Do mục đích thành lập xí nghiêp may 379- công ty may 3/2 là dạy nghề và giải quyết công ăn việc làm cho anh chị em thương binh, bệnh binh đã hoàn thành nhiêm vụ từ các chiến trường trở về nên đặc thù của đơn vị là sản xuất hành quân trang cho quốc phòng, dạy nghề và đào tạo công ăn việc làm cho anh chị em , luôn sẵn sang chiến đấu và phục vụ cho chiến đấu. Nhưng trong nên kinh tế đang sôi sục hiện nay, cơ chế thị trương ngày càng có tác động mạnh mẽ tới các doanh nghiệp sản xuất và nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng cao, để theo kịp với thời đại xí nghiệp còn sản xuất thêm một số hàng xuất khẩu, tuy theo đuổi thị trường quốc tế nhưng không bỏ qua thị trường trong nước và hiên nay hang may mặc của xí nghiệp đã có mặt khắp thị trường trong nước và một số thị trường EU. Bên cạnh đó xí nghiệp còn nhân gia công hộ cho các đơn vị bên ngoài để tạo thêm công ăn việc làm cho công nhân, tăng thêm thu nhập cho công nhân và cũng đồng thời tăng thêm một phần doanh thu cho doanh nghiệp.
Trang 1LOI NOI DAU
Mỗi xã hội không thể tôn tại và phát triển nếu như không có hoạt động sản xuất Trong qúa trình tái sản xuất xã hội, hoạt động sản xuất được coi là khâu
cơ bản nhất, nó tạo ra những sản phẩm để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của xã hội Nếu như trước đây khi nền kinh tế nước ta còn trong cơ chế tập trung bao cấp, việc xác định sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào?sản xuất cho ai?không được chú trọng nhiều lắm, nhất là ở các doanh nghiệp nhà nước nơi chỉ chuyên sản xuất theo kế hoạch của nhà nước giao Từ sau Đại Hội Đảng lân thứ VII nên kinh tế nước ta đã có nhiều bước chuyển đổi to lớn, sang nên kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước Thực
tế những năm qua cho thấy, đây là một mô hình kinh tế năng và có hiệu quả trong cơ chế này doanh nghiệp được toàn quyền chủ động về mặt hàng sản xuất kinh doanh (mặt hàng, qui trình sản xuất, thị trường tiêu thụ ),bên cạnh
đó doanh nghiệp cũng gặp không ít khó khăn (những biến động của thị trường trong nước và quốc tế,sự cạnh tranh say sốt,sự hạn hẹp về vốn .) không ít các doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp Nhà nước Bấy lâu nay được nhà nước bao cấp, vì không đứng vững được trước những khó khăn dẫn đến đình trệ sản xuất và cuối cùng lâm vào tình trạng phá sản Tinh hình trên buộc các doanh nghiệp luôn phải tính toán làm thế nào để đẩy mạnh sản xuất và kinh doanh có lãi; Mà một trong các phương án quan trọng có ý nghĩa tiến quyết là hợp lý hoá CPSX và hạ giá thành sản phẩm ,điểu này đòi hỏi doanh nghiệp phải có biện pháp hợp lý và sử dụng hợp lý vật tư, lao động ,tiền vốn, thiết bị máy móc .Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn khi mà các mặt hàng dua ra thị trường phải đáp ứng không đơn thuần chủ là chất lượng ,độ tiện dụng .mà còn giá cả nữa ,doanh nghiệp thật không dễ tự tiện tăng giá hàng bán , tất yếu để tăng lợi nhuận cần tiết kiệm chỉ phí sản xuất ,hạ giá thành sản phẩm Việc hợp lý chỉ phí sản xuất tạo điều kiện tính đúng tính đủ giá thành sản phẩm Chỉ tiêu giá thành sản phẩm là cơ sở sác định kết quả sản xuất kinh doanh , xác định mức tích luỹ của doanh nghiệp Tiết kiệm CPSX hạ gía thành sản phẩm có ý nghĩa to lớn đối với việc tăng tích luỹ của doanh nghiệp ,hâng cao đời sống của người lao động củng cố thế mạnh và đẩy nhanh sự
Trang 2phát triển của doanh nghiệp ,nhất là đối với các doanh nghiệp ,vưa và nhỏ ngắn vốn
Hiểu biết ý nghĩa của CPSX và giá thành sản phẩm càng tháý việc hoạch toán CPSX và tính giá thành sản phẩm không chỉ còn là cần thiết mà còn cực
kỳ quan trọng , đó là cơ sở giúp cho việc đánh giá và phân tích tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh giúp cho nhà lãnh đạo doanh nghiệp có biện pháp cải tiến tổ chức quản lý , tổ chức sản xuất nhằm tiết kiệm CPSX hạ giá thành sản phẩm , vừa tăng cường quản trị doanh nghiệp vừa giúp cho việc quản lý vĩ mô của nhà nước
Nhận biêt được tâm quan trọng cũng như tính bức xúc của vấn đề trong thời gian thực tập tại Xí nghiệp may 379-công ty may 3/2, vận dụng những kiến thức đã được trang bị trong nhà trường , cùng với sự hướng dẫn ti mi chu đáo của thầy giáo Nguyễn Vũ Việt , cũng như sự giúp đố tận tinh cua Xi nghiệp may 379-công ty may3/2, em xin duoc di sdu từn hiểu nghiên cứu đề tài “Hạch toán CPSX và tính giá thành sản phẩm của phân xưởng II Xí nghiệp may 379-công ty may3/2”
Chuyên đề này bao gồm:
Chương ï : Lý luận chung về hạch toán CPSX và tính giá thành sản phẩm
ở các doanh nghiệp công nghiệp
Chương lI : Thực trạng công tác hạch toán CPSX và tính giá thành san phẩm tại Xí nghiệp may 379-công ty may3/2
Chương HII : Những biện pháp,phương hướng nhằm hoàn thiện công tác hạch toán chỉ phí sản xuất và tính giá thành tại Xí nghiệp may 370-công ty may 3/2
Do trình độ hiểu biết cũng như thời gian thực tập có hạn nên bài viết không thể tránh khỏi còn nhiều thiếu sót vì vậy em rất mong được sự giúp đỡ các thầy cô giáo cũng như sự góp ý của bạn đọc để bài viết này được hoàn thiện hơn nữa
Em xin chân thành cảm ơn
Sinh viên : Phan huy Quang
Trang 3Chuong I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
SẢN XUẤT
1.1.SỰ CẦN THIẾT CỦA CÔNG TÁC TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ
SAN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
Trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, các doanh nghiệp với tư cách là chủ thể kinh tế, được tự chủ trong các hoạt động sản xuất kinh doanh Chính vì thế, doanh nghiệp phải tự quyết định sản xuất cái gì ? sản xuất như thế nào ? sản xuất cho ai ? Từ đó đòi hỏi doanh nghiệp cần phải đưa ra thị trường những sản phẩm có tính cạnh tranh cao về giá cả, chất lượng
và phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng Để làm được điều này ngoài việc nắm bắt thị hiếu người tiêu dùng, doanh nghiệp cần phải có biện pháp tiết kiệm chỉ phí và hạ giá thành sản phẩm
Trong doanh nghiệp sản xuất chi phí sản xuất chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí kinh doanh Chi phí sản xuất kinh doanh quy định đến giá thành sản phẩm đầu ra bởi vậy sử dụng chi phí hiệu quả sẽ hạ được giá thành sản phẩm Hạ giá thành sản phẩm mang lại nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp, đây chính là mục tiêu mà các doanh nghiệp luôn hướng tới Bởi vậy công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là vô cùng quan trọng, đòi hỏi kế toán phải tập hợp đầy đủ, kịp thời và chính xác các khoản chi phí phát sinh để tính đúng, tính đủ giá thành sản phẩm
Việc xác định tổng và chi phí đơn vị cho một sản phẩm giúp nhà quản lý xác định được điểm hoà vốn Đây là tài liệu quan trọng giúp doanh nghiệp lên
