ đó nỗ lực phấn đấu thực hiện mục tiêu đề ra Kết thúc khoá đào tạo, công chức phải biết xác định tầm nhìn mà họ và các đồng sự đang hướng tới phù hợp với định hướng chính trị mà cả ngành hay đơn vị họ đang theo đuổi Cụ thể hoá của tầm nhìn ở mỗi cán bộ, công chức là dự kiến đúng mục tiêu giải quyết vấn đề và các phương án khả thi cho việc giải quyết vấn đề đó Được như vậy, họ mới tự giác và đồng tâm thực hiện nhiệm vụ được giao một cách tốt nhất.
Trong công cuộc cải cách hành chính hiện nay, việc đào tạo cán bộ, công chức được coi là có chất lượng khi làm cho công chức
có tầm nhìn chung: xây dựng một nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại hoá, theo hướng phục vụ dân, từ đó họ tự hào vì mình được góp phần vào việc hiện thực hoá tầm nhìn chung
Đào tạo cán bộ, công chức không chỉ nhằm thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính hiện tại, mà còn có ý nghĩa lâu dài hơn là hình thành một nền văn hoá công vụ chuyên nghiệp, hiện đại cho tương lai Chính vì vậy, nâng cao chất lượng đào tạo công chức, trong đó
Trang 27có việc xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo công chức là một yêu cầu cấp thiết đặt ra cho các nhà quản lý công chức và quản lý giáo dục hiện nay./.
Trang 28YÊN BÁI ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC
CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH
NGUYỄN XUÂN TRƯỜNG
Sở Nội vụ tỉnh Yên Bái
hực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” tại cơ quan hànhchính nhà nước ở địa phương, UBND tỉnh Yên Bái đang chỉ đạo triểnkhai tại các cơ quan hành chính cấp tỉnh và UBND cấp huyện, cấp xã.Tính đến tháng 6/2008 Yên Bái đã triển khai thực hiện cơ chế “một cửa”tại các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, 9/9 huyện, thị xã, thành phố;180/180 xã, phường, thị trấn; thực hiện cơ chế “một cửa liên thông” tại
Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục thuế tỉnh, Công an tỉnh
T
Nội dung triển khai thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liênthông tại tỉnh Yên Bái đối với các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnhtập trung vào các lĩnh vực: đăng ký kinh doanh (thành lập doanh nghiệp,đăng ký lập chi nhánh, văn phòng đại diện, thay đổi địa chỉ trụ sở chínhcủa doanh nghiệp, đổi tên doanh nghiệp, người đại diện doanh nghiệp,thay đổi vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân và vốn điều lệ côngty); xây dựng (thẩm định thiết kế kỹ thuật và dự toán, tổng dự toán, cấpchứng chỉ hành nghề, cấp giấy phép xây dựng, cấp chứng chỉ quy hoạch,thẩm định quy hoạch đô thị); chính sách xã hội (cấp lại bằng Tổ quốc ghicông, cấp lại giấy chứng nhận thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ,giới thiệu giám định thương tật với thương binh, đăng ký chuyển đi, chuyểnđến, sao lục hồ sơ cho các đối tượng chính sách, xác nhận hộ nghèo); tàinguyên và môi trường (chuyển hình thức cho thuê đất sang giao đất có thutiền sử dụng đất; đăng ký chuyển mục đích sử dụng đối với trường hợpkhông phải xin phép; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổchức đang sử dụng đất, lực lượng vũ trang đang sử dụng đất vào mục đíchquốc phòng; đăng ký hoặc xoá đăng ký: cho thuê, thuê lại, thừa kế, tặngcho, thế chấp bảo lãnh, góp vốn quyền sử dụng đất; đăng ký nhận quyền sửdụng đất do xử lý hợp đồng thế chấp, bảo lãnh, góp vốn, kê biên bán đấu giáquyền sử dụng đất) ở các lĩnh vực khác các cơ quan chuyên môn căn cứ vàocông việc cụ thể tổ chức thực hiện tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế mộtcửa đối với tổ chức và công dân đến liên hệ giao dịch