kế hoạch sản xuất và tiêu thụ nhằm đạt lợi nhuận mong muốn và đưa ra những quyết định quan trọng khác trong quá trình điều hành doanh nghiệp
Trang 4Mặt khác trên co sở tập hop chi phi theo những tiêu thức nhất định giúp doanh nghiệp đi sâu phân tích sự biến động và tìm hiểu nguyên nhân gây biến động đối với từng khoản mục chi phí, từ đó đưa ra các biện pháp nhằm tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm Bên cạnh đó số liệu về chi phi sản xuất
và giá thành sản phẩm đã được tập hợp từ kỳ trước là tài liệu để lập kế hoạch chi phí sản xuất và giá thành trong kỳ tới
Như vậy, công các kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là một tất yếu của chế độ hạch toán kinh tế, là khâu trọng tâm của toàn
bộ công tác kế toán trong doanh nghiệp sản xuất
1.1.1 Khái niệm, bản chất chỉ phí và giá thành sản phẩm
e Khái niệm, bản chát chỉ phí
Chi phí sản xuất là toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hóa
và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp phải chi ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, biểu hiện bằng tiền và tính cho một thời kỳ nhất định
Trong đó chỉ phí về lao động vật hóa là các chi phí về tư liệu lao động và đối tượng lao động như: chi phí khấu hao tư liệu lao động, chi phí tiêu hao nguyên vật liệu Còn chi phí về lao động sống chính là chi phí về sức lao động được biểu hiện ra là chi phí về tiền lương phải trả cho người lao động Chi phí sản xuất của doanh nghiệp phát sinh thường xuyên và gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm nhưng để phục vụ cho quản lý và hạch toán kinh doanh, chi phí sản xuất phải được tính toán và tập hợp theo từng thời kỳ: tháng, quý, năm phù hợp với kỳ báo cáo Chỉ những chi phí sản xuất mà doanh nghiệp bỏ ra trong kỳ mới được tính vào chi phí sản xuất trong kỳ
Thực chất chỉ phí sản xuất ở các doanh nghiệp là quá trình chuyển dịch vốn của doanh nghiệp vào đối tượng tính giá nhất định, nó là vốn của doanh nghiệp bỏ vào qúa trình sản xuất kinh doanh
e_ Khái niệm giá thành sản phẩm
Trang 5Giá thành sản phẩm (công việc, lao vụ) là chi phí sản xuất tính cho một khối lượng hoặc một đơn vị sản phẩm (công việc, lao vụ) do doanh nghiệp sản xuất hoàn thành
Giá thành sản phẩm được tính theo từng loại sản phẩm cụ thể hoàn thành (theo từng đối tượng tính giá thành) và chỉ tính cho những sản phẩm đã hoàn thành toàn bộ quy trình sản xuất, tức là thành phẩm hoặc hoàn thành một số giai đoạn công nghệ sản xuất nhất định (bán thành phẩm)
Giá thành là sự dịch chuyển giá trị của các yếu tố chi phí vào sản phẩm (công việc, lao vụ) đã hoàn thành Giá thành sản phẩm có hai chức năng chủ yếu là chức năng thước đo bù đắp chi phí và chức năng lập giá
1.1.2 Yêu cầu quản lý chỉ phí và tính giá thành
Giá thành là một chỉ tiêu chất lượng chủ yếu phản ánh kết quả hoạt động sản xuất của doanh nghiệp Trong doanh nghiệp việc hạ giá thành mà vẫn đảm bảo chất lượng mang lại lợi nhuận cao, còn đối với xã hội thì việc hạ giá thành
là nguồn tích luỹ chủ yếu của nền kinh tế
Tính đúng là yêu cầu cơ bản của hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Các doanh nghiệp cần tăng cường công tác quản ly chi phi sản xuất và tính giá thành sản phẩm, coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác quản lý ở doanh nghiệp Như vậy, nhiệm vụ chủ yếu đặt ra cho doanh nghiệp là xác định hợp lý đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
và đối tượng tính giá thành phù hợp với đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất, tổ chức quản lý, thỏa mãn các yêu cầu quản lý đặt ra, vận dụng phương
pháp tập hop chi phí hợp lý nhất, tổ chức hạch toán theo một trình tự logic,
tính toán chính xác đây đủ, kiểm tra các khâu hạch toán khác nhau như : nguyên vật liệu, TSCĐ Xác định số liệu cần thiết cho việc tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, cụ thể :
-Kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất ở từng bộ phận sản xuất trong doanh nghiệp
Trang 6-Ghi chép, phản ánh đầy đủ, chính xác kịp thời moi chi phi phat sinh trong quá trình sản xuất Phát hiện sự tiết kiệm hay lãng phí ở khâu nào để có biện pháp xử lý phù hợp
-Kiểm tra việc thực hiện các định mức tiêu hao NVL, kỹ thuật dự toán chi phí phục vụ quản lý sản xuất nhằm thúc đẩy việc sử dụng tiết kiệm, hợp lý mọi chi phí cho quá trình sản xuất
-Kiểm tra tình hình thực hiện nhiệm vụ hạ giá thành
1.1.3.Nhiệm vụ kế toán tập hợp chỉ phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Đề tổ chức tốt công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, kế toán cần thực hiện các nhiệm vụ sau :
-Xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành phù hợp với đặc điểm và yêu cầu quản lý doanh nghiệp
-Tổ chức vận dụng các tài khoản kế toán để hạch toán chỉ phí sản xuất và giá thành sản phẩm phù hợp với phương pháp kế toán hàng tồn kho mà doanh nghiệp đã lựa chọn
-Tổ chức tập hợp, kết chuyển hoặc phân bổ chi phí sản xuất theo đúng đối tượng kế toán tap hop chi phí sản xuất đã xác định, theo các yếu tố chi phí và khoản mục giá thành
-Lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố( trên thuyết minh báo cáo tai chính )định kỳ tổ chức phân tích chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở doanh nghiệp
-Tổ chức kiểm kê và đánh giá khôi lượng sản phẩm làm dở khoa học hợp
lý, xác định giá thành và hạch toán giá thành sản phẩm hoàn thành sản xuất trong kỳ một các đầy đủ chính xác
1.2 Phân loại chỉ phí sản xuất và giá thành
Trong doanh nghiệp sản xuất, chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại, mỗi loại có nội dung kinh tế và công dụng khác nhau trong quá trình sản xuất Để thuận tiện cho công tác quản lý, hạch toán, kiểm tra chi phí cũng như phục vụ
Trang 7cho việc ra các quyết định kinh doanh, chi phi sản xuất kinh doanh cần phải được phân loại theo những tiêu thức thích hợp
1.2.1.Phân loại chỉ phí sản xuất
1.2.1.1 Phân loại chỉ phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chỉ phí
Theo cách phân loại này, căn cứ vào tính chất, tính chất kinh tế của chi phi sản xuất khác nhau để chia ra các yếu tố chi phí, mỗi yếu tố chi phí bao gồm những chi phí có cùng một nội dung kinh tế, không phân biệt chi phí đó phát sinh ở lĩnh vực hoạt động nào Vì vậy, cách phân loại này còn được gọi là phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố Toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành các yếu tố sau:
Chi phí nguyên vật liệu: Bao gồm toàn bộ chi phí về nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ mà doanh nghiệp sử dụng trong quá trình sản xuất
Chi phí nhân công: Bao gồm toàn bộ số tiền lương phải trả, phụ cấp và các khoản trích theo lương(BHXH, BHYT, KPCĐ) của công nhân hoạt động sản xuất trong doanh nghiệp
Chi phí khấu hao TSCĐ: Bao gồm toàn bộ số tiền khấu hao TSCĐ sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm toàn bộ số tiền phải trả cho các dich vu mua ngoài phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như tiền điện, tiền điện thoại, tiền nước
Chi phí bằng tiền:Bao gồm toàn bộ các chi phí khác dùng cho hoạt động sản xuất ngoài 4 yếu tố chi phí kể trên
Cách phân loại này có ý nghĩa rất quan trọng trong quản trị doanh nghiép Thông qua cách phân loại này người ta có thể biết trong quá trình sản xuât doanh nghiệp đã phải chi phí gì, để từ đó xác định tỷ trọng, kết cấu từng yếu
tố chi phí Nó là cơ sở để doanh nghiệp lập kế hoạch cung cấp vật tư, lao động, tiền vốn cho các kỳ sản xuất tiếp theo Nó còn là cơ sở để lập thuyết
Trang 8minh báo cáo tài chính phục vụ cho việc cung cấp thông tin cho các nhà quản tri
1.2.1.2.Phan loai chi phí sản xuất theo mục đích, công dụng của chỉ phí Mỗi yếu tố chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ đều có mục đích, công dụng nhất định đối với hoạt động sản xuất Theo cách phân loại này người ta căn cứ vào mục đích công dụng của chi phí trong sản xuất để chia ra các khoản mục chỉ phí sản xuất khác nhau, mỗi khoản mục chỉ bao gồm những chi phí có cùng mục đích, công dụng Vì vậy cách phân loại này còn gọi là phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục Toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ được chia ra các khoản mục sau:
-Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm chi phí về các loại nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng trực tiếp vào sản xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện công việc, lao vụ
-Chi phi nhân công trực tiếp: Bao gồm chỉ phí về tiền lương, phụ cấp, các khoản trích theo lương(BHXH, BHYT, KPCĐ) của công nhân trực tiếp sản xuất
-CHi phí sản xuất chung: Là toàn bộ chi phí dùng vào việc quản lý và phục
vụ sản xuất tại bộ phận sản xuất( phân xưởng, tổ đội) bao gồm các khoản mục chi phí sau:
+ Chi phí nhân viên phân xưởng: Bao gồm chi phí về tiền lương, phụ cấp và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý, nhân viên kinh tế tại phân xưởng sản xuất
+ Chi phí vật liệu: Bao gồm vật liệu các loại dùng cho nhu cầu sản xuất chung tại phân xưởng (tổ, đội) sản xuất
+ Chi phí dụng cụ sản xuất: Là chi phí về dụng cụ, công cụ dùng cho nhu cầu sản xuất chung tại phân xưởng( tổ, đội) sản xuất
+ Chi phí khấu hao TSCĐ: Bao gồm toàn bộ số tiền trích khấu hao của TSCĐ hữu hình, vô hình, TSCĐ thuê tài chính sử dụng ở phân xưởng( tổ, đội) sản
xuất
Trang 9+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Bao gồm các khoản chi về dịch vụ mua ngoài, thuê ngoài để sử dụng cho nhu cầu sản xuất chung ở phân xưởng( tổ, đội) sản xuất
+ Chi phi bang tiền khác: Bao gồm các khoản chi phí về dịch vụ mua ngoài, thuê ngoài để sử dụng cho nhu cầu sản xuất chung ở phân xưởng( tổ, đội) sản xuất
Phân loại chi phí sản xuất theo cách này có tác dụng cho yêu cầu quản lý chi phi theo định mức, cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm, phân tích tình hình thực hiện giá thành, làm tài liệu tham khảo để lập định mức chi phí sản xuất và lập kế hoạch giá thành cho kỳ sau
1.2.1.3.Phản loại chỉ phí sản xuất theo phương pháp tập hợp chỉ phí sản xuất và mối quan hệ với đối tượng tập hợp chỉ phí
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất của doanh nghiệp được chia thành:
- Chi phí trực tiếp : Là các chi phi có liên quan trực tiếp đến một đối tượng tập hợp chỉ phí, loại sản phẩm hoặc một công việc có thể quy nạp trực tiếp cho sản phẩm, đối tượng tập hợp chi phí đó
- Chi phí gián tiếp : Là những chỉ phí có liên quan đến nhiều sản phẩm, nhiều đối tượng tập hợp chi phí, nhiều công việc, lao vụ khác nhau nên phải tập hợp, quy nạp cho từng đối tượng theo phương pháp phân bổ gián tiếp
Cách phân loại này giúp ích rất nhiều trong kỹ thuật hạch toán Trong quá trình tập hop chi phí sản xuất, nếu phát sinh chi phí gián tiếp kế toán phải chú
ý lựa chọn tiêu thức phân bổ đúng đắn hợp lý để có được thông tin chân thực, chính xác về chi phí và lợi nhuận của từng loại sản phẩm, từng địa điểm phát sinh chi phi
1.2.1.4.Phản loại chỉ phí theo mối quan hệ với khối lượng sản phẩm sản xuất
Theo cách phân loại này chi phí sản xuất được chia thành chi phí khả biến, chi phí bất biến và chi phi hỗn hợp
Trang 10- Chi phi kha bién (chi phi bién d6i) : Là những chi phí thay đổi theo số lượng sản phẩm sản xuất ra
- Chi phí bất biến ( chi phí cố định) :Là những chi phí không thay đổi về tổng
số khi số lượng sản phẩm sản xuất thay đổi
- Chi phí hỗn hợp : Là loại chi phí mà bản thân nó bao gồm cả yếu tố của chi phí bất biến và chi phi kha biến
Cách phân loại này có tác dụng lớn đối với nhà quản trị trong việc xây dựng mối quan hệ giữa chi phí- khối lượng- lợi nhuận, là căn cứ để xác định điểm hòa vốn từ đó có những quyết định đúng đắn trong ngắn hạn Ngoài ra, việc xác định đúng đắn chi phí bất biến, chi phí khả biến trong doanh nghiệp
sẽ giúp nhà quản lý su dụng chi phí hiệu quả hơn
1.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm
Việc phân loại giá thành giúp cho kế toán nghiên cứu và quản lý tốt giá thành sản phẩm Dựa trên các tiêu thức khác nhau mà ta có thể phân giá thành thành các loại khác nhau
1.2.2.1.Phân loạt giá thành theo phạm vì tính toán
Căn cứ vào phạm vi tính toán, giá thành được chia thành hai loại:
- Giá thành sản xuất (còn gọi là giá thành công xưởng): Bao gồm chi phi nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung tính cho công việc hoặc lao vụ đã hoàn thành Giá thành sản xuất của doanh nghiệp là căn cứ tính giá vốn hàng bán và lãi gộp ở các doanh nghiệp sản xuất
- Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ: Bao gồm toàn bộ giá thành sản xuất sản phẩm cộng thêm chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp phan
bổ cho sản phẩm đã tiêu thụ
Giá thành toàn Giá thành sản xuất Chi phi BH, chi phi
Trang 11Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ chỉ được xác định và tính toán khi sản phẩm đã được xác nhận là đã tiêu thụ Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ là căn cứ để tính toán, xác định mức lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp
1.2.2.2 Phân loại giá thành theo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành Theo cách phân loại này giá thành được chia thành 3 loại:
- Giá thành kế hoạch : Việc tính toán, xác định giá thành kế hoạch sản phẩm
do bộ phận kế hoạch của doanh nghiệp thực hiện và được tiến hành trước khi tiến hành quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm Giá thành kế hoạch được tính trên cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch Nó được xem như mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là cơ sở để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành của doanh nghiệp