Uỷ ban nhân dân cấp huyện thực hiện cơ chế “một cửa”, cơ chế
“một cửa liên thông” tại các lĩnh vực: đăng ký kinh doanh (cấp giấy
Trang 29chứng nhận đăng ký kinh doanh, thay đổi nội dung kinh doanh, đổi giấychứng nhận kinh doanh cho hộ kinh doanh cá thể); địa chính (chuyển đổiquyền sử dụng đất; chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cho thuê đất, chothuê lại đối với hộ gia đình và cá nhân; cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất); xây dựng, sửa chữa nhà ở (cấp giấy phép xây dựng mới nhà ở;cải tạo, sửa chữa mở rộng nhà ở hiện có; cải tạo, sửa chữa mở rộng nhà ởthuộc sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý hoặc nhà ở thuộc sở hữu tậpthể; cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở; cấp giấy chứng nhậnchuyển quyền sở hữu nhà ở; cấp giấy chứng nhận không còn bất độngsản); công chứng (chứng thực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụngđất; chứng nhận hợp đồng dân sự; chứng nhận uỷ quyền; xác nhận đơnxin thay đổi, cải chính hộ tịch); chính sách xã hội (cấp giấy chứng nhậnthương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ cho các đối tượng; cấp sổ hưởngchế độ trợ cấp đối với thương binh,gia đình liệt sỹ và người có công vớicách mạng; cấp giấy chứng nhận sử dụng hợp đồng lao động).
Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện cơ chế “một cửa” đối với các lĩnhvực: cấp giấy phép xây dựng nhà ở (cấp giấy phép xây dựng mới nhà ở;cải tạo, sửa chữa mở rộng nhà ở hiện có; cải tạo, sửa chữa mở rộng nhà ởthuộc sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý hoặc nhà ở thuộc sở hữu tậpthể); lĩnh vực đất đai thuộc thẩm quyền và trách nhiệm của UBND cấp xãgiải quyết các công việc: tiếp nhận các loại đơn,hồ sơ để chuyển choPhòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện giải quyết theo quy định.Xác nhận các trường hợp: đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụngđất về tình trạng tranh chấp đất đai đối với thửa đất; sự phù hợp của hiệntrạng sử dụng so với quy hoạch sử dụng; đơn xin giao đất, cho thuê đất.Chứng thực hợp đồng hoặc giấy tờ cho hộ gia đình, cá nhân đối với cáctrường hợp: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế,tặng cho, thế chấp, bảo lãnh góp vốn; hộ tịch: đăng ký khai sinh; đăng
ký kết hôn, đăng ký lại việc kết hôn; đăng ký khai tử và đăng ký lại việctử; đăng ký nhận nuôi con nuôi, đăng ký lại việc nhận nuôi con nuôi;đăng ký giám hộ; đăng ký việc thay đổi, chấm dứt giám hộ; đăng ký việcnhận cha, mẹ, con; điều chỉnh các sai sót trong các giấy tờ về hộ tịch (trừgiấy khai sinh); đăng ký việc thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dântộc; chứng thực: di chúc, văn bản từ chối di chúc, chứng thực chữ ký củacông dân Việt Nam trong các giấy tờ phục vụ cho việc thực hiện các giaodịch dân sự ở trong nước UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất chứngthực hợp đồng hoặc giấy tờ cho hộ gia đình, cá nhân đối với các trườnghợp: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng
Trang 30cho, thế chấp, bảo lãnh góp vốn, chứng nhận bản sao (8/2007 chuyển vềUBND cấp xã).