- Giá thành định mức : Cũng giống như giá thành kế hoạch, giá thành định mức cũng được xác định trước khi tiến hành sản xuất, chế tạo sản phẩm, dựa trên cơ sở các định mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho một đơn vị sản phẩm Giá thành định mức là công cụ quản lý định mức của doanh nghiệp, là thước đo chính xác để xác định kết quả sử dụng vật tư, tài sản, lao động trong sản xuất
- Giá thành thực tế : Là giá thành được tính trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất thực tế đã phát sinh và tập hợp được trong kỳ cũng như sản lượng sản phẩm thực tế đã sản xuất trong kỳ Giá thành thực tế chỉ có thể tính được sau khi kết thúc quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm và được tính toán cho cả chỉ tiêu tổng giá thành và giá thành đơn vị Giá thành thực tế là chỉ tiêu tổng hợp, phản ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong đó việc tổ chức và sử dụng các giải pháp kinh tế- kỹ thuật- tổ chức và công nghệ để thực hiện quá trình sản xuất sản phẩm, là cơ sở để xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nghia vu của doanh nghiệp đối với Nhà nước cũng như các đối tác liên doanh liên kết
1.2.3.Mối quan hệ giữa chỉ phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Trang 12Về bản chất, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai khái niệm giống nhau : chúng đều là các hao phí về lao động và các chi phí khác của doanh nghiệp Tuy vậy, giữa chúng có những điểm khác nhau trên một số phương diện sau ;
- Về phạm vi, thời gian : Chi phí sản xuất cấu thành nên giá thành sản phẩm nhưng không phải tất cả các chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ đều được tính vào giá thành sản phẩm trong kỳ Giá thành sản phẩm biểu hiện lượng chỉ phí
mà doanh nghiệp phải chi ra để hoàn thành một đơn vị sản phẩm nhất định, con chi phi san xuất thể hiện số chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong kỳ Như vậy giá thành và chi phí sản xuất là hai mặt của một quá trình hoạt động sản xuất của doanh nghiệp
- Về mặt lượng : Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có thể khác nhau khi có sản phẩm dở dang đầu kỳ hoặc cuối kỳ Cụ thể : chi phí sản xuất bao gồm toàn bộ chỉ phí sản xuất sản phẩm hoàn thành, sản phẩm làm đở còn giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chỉ phí liên quan đến sản phẩm hoàn thành, nó bao gồm cả chi phí kỳ trước chuyển sang và không bao gồm chi phí của sản phẩm làm đở cuối kỳ
phẩm đâu kỳ kỳ dở cuối kỳ
1.3 Tổ chức kế toán chỉ phí sản xuất trong doanh nghiệp
1.3.1.Đối tượng và phương pháp kế toán tập hợp chỉ phí sản xuất
e Đối tượng tập hợp chỉ phí sản xuất
Đối tượng kế toán tập hợp chỉ phí sản xuất là phạm vi, giới hạn để tập hợp chi phí sản xuất phát sinh nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm soát chi phí và tính giá thành sản phẩm
Giới hạn ( hoặc phạm vi ) để tập hợp chỉ phí sản xuất có thể là :
Trang 13- Địa điểm phát sinh chi phí : phân xưởng, đội trại sản xuất, bộ phận chức
-Đặc điểm và công dụng của chỉ phí trong quá trình sản xuất
-Đặc điểm cơ cấu tổ chức sản xuất của doanh nghiệp
-Quy trình công nghệ sản xuất, chế tạo sản phẩm
-Đặc điểm của sản phẩm ( đặc điểm kỹ thuật, đặc điểm sử dụng ) của doanh nghiệp
- Yêu cầu tính giá thành theo các đối tượng tính giá thành
e Phương pháp tập hợp chỉ phí sản xuất trong doanh nghiệp
Tuỳ thuộc vào khả năng quy nạp chi phí vào các đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất, kế toán sẽ áp dụng phương pháp tập hợp chi phí sản xuất một cách thích hợp
+ Phương pháp tập hợp trực tiếp :
Phương pháp này áp dụng đối với các chi phí có liên quan trực tiếp
đến đối tượng kế toán tập hợp chi phí đã xác định, công tác hạch toán, ghi chép ban đầu cho phép quy nạp trực tiếp các chi phí này vào tưng đối tượng kế toán tập hợp chị phí liên quan
+ Phương pháp phân bổ gián tiếp :
Phương pháp này được áp dụng khi một loại chi phí liên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất Trong trường hợp này phải lựa chọn tiêu chuẩn hợp lý để tiến hành phân bổ chi phí cho các đối tượng liên quan theo công thức :
Trang 14Ci = Le x Ti
> Ti i=l
Trong đó :
C¡ : chi phí sản xuất phân bổ cho đối tượng thứ ¡
5C : tổng chi phí sản xuất đã tập hợp cần phân bổ
Ti : tổng đại lượng của tiêu chuẩn dùng để phân bổ
ial
Ti : đại lượng của tiêu chuẩn dùng để phân bổ của đối tượng 1
1.3.2.Phương pháp kế toán tập hợp chỉ phí sản xuất
1.3.2.1 Tài khoản sử dụng
- TK 154 : “ Chi phí sản xuất kinh doanh đở dang “ được sử dụng để tập hợp toàn bộ chi phí sản xuất trong kỳ liên quan đến chế tạo sản xuất, phục vụ tính giá thành sản phẩm ( trường hợp doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thương xuyên )
- TK 631 : “ Giá thành sản xuất “ được sử dụng để phản ánh tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm dịch vụ ở các đơn vị sản xuất và các đơn vị kinh doanh dịch vụ ( trong trường hợp doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ )
- TK 621 : “ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp “ được sử dụng để tập hợp va kết chuyển toàn bộ chi phí NVL sử dụng trực tiếp cho sản xuất vào TK 154 (phương pháp kê khai thường xuyên) hoặc vào TK 631(phương pháp kiểm kê định kỳ)
- TK 622 : “Chi phí nhân công trực tiếp “ được sử dụng để tập hợp và kết chuyển toàn bộ chi phí nhân công sử dụng trực tiếp cho sản xuất vào TK 154 (phương pháp kê khai thường xuyên) hoặc vào TK 631(phương pháp kiểm kê định kỳ)
- TK 627 : “Chi phí sản xuất chung” được sử dụng để tập hợp và kết chuyển các chỉ phí liên quan đến việc phục vụ quản lý sản xuất, chế tạo sản phẩm ở phân xưởng ( tổ, đội ) sản xuất vào TK 154 (phương pháp kê khai
Trang 15thường xuyên) hoặc vào TK 631(phương pháp kiểm kê định kỳ) Nó bao gồm
6 tiểu khoản sau :
+ TK 6271 : Chi phí nhân viên phân xưởng
+ TK 6272 : Chi phí vật liệu
+ TK 6273 : Chi phí công cụ, dụng cụ sản xuất
+ TK 6274 : Chi phí khấu hao TSCĐ
+ TK 6277 : Chi phí dịch vụ mua ngoài
+ TK 6278 : Chi phí bằng tiền khác
Ngoài ra kế toán còn sử dụng các tài khoản liên quan khác như TK 152,
153, 155, 632
1.3.2.2 Trình tự kế toán tập hợp chỉ phí sản xuất
1.3.2.2.1 Kế toán chỉ phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm : Chi phí về các loại nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, công cụ, dụng cụ dùng trực tiếp cho sản xuất, chế tạo sản phẩm Trường hợp doanh nghiệp mua nửa thành phẩm để gia công, lắp ráp thêm thì cũng được hạch toán vào chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Việc tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp vào đối tượng có thể tiến hành theo phương pháp trực tiếp hoặc phân bổ gián tiếp
Đối với những nguyên vật liệu khi xuất dùng có liên quan trực tiếp đến từng đối tượng tập hợp chi phí riêng biệt (phân xưởng, sản phẩm, lao vụ ) thì hạch toán trực tiếp cho đối tượng đó
Trường hợp nguyên vật liệu xuất dùng có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí, không thể tổ chức hạch toán riêng được thì phải phân bổ gián tiếp để phân bổ cho các đối tượng có liên quan Tiêu thức phân bổ thường được sử dụng là định mức tiêu hao, hệ số, trọng lượng, số lượng sản phẩm Công thức phân bổ :
Chi phí vật liệu phân Tổng chi phi vat Tỷ lệ (hay hệ số)
bổ cho từng đối tượng liệu cần phânbổ x phân bổ
Trang 16NVLtruc = cònlạiđầukỳ + NVLxuất - NVLcòn - phế liệu tiếp trong ở địa điểm SX dùng trong lại cuối kỳ thu hồi
Để theo đõi các khoản chi phí nguyên vật liệu, kế toán sử dụng TK 621
“Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp” TK 621 không có số dư và được mở chi tiết cho từng đối tượng hạch toán chi phi
Trang 17Sơ đồ kế toán chỉ phí NVL trực tiếp
1.3.2.2.2 Kế toán chỉ phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp là các khoản tiền phải trả, phải thanh toán cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm bao gồm : lương chính, lương phụ, phụ cấp, các khoản trích theo lương ( BHXH, BHYT, KPCĐ )
Về nguyên tắc, chi phí nhân công trực tiếp cũng được tập hợp giống như đối với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Trường hợp cần phân bổ gián tiếp thì tiêu thức phân bổ thường được lựa chọn là : Chi phí tiền công định mức (hoặc
kế hoạch ), giờ công định mức, giờ công thực tế, khối lượng sản phẩm sản xuất .(Việc phân bổ chủ yếu đối với các khoản như : Tiền lương phụ, các khoản phụ cấp hoặc tiền lương theo thời gian của công trình sản xuất thực hiện nhiều công tác khác nhau trong ngày )
Việc tính toán, phân bổ chi phí nhân công trực tiếp được phản ánh ở Bảng phân bổ tiền lương và các khoản trích theo lương
Để theo dõi chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng TK 622 “Chi phí nhân công trực tiếp” TK 622 không có số dư và được mở chi tiết theo từng đối tượng hạch toán chi phí
Trang 18Sơ đồ kế toán chỉ phí nhân công trực tiếp
Trang 191.3.2.2.3.Kế toán chỉ phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là các chi phí liên quan đến phục vụ quản lý sản xuất trong phạm vi phân xưởng (tổ, đội, ) sản xuất Các chi phí sản xuất chung thường được hạch toán chi tiết riêng theo từng địa điểm phát sinh chỉ phí sau đó mới tiến hành phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí liên quan
Theo chuẩn mực kế toán ban hanh theo QD s6 149/2001/QD - BTC va thông tư hướng dẫn số 89/2002/TT - BTC về Hàng tồn kho, chi phi sản xuất chung có hai loại :
- Chi phí sản xuất chung biến đổi : là những chi phí sản xuất gián tiếp, thường thay đổi trực tiếp hoặc gần như trực tiếp theo số lượng sản phẩm sản xuất, như chi phí nguyên vật liệu gián tiếp, chi phí nhân công gián tiếp Nó được phân bổ hết cho mỗi đơn vị sản phẩm theo chi phí thực tế phát sinh
- Chi phí sản xuất chung cố định : là những chi phí sản xuất gián tiếp, thường không thay đổi theo số lượng sản phẩm sản xuất như chỉ phí khấu hao, chi phí bảo dưỡng máy móc thiết bị, Nó được phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị sản phẩm dựa trên công suất bình thường của máy móc sản xuất
+ Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra thấp hơn công suất bình thường thì chi phí sản xuất chung cố định chỉ được phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị sản phẩm theo mức công suất bình thường Khoản chi phí sản xuất chung không được phân bổ được ghi nhận vào giá vốn hàng bán trong kỳ
+ Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra cao hơn công suất bình thường thì chi phí sản xuất chung cố định được phân bổ cho mỗi đơn vị sản phẩm theo chi phí thực tế phát sinh
Trang 20
Để theo dõi các khoản chi phí sản xuất chung kế toán sử dụng tài khoản
627 “ Chi phí sản xuất chung ”
Sơ đồ hạch toán chỉ phí sản xuất chung
Trang 211.3.2.2.4 Kế toán tập hợp chỉ phí toàn doanh nghiệp
- Trường hợp doanh nghiệp kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên
Việc tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản xuất được thể hiện qua
so dé sau:
Trang 221.4 TO CHUC CONG TAC TINH GIA THANH SAN PHAM TRONG
DOANH NGHIEP SAN XUAT
1.4.1.Đối tượng tính giá thành sản phẩm
1.4.1.1.Đốt tượng tính giá thành, kỳ tính giá thành
e Đối tượng tính giá thành :
Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm, công việc, lao vụ doanh nghiệp sản xuất, chế tạo và thực hiện cần được tính tổng giá thành và giá thành đơn vị
Để xác định đúng đắn đối tượng tính giá thành sản phẩm kế toán phải căn
CỨ vào :
+ Đặc điểm tổ chức sản xuất và cơ cấu sản xuất
+ Quy trình công nghệ sản xuất, chế tạo sản phẩm
Mỗi đối tượng tính giá thành phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức chu kỳ sản xuất của chúng để xác định cho thích hợp Trường hợp tổ chức sản xuất nhiều,
Trang 23chu kỳ sản xuất ngắn xen kế và liên tục thì tính giá thành thích hợp là vào thời điểm cuối tháng Còn nếu chu kỳ sản xuất dài, sản phẩm chỉ hoàn thành khi kết thúc chu kỳ sản xuất thì kỳ tính giá thành thích hợp là vào thời điểm kết thúc chu kỳ sản xuất sản phẩm
1.4.1.2 Mối quan hệ giữa đối tượng tập hợp chỉ phí và đối tượng tính giá thành sản phẩm
Khái niệm đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm là hai khái niệm khác nhau nhưng về bản chất thì lại giống nhau Tuy nhiên, mối quan hệ giữa đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm có thể được thể hiện trong một số trường hợp sau :
- Phạm vi, giới hạn kế toán tập hợp chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trùng nhau hay đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là một Ví dụ : Doanh nghiệp thực hiện sản xuất theo đơn đặt hàng, đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là từng đơn đặt hàng
- Một đối tượng tính giá thành có thể bao gồm nhiều đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất Ví dụ như trong trường hợp một đơn đặt hàng do nhiều phân xưởng thực hiện, đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất có thể là từng phân xưởng còn đối tượng tính giá thành sản phẩm là từng đơn đặt hàng
- Một đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể bao gồm nhiều đối tượng tính giá thành sản phẩm Ví dụ như trong các doanh nghiệp sản xuất may mặc, giày đép, đối tượng tập hop chi phí sản xuất là nhóm sản phẩm cùng loại còn đối tượng tính giá thành sản phẩm có thể là từng cỡ quần áo, giầy dép
1.4.2.Công tác kiểm kê đánh giá sản phẩm làm dở cuối kỳ