Quá trình triển khai thực hiện cơ chế “một cửa” tại các cấp chínhquyền của tỉnh Yên Bái đến nay đã đạt được những kết quả nhất định.Chất lượng giải quyết hồ sơ theo cơ chế “một cửa” cấp tỉnh đạt 100%;cấp huyện đạt 85%; cấp xã 80% theo yêu cầu Các cơ quan, đơn vị đãthực hiện bố trí nơi làm việc của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả cho tổchức và cá nhân đến giao dịch, niêm yết công khai các quy định thủ tục,phí, lệ phí cho từng loại công việc Cơ sở vật chất phục vụ cho bộ phậntiếp nhận và trả kết quả đã được các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
và một số cơ quan cấp tỉnh quan tâm trang bị, phục vụ thiết thực chocông tác chuyên môn Các công việc của các cấp chính quyền có liênquan đến tổ chức và công dân đã cơ bản được giải quyết theo cơ chế
“một cửa” Đối với tổ chức và công dân đến liên hệ công việc: giảm phiền
hà, giảm thời gian đi lại, tạo thuận lợi khi giải quyết công việc, tạo cơ chếthực hiện quyền giám sát quá trình giải quyết công việc của công chứcnhà nước Đối với cơ quan nhà nước: nâng cao dần chất lượng công vụ,hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; phân định rõ thẩm quyền, tráchnhiệm của cơ quan hành chính trong giải quyết công việc có liên quanđến tổ chức, công dân; phát huy được quy chế dân chủ, công khai tại địaphương Đối với đội ngũ cán bộ công chức: góp phần chống tệ quan liêu,cửa quyền, tham nhũng của một bộ phận cán bộ, công chức; nâng cao ýthức trách nhiệm và thái độ phục vụ của cán bộ, công chức trong giảiquyết công vụ, tránh hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm, tạo phong cáchlàm việc nền nếp, khoa học
Xác định công tác cải cách thủ tục hành chính tại các cấp chínhquyền là nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới, UBND tỉnh Yên Bái yêucầu lãnh đạo các cấp, thủ trưởng các cơ quan, đơn vị thực hiện một sốnội dung công việc cụ thể: tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra để pháthiện những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện cơ chế “mộtcửa” tại cơ quan, đơn vị; có biện pháp nâng cao chất lượng và hiệu quảhoạt động của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả Sơ kết, đánh giá côngtác thực hiện cơ chế “một cửa” tại các cấp chính quyền tìm ra những khókhăn, vướng mắc để đề xuất các biện pháp xử lý cho phù hợp với tìnhhình địa phương Tiếp tục rà soát thủ tục hành hành chính trên các lĩnhvực có liên quan đến giải quyết công việc đối với tổ chức và cá nhân ởcác cấp chính quyền để đưa vào thực hiện theo cơ chế “một cửa” Đối vớicác lĩnh vực đã thực hiện theo cơ chế “một cửa”, lãnh đạo các phòng
Trang 31chuyên môn nghiêm túc thực hiện sự phối kết hợp trong việc giải quyếtcông việc theo đúng thời gian quy định để bộ phận tiếp nhận và trả kếtquả thực hiện đúng trách nhiệm với tổ chức và công dân Việc niêm yếtcông khai các nội dung công việc, thủ tục về hồ sơ, quy trình giải quyết,thời gian giải quyết, phí, lệ phí phải được thực hiện đầy đủ tại bộ phậntiếp nhận và trả kết quả
Tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền về công tác CCHC, công khai hoánhững nội dung công việc được giải quyết theo cơ chế “một cửa”, trong
đó tập trung chủ yếu vào cấp chính quyền cơ sở xã, phường, thị trấnnhằm nâng cao nhận thức của người dân, làm rõ mục đích, yêu cầu việcthực hiện cơ chế “một cửa”, tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên hệ giảiquyết công việc của người dân nơi cư trú Công tác tập huấn, bồi dưỡngcho công chức tại bộ phận “một cửa” phải được đưa vào kế hoạch đàotạo bồi dưỡng hàng năm của tỉnh để nâng cao trình độ, cập nhật thôngtin liên quan đến nội dung giải quyết công việc tại bộ phận tiếp nhận vàtrả kết qủa; hàng năm sử dụng kinh phí thuộc ngân sách nhà nước hỗ trợcho việc thực hiện chương trình CCHC của tỉnh nói chung và triển khaithực hiện cơ chế một cửa của các cơ quan, đơn vị đạt hiệu quả cao vàthiết thực./
Trang 32NGHIÊN CỨU TRAO ĐỔI
QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ VẤN ĐỀ THU HÚT CÔNG CHỨC TÂM HUYẾT CỐNG HIẾN
THS PHẠM ĐỨC TOÀN
Văn phòng Bộ Nội vụ
hời gian gần đây, tình trạng “công chức nghỉ việc” là vấn đề thời sự,xuất hiện nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng Tuy sốlượng chưa nhiều so với tổng biên chế nhà nước, nhưng điều đáng quanngại là xu hướng này đang gia tăng và đa phần đối tượng chuyển rangoài khu vực công lại không nằm trong diện cần tinh giản Nhiều cán
bộ, công chức, viên chức (sau đây gọi tắt là công chức)(1) xin thôi việc cótrình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có kinh nghiệm công tác, khả năngcông nghệ thông tin tốt, sử dụng ngoại ngữ thành thạo Một số nguyênnhân, cả chủ quan và khách quan đã được phân tích, mổ xẻ trên nhiềudiễn đàn Chẳng hạn như: quá trình thực hiện nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng
mở ra nhiều cơ hội về nơi làm việc để người lao động lựa chọn, tạo nênnhững thách thức về cạnh tranh “chất xám” Các tổ chức, doanh nghiệptrong các khu vực ngoài nhà nước tìm nhiều cách thức linh hoạt để thuhút công chức có năng lực về làm việc Trong khi đó, khu vực công lạithiếu chính sách, giải pháp hiệu quả để xây dựng, phát triển nguồn nhânlực bền vững Chế độ đãi ngộ còn nhiều điểm bất hợp lý Mặc dù vấn đềthu nhập, tiền lương công chức chưa được coi là nguyên nhân quyết định,nhưng đây là điều kiện cần để công chức yên tâm cống hiến Công tác tổchức - cán bộ là chủ đề “nóng” được bàn luận nhiều Ở một số cơ quan,việc đánh giá, sử dụng, bổ nhiệm cán bộ còn chưa thực sự khoa học,thiếu công bằng; triển vọng, định hướng chức nghiệp không rõ do quyhoạch, kế hoạch bồi dưỡng, phát triển cán bộ còn mang tính hình thức;cung cách làm việc còn quan liêu, thiếu dân chủ; chính sách tôn vinhnghề nghiệp và công tác thi đua, biểu dương thành tích công tác chưathực chất; cơ chế quản lý cứng nhắc, hạn chế cơ hội cho người tài cốnghiến, khẳng định mình; trật tự pháp luật, kỷ luật hành chính chưanghiêm; thái độ, ứng xử trong tổ chức, đơn vị và với công dân còn chưađúng đắn gây ra tâm lý bức xúc, chán nản, thiếu gắn bó với côngviệc.v.v
T
Trang 33Hiển nhiên, công chức có thể đóng góp cho sự phát triển của đấtnước theo những cách thức khác nhau, phù hợp với từng hoàn cảnh, điềukiện cụ thể Việc công chức rời cơ quan nhà nước sang làm việc cho các
tổ chức khác là hiện tượng dịch chuyển các nguồn nhân lực xã hội, theoquy luật cung - cầu lao động trong nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, nếukhông thu hút được người tài và đa số công chức rời cơ quan là nhữngngười có năng lực thì đây là hiện tượng chảy máu chất xám, làm giảmhiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước Nếu số công chức tuyển dụngmới có nhiều người yếu kém về năng lực hoặc thiếu ý thức trách nhiệm,