Sản phẩm dở dang là những sản phẩm chưa kết thúc giai đoạn chế biến, còn đang nằm trong quá trình sản xuất Để tính được giá thành sản phẩm doanh nghiệp cần phải tiến hành kiểm kê đánh giá sản phẩm dở dang.Tùy theo đặc điểm tổ chức sản xuất, quy trình công nghệ và tính chất của sản phẩm mà doanh nghiệp có thể áp dụng các phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang
khác nhau
Trang 241.4.2.1.Đánh giá sản phẩm làm dở theo chỉ phí nguyên vật liệu chính trực tiếp
Theo phương pháp này, sản phẩm dở dang cuối kỳ chỉ bao gồm giá trị vật liệu chính trực tiếp, còn các chi phí gia công chế biến ( chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung ) tính cả cho giá thành sản phẩm
Dđk và Dck : chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ, cuối kỳ
Cwl : chi phí vật liệu chính trực tiếp phát sinh trong kỳ
Stp : sản lượng thành phẩm
Sd : sản lượng dỡ dang cuối kỳ
Trường hợp doanh nghiệp có quy trình công nghệ phức tạp, chế biến kiểu liên tục gồm nhiều giai đoạn công nghệ sản xuất kế tiếp nhau Sản phẩm dở dang của gia1 đoạn công nghệ đầu tiên tính theo chi phí nguyên vật liệu chính trực tiếp còn sản phẩm dở dang của các giai đoạn công nghệ tiếp sau phải tính theo chi phí nửa thành phẩm của giai đoạn trước đó chuyển sang
Phương pháp này có ưu điểm là tính toán đơn giản, khối lượng tính toán ít nhưng thông tin về chỉ phí sản xuất dở dang có độ chính xác không cao vì không tính đến các chi phí chế biến
Phương pháp này thường được áp dụng ở các doanh nghiệp có chi phí vật liêu trực tiếp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phi san xuất, khối lượng sản phẩm đở dang cuối kỳ ít và không có biến động nhiều so với đầu kỳ
1.4.2.2.Đánh giá sản phẩm làm dở theo khối lượng sản phẩm hoàn thành
tương đương
Tiêu chuẩn quy đổi thường là giờ công hoặc tiền lương định mức Để đảm bảo tính chính xác của việc đánh giá, phương pháp này chỉ nên áp dụng để
Trang 25tính các chi phí chế biến, còn các chi phí nguyên vật liệu chính phải xác định theo số thực tế đã dùng
- Với những doanh nghiệp có dây chuyền công nghệ mà NVL được bỏ vào một lần ngay từ đầu thì quy đổi theo công thức trên (1)
- Với những doanh nghiệp có dây chuyền công nghệ mà NVL được bỏ dần vào trong quá trình sản xuất thì sản phẩm làm dở được xác định theo công
và mang nặng tính chủ quan
1.4.2.3.Đánh giá sản phẩm làm dở theo chỉ phí sản xuất định mức
Theo phương pháp này, kế toán căn cứ vào khối lượng sản phẩm dở dang kiểm kê, xác định ở từng công đoạn sản xuất và định mức từng khoản mục chỉ phí ở từng công đoạn sản xuất tương ứng cho từng đơn vị sản phẩm để tính ra chi phí định mức ở từng khối lượng sản phẩm dở dang ở từng công đoạn, sau
đó tập hợp lại cho từng sản phẩm
Trang 26Trong phương pháp này, các khoản mục chi phí được tính cho sản phẩm
dở dang được tính theo mức độ hoàn thành của sản phẩm làm dé
Ngoài ra trên thực tế người ta còn áp dụng các phương pháp khác để xác định giá trị sản phẩm làm dở như phương pháp thống kê kinh nghiệm, phương pháp tính theo chi phí nguyên vật liệu chính và vật liệu phụ nằm trong sản phẩm dở dang
1.4.3.Phương pháp tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp Phương pháp tính giá thành sản phẩm là phương pháp sử dụng số liệu về chi phí sản xuất để tính toán ra tổng giá thành và giá thành đơn vị thực tế của sản phẩm đã hoàn thành theo các yếu tố hoặc khoản mục giá thành trong kỳ tính giá thành đã được xác định
Tuỳ theo đặc điểm của từng đối tượng tính giá thành và mối quan hệ giữa đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành mà kế toán phải lựa chọn một hoặc kết hợp nhiều phương pháp để tính giá thành cho từng đối
tượng
1.4.3.1.Các phương pháp tính giá thành sản phẩm theo quá trình sản xuất
Đối với quá trình công nghệ sản xuất giản đơn
e Phương pháp tính giá thành giản đơn
Theo phương pháp này, giá thành sản phẩm được tính bằng cách căn cứ trực tiếp vào chi phí sản xuất đã tập hợp được trong kỳ theo từng đối tượng tập hợp chi phí và giá thành sản phẩm làm dở đầu kỳ, cuối kỳ để tính ra giá thành sản phẩm theo công thức sau:
Trang 27
visnphẩm Khối lượng sản phẩm hoàn thành
e Phương pháp tính giá thành theo phương pháp tỷ lệ
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là nhóm sản phẩm có nhiều chủng loại khác nhau, đối tượng tính giá thành là từng chủng loại sản phẩm
Tổng giá thành từng Tiêu chuẩn phân bổ Tỷ lệ tính
( Tiêu thức phân bổ có thể là giá thành kế hoạch hay giá thành định mức )
e Phương pháp tính giá thành theo hệ số
Phương pháp này được áp dụng trong trượng hợp doanh nghiệp có cùng một quy trình công nghệ, cùng một loại nguyên vật liệu tiêu hao và thu được sản phẩm có nhiều loại khác nhau, mặt khác đối tượng tập hợp chi phí là toàn
bộ quy trình công nghệ sản xuất Để tính được giá thành cho từng loại sản phẩm ta căn cứ vào hệ số tính giá thành quy cho từng loại sản phẩm Sau đó, quy đổi sản lượng thực tế từng loại sản phẩm theo hệ số tính giá thành để làm tiêu thức phân bổ
Tổng sản lượng quy đổi = Š Sản lượng thực tế x Hệ số sản phẩm
ial
Hệ số phân bổ chi phí sản xuất cho từng loại sản phẩm:
Trang 28
Hệ số phân bổ chi phí Sản lượng quy đổi sản phẩm (ï)
Giá thành thực tế từng loại sản phẩm theo từng khoản mục :
Tổng giá thành ( SP DD đầu kỳ + CPSX Hệ số phân bổ chỉ sản phẩm (1) = trongkỳ+SPDDcuốikỳ) x phí sản phẩm (})
Đối với quy trình công nghệ sản xuất phức tạp
e Phuong phap tinh giá thành phán bước
Phương pháp này được áp dụng trong các doanh nghiệp có quy trình sản xuất phức tạp kiểu liên tục, sản phẩm trải qua nhiều công đoạn chế biến liên tục kế tiếp nhau Nửa thành phẩm của giai đoạn trước là đối tượng chế biến ở g1a1 đoạn sau
Trong trường hợp này, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là từng gia1 đoạn của quá trình công nghệ, còn đối tượng tính giá thành có thể là kết quả của từng giai đoạn công nghệ trung gian QNTP) và giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất (TP) hoặc chỉ tính giá thành cho thành phẩm
+ Phương pháp tính giá thành phân bước có tính giá thành nửa thành phẩm
Phương pháp này được áp dụng trong trường hợp xác định đối tượng tính giá thành là nửa thành phẩm Kế toán phải tổng hợp chi phí của từng giai đoạn công nghệ, tính giá thành nửa thành phẩm ở giai đoạn trước đó và kết chuyển sang giai doan sau
Giá thành nửa thành phẩm được xác định như sau:
Zwre1 = Dox: + Cx: Dex
“Nm = Dpx¿ + (Zqrpi†+ Crx¿) — Dẹx;
“NIPn = Doxa it (ẨNTPn-1 + Cixn) - Dexa
Trang 29Trong đó:
Zwm; : Giá thành nửa thành phẩm giai đoạn ¡
Dp Cri
x, 2 Chi phi do dang dau ky giai doan i
Da, : Chi phi do dang cuối ky giai đoạn i
: Chi phí phát sinh trong giai doan 1
+ Phương pháp tính giá thành phân bước không tính giá thành nửa
thành phẩm
giáthànhSP = SPHT giaiđoạni+ SPDD giaiđoạni x phẩm
O giai doan i
Giá thành sản phẩm= Š` CPSX giai đoạn ¡
i 1.4.3.2.Các phương pháp tính giá thành sản phẩm theo công việc
Phương pháp này phù hợp với những doanh nghiệp sản xuất sản phẩm đơn chiếc, sản xuất hàng loạt, sản xuất hàng loạt kết hợp với đơn đặt hàng Khi đó đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là từng đơn đặt hàng, đối tượng tính giá thành là đơn đặt hàng hoàn thành
Thật vậy, việc tính giá thành ở các doanh nghiệp này chỉ tiến hành khi đơn đặt hàng hoàn thành nên kỳ tính giá thành thường không nhất trí với kỳ báo cáo Đối với những đơn đặt hàng đến kỳ báo cáo chưa hoàn thành thì toàn bộ chi phí đã tập hợp theo đơn đặt hàng đó đều được coi là sản phẩm dở dang cuối kỳ và chuyển sang kỳ sau Đối với những đơn đặt hàng đã hoàn thành thì tổng chi phí đã tập hợp được chính là tổng giá thành sản phẩm và giá thành đơn vị sẽ tính bằng cách lấy tổng giá thành sản phẩm chia cho số lượng sản phẩm trong đơn đặt hàng
e Phuong pháp tính giá thành theo định mức
Trang 30Phương pháp này được áp dụng trong các doanh nghiệp có quy trình công nghệ ổn định, có hệ thống các định mức kỹ thuật, định mức chi phí, dự toán chi phí hợp lý
Phương pháp này cho phép kiểm tra tình hình thực hiện các định mức, dự toán chi phí từ đó có thể thấy được việc sử dụng chi phí là tiết kiệm hay lãng phí Ngoài ra còn giảm bớt khối lượng ghi chép, tính toán của kế toán nhằm nâng cao hiệu quả công tác kế toán
+ Chênh lệch do thoát ly định mức : là số chênh lệch do tiết kiệm hay vượt chi
Trong số các phương pháp trên tuỳ thuộc vào đặc điểm cụ thể của doanh nghiệp mà lựa chọn phương pháp tính giá thành cho phù hợp để sao cho có thể tính giá thành một cách chính xác và thuận tiện nhất
1.5.S6 va bdo cáo giá thành sản phẩm ( trong điều kiện thực hiện kế toán trên máy với phần mềm kế toán)
Phần mềm kế toán là bộ chương trình dùng để xử lý tự động các thông tin
kế toán trên máy vi tính bắt đầu từ khâu nhập chứng từ gốc, phân loại chứng
từ, xử lý thông tin trên chứng từ theo quy trình của kế toán, sau đó in ra các số sách kế toán và báo cáo kế toán
Tùy thuộc vào từng hình thức kế toán áp dụng mà các loại sổ và báo cáo giá thành sản phẩm cũng sẽ khác nhau Nhưng dù theo hình thức kế toán nào thì tổ chức kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm cũng phải đảm
Trang 31bảo một số nguyên lý chung như : xác định mã hóa đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm, danh mục khoản mục chi phi, tài khoản, chứng từ sử dụng Các tài liệu gốc được cập nhật vào máy tính thông qua thiết bị nhập và được lưu giữ trên thiết bị nhớ ở dạng tệp tin dữ liệu chi tiết, từ các tệp dữ liệu chi tiết chuyển qua các tệp sổ cái để hệ thống hóa các nghiệp vụ theo từng đối tượng quản lý Định kỳ, các sổ cái sẽ được xử lý
để lập báo cáo kế toán
Phương pháp tính giá thành thường được sử dụng trong điều kiện thực hiện
kế toán máy là phương pháp tính giá thành giản đơn Cuối kỳ, các khoản chi phí được tập hợp và kết chuyển tự động nhờ chức năng kết chuyền chi phí cuối
kỳ hay bút toán khóa số cuối kỳ Chương trình cho phép tự động xem và in
các số chỉ tiết, số cái các tài khoản chi phí và bảng tính giá thành sản phẩm
theo khoản mục chi phí Ví dụ : Nếu chọn hình thức kế toán chứng từ ghi sổ thì chương trình cho phép in ra các số chi tiết, số cái các tài khoản chi phí, chứng từ ghi số liên quan cũng như bảng tính giá thành các khoản mục chi phí
Phần mềm kế toán chính là công cụ tự động hóa công tác xử lý thông tin
kế toán trong các đơn vị Khi áp dụng phần mềm kế toán vào công tác kế toán nói chung và công tác kế toán tap hop chi phí nói riêng thì bộ phận kế toán không còn phải thực hiện một cách thủ công các công việc ghi số chỉ tiết, số tổng hợp, lập báo cáo kế toán và được thực hiện nhanh chóng, chính xác va hiệu quả
Trang 32Chuong II
THUC TRANG TO CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN
XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM Ở XÍ NGHIỆP MAY
379 CONG TY MAY3/2
2.1 Đặc điểm chung của xí nghiệp may 379 công ty may 3/2:
- lên đơn vị: Xí nghiệp may379_ công ty may 3/2
- Trụ sở chính cuả công ty: Số 35 phuong Sơn Lộc_thị xã Sơn Tây_ tỉnh Hà Tây
- Hình thức sở hữu vốn: nhà nước
- Hình thức hoạt động: Sản xuất kinh doanh
- Lĩnh vực hoat động: Sản xuất và gia công hàng may mặc xuất khẩu
- Don vi su dung trong ghi chép kế toán:VNÐ
- Nguyên tắc chuyển đổi các đồng tiền khác: theo tỷ công bố của Ngân Hàng ngoại thương Việt Nam
2.1.1.Quá trình hình thành và phát triển của xí nohiêp:
Xí nghiệp may 379-công ty may 3/2 đặt trụ sở tại số 35 phường, Sơn Lộc- thị xã Sơn Tây-tỉnh Hà Tây.Với nhiều ưu thế thuân lợi như:nằm trong thị xã Sơn Tây-là một trong nhưng cửa ngõ thủ đô Hà Nội, với con đường giao thông như quốc lộ 21A ,quốc lộ 32 và đặc biệt là con đường xuyên viêt mang tên “Đường mòn Hồ Chí Minh” bắc ngang qua hết sức thuận lợi.Bên cạnh đó thi x4 Son Tay duoc thiên nhiên ban tặng cho nhiều quang cảnh đẹp,với tiêm năng đi lịch lớn,dồi dào về nguồn nhân lực,thuận lợi cho việc phát triên kinh
tế nói chung và xí nghiệp may 3/2 nói riêng Với những điũu kiên hết sức thuận lợi trên xí nghiệp may379-công ty may3/2 hoàn toàn co đủ khả năng phát triển, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Sơn Tây nói riêng và nên kinh tế quốc dân nói chung
Xí nghiệp may 379-công ty may 3/2 tiền thân là xí nghiệp may thương binh thương binh 3/2 được thành lập vào ngày 3/2/1975 theo quyết định 338 của Thủ tướng Chính phủ trực thuọc quân khu 3 Với nhiệm vụ ban đầu là đào
Trang 33
tạo dạy nghề cho con em thương bệnh binh đã hoàn thành nghĩa vụ từ các chiến trường về va gial quyết công ăn việc làm cho họ
Năm 1978, theo yêu cầu nhiệm vụ mới của quân đội Xí nghiệp chính thức
đI vào sản xuất, phục vụ cho nghành quân đội Mỗi năm đơn vị sản xuất từ
450000 đến 500000 sản phẩm Đến năm 1986 do chuyển đổi từ bao cấp tập trung sang cơ chế thị trường có sự điũu tiết cua nhà nước xi nghiệp cũng chuyển sang hạch toán kinh doanh độc lập Tháng 5/1999 quân khu 3 xắp xếp lại doanh nghiệp sáp nhập 3 xí nghiệp may của quân khu lại làm một
(1) Xí nghiệp Tk 21_ Hải Phòng
(2) Xí nghiệp xây dưng Hoà Bình
(3) Chi nhánh Hà Nam
(4) Chi nhánh Hà Nội
Xí nghiệp được đổi tên thành Xí nghiệp may 379- công ty may3/2
Ngoài nhiệm vụ sản xuất quốc phòng ra xí nghiệp còn sản xuất hàng dân sinh và hàng xuất khẩu Mỗi năm tổng doanh thu của đơn vị đạt khoảng 10
tỷ đồng, tạo công ăn việc làm cho con em trong tỉnh làm chi kinh tế chính trị được ổn định, với nên kinh tế thì có sự hỗ trợ cua xí nghiệp đối với địa phương về vật chất cũng như tính thân đồng thời sự phát triển của địa phương cũng giúp đỡ cho doanh nghiệp trong quá trình hội nhập, tăng thêm mối tình quân dân “ như cá với nước”