ra nhập công vụ thiên vì mục đích tư lợi thì còn gây cản trở cho sự pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước Trong bối cảnh như vậy, các cơ quannhà nước phải thay đổi chế độ, chính sách của mình để cạnh tranh vớinhau và cạnh tranh với các doanh nghiệp, tổ chức ngoài khu vực nhànước nhằm có được nguồn nhân lực tốt nhất Công tác quản lý, phát triểnnguồn nhân lực ở tầm vĩ mô cũng cần đổi mới để thu hút, giữ chân vàđộng viên công chức tận tuỵ làm việc trong khu vực công Bên cạnh việccải cách chính sách tiền lương công chức, việc cải tiến môi trường côngtác để công chức hăng hái làm việc, phụng sự nhân dân, phục vụ pháttriển là một vấn đề đặc biệt quan trọng cần được xem xét nghiêm túc
Ở nhiều nước trên thế giới, những biến đổi về chính trị - kinh tế - xãhội, về khoa học - công nghệ, về hợp tác quốc tế, về quá trình mở rộngdân chủ hoá trong thời gian vài chục năm gần đây đã ảnh hưởng lớn đếnnhận thức của công chức cũng như phương thức, nội dung quản lý nguồnnhân lực Công chức - đối tượng của hoạt động quản lý có kiến thức baoquát hơn, trình độ chuyên môn sâu hơn, tiếp cận thông tin nhanh nhạyhơn, hiểu biết đầy đủ hơn về các quyền và nghĩa vụ của mình Hệ thốngcác quan niệm và giá trị cũng có nhiều thay đổi, nhu cầu cá nhân tănglên, các yếu tố quan hệ lao động ngày càng nhiều và đa dạng hơn, mốiliên kết giữa những con người trong cơ quan, trong hệ thống công vụ trởnên phức tạp hơn Các nội dung về “phát triển tổ chức”, kinh tế học, tâm
lý học, xã hội học và nhiều vấn đề văn hoá, phong tục tập quán được vậndụng để nâng cao hiệu quả công tác của cá nhân, của tập thể trong việcđạt được mục tiêu chung của cơ quan, đơn vị Nhiều cơ quan, học việncông vụ ở những quốc gia có nền hành chính phát triển đã và đang đi sâunghiên cứu hành vi con người trong tổ chức; tìm hiểu cái gì thu hút côngchức làm việc trong khu vực công; những giá trị nào thúc đẩy họ tudưỡng, nâng cao trình độ, cống hiến hết khả năng và vì sao họ lại đánhmất động lực công tác? Tuy nhiên, một số bộ, ngành, cơ quan trung ương
Trang 34và địa phương nước ta còn chưa thật chú trọng đến vai trò của công tácquản lý nguồn nhân lực khi xây dựng chiến lược phát triển tổng thể Côngtác này chưa trở thành một nội dung chính trong chương trình kế hoạchcông tác của nhiều cơ quan, đơn vị
Quản lý nguồn nhân lực bao gồm các hoạt động như: phân tíchcông việc, dự báo và hoạch định nhân lực; thu hút, tuyển dụng, đào tạo,bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực; quản trị nhân sự, đảm bảo chế độ,chính sách cán bộ; tạo môi trường, điều kiện làm việc khích lệ người côngchức tích cực công tác, gắn kết mục tiêu hoàn thành nhiệm vụ chung vớiviệc đáp ứng các nguyện vọng cá nhân Công tác này liên quan nhiềuđến nội dung thiết kế tổ chức, sắp xếp lao động và những giải pháp độngviên, thúc đẩy công chức không ngừng học tập nâng cao năng lực, nỗ lựclàm việc để đạt hiệu quả, năng suất cao nhất Về mặt lý thuyết, kháiniệm này tương đối trừu tượng Nhưng trên thực tế, ai cũng có thể quansát để nhận biết được các chính sách quản lý nguồn nhân lực của cơquan hay trong toàn hệ thống có tốt hay không Bản thân từng công chức
có thể cảm nhận được sự quan tâm, đối xử của tổ chức với mình (và đồngnghiệp mình) như thế nào Tựu trung lại, mục tiêu của các chính sáchnày là khai thác nguồn nhân lực để đạt kết quả công tác một cách tối ưu,giảm tối đa sự không hài lòng của công chức và thúc đẩy cả bộ máy liêntục phát triển Mục tiêu đó đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể đối với côngtác tổ chức - cán bộ Đó là: thường xuyên rà soát, điều chỉnh cơ cấu tổchức của bộ, ngành, cơ quan trong từng giai đoạn; nghiên cứu thị trườnglao động và phân tích, dự đoán về nhu cầu nhân sự trong tổ chức; đánhgiá, đo lường được mức độ hoàn thành nhiệm vụ, thái độ, tâm tư, mongmuốn, sự hài lòng về công việc của từng tập thể và cá nhân công chức;tham mưu xây dựng chiến lược quản lý, phát triển nguồn nhân lực nóichung và triển khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng, bồi dưỡng, phát triểncán bộ nói riêng
Yếu tố con người, vai trò cá nhân cũng cần được quan tâm nghiêncứu đúng mức hơn Công chức không chỉ đơn thuần là chủ thể thực thicông vụ mà còn đóng nhiều vai trò khác nhau trong các hoạt động chínhtrị - kinh tế - xã hội, trong việc bảo đảm các quyền và nghĩa vụ công dân,phải thực hiện trách nhiệm thành viên trong từng gia đình, cộng đồng, vàcũng là khách hàng, đối tượng thụ hưởng các dịch vụ công Mỗi cá nhântrong cơ quan, tổ chức lại có quan điểm, nhận thức, nhu cầu, nguyệnvọng, động cơ, năng lực, cư xử khác nhau Tuy không thể đáp ứng đầy đủcác đặc thù của mọi người nhưng cần tạo ra sự phù hợp của từng cá nhân
Trang 35đối với tổ chức, tạo ra sự liên kết, gắn bó, hợp tác giữa các công chức.Cần khai thác được tiềm năng, phát huy sở trường của người công chứctrong từng trường hợp cụ thể để kết hợp được tính chủ động, sáng tạocủa mỗi cá nhân với sức mạnh của cả tập thể Cán bộ lãnh đạo cầnthường xuyên quan tâm giải đáp các câu hỏi: hiện nay, điều gì khiếncông chức hăng say làm việc? Yếu tố nào đang khuyến khích, tạo độnglực cho họ phấn đấu, vươn lên? Đã có nhiều công trình nghiên cứu về nộidung này, nổi bật là lý thuyết về phân cấp các nhu cầu của AbrahamMaslow(2) Theo đó, nếu nhóm những nhu cầu cơ bản để duy trì cuộcsống con người chưa được thoả mãn ở mức độ cần thiết thì những nhucầu khác (được coi là cao cấp hơn) cũng khó khuyến khích được côngchức tâm huyết công tác Nhóm các nhu cầu về an toàn, ổn định nghềnghiệp, chế độ chính sách đãi ngộ thoả đáng, trang thiết bị làm việc tốtcũng rất quan trọng Sự hài lòng về các nhu cầu này giúp công chức yêntâm công tác, giảm thiểu những bất mãn, phản kháng ngầm trong cơquan, đơn vị Nhưng, động lực thúc đẩy công chức không ngừng phấnđấu vươn lên để đạt năng suất và hiệu quả công tác cao chính là việcthoả mãn nhóm nhu cầu về sự tiến bộ trong sự nghiệp, bao gồm các yếu
tố như: giao việc hợp lý, có tính thách thức để khẳng định năng lực; traoquyền đầy đủ gắn với trách nhiệm; ghi nhận thành tích công tác và đánhgiá sự trưởng thành một cách công khai, công bằng; trân trọng các ýtưởng sáng tạo, tạo cơ hội phát huy tài năng và thăng tiến Tuy nhiên,động lực làm việc của công chức còn phụ thuộc nhiều vào bầu không khí
tổ chức - mà thực chất, cũng bắt nguồn từ công tác tổ chức - cán bộ, baogồm một loạt các yếu tố như sự phù hợp về nhận thức, động cơ, tâmtrạng làm việc; sự hợp lý trong bố trí công tác; sự công bằng, dân chủtrong thực hiện chế độ, chính sách; sự gương mẫu của cán bộ lãnh đạo;
sự hài lòng về mức độ được tham gia vào các quá trình quản lý, về sựquan tâm đối xử của cơ quan đối với các cá nhân công chức, về sự hiểubiết, cảm thông lẫn nhau giữa các đồng nghiệp, về tinh thần làm việc tậpthể, về văn hoá công sở Do vậy, các cấp lãnh đạo cần cân bằng yếu tốcứng và mềm trong quản lý Đó là việc kết hợp nhịp nhàng giữa việc vậnhành một hệ thống các quy chế quản lý cán bộ, các quy trình giải quyếtcông việc khoa học, chặt chẽ với việc quan tâm tạo dựng môi trường làmviệc tích cực, bầu không khí gắn bó, hợp tác trong từng cơ quan, đơn vị
Đổi mới công tác quản lý nguồn nhân lực đang trở nên yêu cầu tấtyếu, khách quan Về lâu dài, cần đánh giá khách quan, toàn diện côngtác này để hoàn thiện hệ thống thể chế, pháp luật công chức - công vụ