Đặc biệt trong suốt 29 năm xây dưng và trưởng thành đơn vị đã được Đảng và nhà nước Quân đội tặng thưởng 3 huân chương, trong đó có một huân chương lao động, 2 huân chương chiến công va nhiều giây khen các loại
Và trong 5 năm gần đây (từ năm 1999 đến năm 2004) với sự cố gắng của
xí nghiệp đã chủ động vươn lên tự khai thác nguồn hàng, nâng cao tay nghề công nhân phát huy sáng kiến, cải tiến kĩ thuật và đã đạt được một số thành tích nhất định qua các chỉ tiêu kinh tế cơ bản sau:
Trang 34Don vi: triéu đồng
1999 | 2000 | 2001 | 2002 | 2003 | 2004
1 | Giá trị sản xuất 4500 |4600 |4600 |4800 |5000 |5500 2_ | Doanh thu 5500 |5600 |5600 | 5700 | 6000 | 7000
3 | Lợi nhuận 120 140 120 110 120 130
4 |Thuế và các khoản |0.55 |0.55 | 0.555 |0.55 | 30.55 |31.55 phải nộp
hộ cho các đơn vị bên ngoài để tạo thêm công ăn việc làm cho công nhân, tăng thêm thu nhập cho công nhân và cũng đồng thời tăng thêm một phần doanh thu cho doanh nghiệp
2.1.2 Đăc điểm tổ chức quản lí và sản xuất ở cơ quan
Trang 35Hiện nay trong toàn xí nghiệp có tổng số 369 công nhân có độ tuổi trung bình 25 đến 30 tuổi
Cách phân loại trong toàn xí nghiệp như sau :
*Phân loại theo nguồn hình thành:
- - Biên chế: 21 người
- Si quan sé: 3 người
- Quan nhan chuyên nghiệp: 3 người
- _ Công nhân viên quốc phòng: 14 người
- - Hợp đồng dài hạn : 60 người
- - Hợp đồng ngắn hạn: 228 người
* Phân loại theo tính chất phục vụ:
- _ lao động trực tiếp : 333 người
- _ lao động gián tiếp: 36 người
* Phân loại theo trình độ chuyên môn :
- Trinh do dai hoc : 8 người
- _ Trình độ cao đẳng : 6 người
- - Trình độ THCN: 23 người
- - Quân nhân chuyên nghiệp: 3 người
- Công nhân sản xuất : 332 người
Từ kết cấu số lao động trình độ chuyên môn nghiệp vụ, bộ máy quản lí của
xí nghiệp may 379 công ty may3/2 như sau:
Trang 36Sơ đồ bộ máy quản lí sản xuất kinh doanh của đơn vị :
kinh doanh
Ban giám đốc(3 người):
- Đồng chí : Nguyễn Văn Trường Chức vụ : Giám đốc
Nhiệm vụ: phụ trách chung cho moi hoạt động sản xuất kinh doanh cua
xi nghiệp, xắp sếp lao động và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp,thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ trước pháp luật
- Đồng chí : Nguyễn Văn Đông Chức vụ : phó giám đốc
Nhiệm vụ: phụ trách công tác đảng công tác chính tri tư tưởng
- Đồng chí: Nguyễn Quốc Tuấn Chức vụ : phó giám đốc
Nhiệm vụ: phụ trách quá trình sản xuất, tiêu thụ kinh doanh
L Các phòng ban:
- Phòng tổ chức hành chính (10 người):
Trưởng phòng:Lê Đình Hồ và 9 nhân viên
Nhiệm vụ: Giúp giám đốc trong việc vận dụng thực hiên các chính sách nhà nước về công tác cán bộ lao động tiền lương, tổ chức bộ máy quản lí, kiểm tra việc thực hiên và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho công nhân
- Phong ké hoach-vat tu (7 người):
Trang 37Trưởng phòng: Phương Văn Cần và 6 nhân viên
Nhiệm vụ: Phòng kế hoạch vật tư co nhiêm vụ tổ chức sản xuất, đảm bảo
kế hoạch va tiếp nhận, cung cấp vật tư tiêu thụ sản phẩm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp , điũu hành đôn đốc việc thực hiện kế hoạch hàng ngày, đảm bảo cho sản xuất được cân đối, diễn ra liên tục không bị ngừng trệ đảm bảo an toàn về vân chuyển kho tàng bốc rỡ
- Phòng kĩ thuật _KCS(11 người):
Trưởng phòng : Cần Hoàng Thảo va 10 nhân viên
Nhiệm vụ:quản lí công tác xây dung qui trình công nghệ, lên định mức ve
kĩ thuật, thời gian, nguyên vật liệu để làm nên một khối lượng sản phẩm nhất định.Phòng kĩ thuật giữ một vai trò then chốt và kết hợp chặt chẽ với phòng kế hoạch để hoàn thành khối lượng sản phẩm đã đặt ra, phòng kĩ thuật phảI tao mẫu, may mẫu thử, sau đó chuyển giao và hướng dẫn công nghệ sản xuất, thiết kế day chuyền sản xuất cho phù hợp, kiểm tra KCS sản phẩm
- _ Phòng tài vụ kế toán (Š người)
Trưởng phòng : Tạ thị Ngân và 4 nhân viên
Nhiệm vụ : tham mưu cho giám đốc trong việc hach toán kinh tế, tao vốn
và quản lí vốn của xí nghiệp phản ánh kịp thời đầy đủ thường xuyên toàn
bộ hoạt động kinh tế của xí nghiệp,phân tích hoạt động kinh tế, hach toán trong quá trình sản xuất kinh doanh
L Bộ phận sản xuất kinh doanh(Gôm 2 phân xưởng và một phòng kinh
Trang 38hàng tháng phòng kinh doanh phảI nộp % lợi nhuận cho đơn vị, tăng doanh thu cho xí nghiệp Ngoài ra phòng kinh doanh còn có chức năng dự
bị, đào tạo ra những người thợ
SƠ ĐỒ QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT CỦA Xi
NGHIỆP MAY 379
Quy trình công nghệ sản xuất của xí nghiệp gồm 4 giai đoạn:
*Giai đoạn chuẩn bị: Đây la giai đoạn then chốt để xí nghiệp thực hiện nhiệm vụ của mình, nghĩa là trước khi đưa nguyên vật liệu vào sản xuất thì cần đưa ra mẫu sản phẩm để làm, sau đó kiểm tra xem có đúng màu sắc, chất lượng,số lượng, chủng loại hay không Sắp sếp về sơ đồ trên giấy làm sao đưa vào khé val lap kín bề mặt để tiết kiệm tôI đa NVL, phần bỏ đi càng ít càng
tốt
*Giai đoạn cắt: Ở giai đoạn này nhận vải ở kho về tiến hành trà vảI tuỳ theo
độ dày của vảI mà có thể trảI từ 15 đến 20 lớp, rồi đặt sơ đồ giấy đã vẽ lên bề mat vai va cat Val duoc cắt bằng hai loại máy đó là máy cắt phá, dùng để cắt đường ít gấp khúc và máy gọt dùng để cắt các đường vòng, đảm bảo được độ chính xác cao VảI cắt xong sẽ được bộ phân kiêm tra chất lượng (gọi tắt là KCŒS) kiểm tra đánh giá chất lượng kĩ thuật xem có đạt kĩ thuật hay không
*Giai đoạn may: trong giai đoạn này được phân chia thành nhiều giai đoạn nhỏ Mỗi công đoạn thực hiện một công việc khối lượng nhất dịnh như may
cổ, may tay, may sườn, may hoàn thiện
*Giai đoạn đóng gói: Day 1a giai đoạn đóng gói nhập kho thành phẩm, nó phải trải qua các bước như: hoàn thiện,KCS,đóng gói, nhập kho thành phẩm
2.2.TÌNH HÌNH CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾTOÁN :
Trang 39Và do quy mô, đặc điểm sản xuất kinh doanh, căn cứ vào địa bàn hoạt động của mình nên xí nghiệp may 379 lựa chọn hình thức tổ chức bộ máy kế toán là hình thức tập trung
- - Cơ cấu bộ máy kế toán va chức năng từng bộ phận
Bộ máy kế toán gôm 5 người: về trình độ chuyên môn có :
Kế toán trưởng
Kế toán Thủ quĩ kiêm kế toán tiền Kế toán tập
KT TCSĐ lương giá thành SP
Chức năng nhiệm vụ chính của phòng tàI chính kế toán là quản lí thống kê
kế toán, tài chính kịp thời đầy đủ , tổng hợp cân đối ,kế hoạch trong đơn vị (tháng, quí, năm) đề xuất kế hoạch sử dụng vốn trong sản xuất kinh doanh ngắn, trung và dài hạn Giúp giám đốc thực hiện các chính sách tài chính với qui tiền tệ, chỉ tiêu theo qui định và thực hiện nghĩ1ã vụ với quân khu 3 và nhà nước tổng hợp nhiệm vụ do giám đốc giao
* Nhiệm vụ của từng kế toán:
- Kế toán trưởng : Phụ trách công tác kế toán của xí nghiệp, chịu trách nhiệm trước giám đốc va cơ quan cấp trên ve cong tác tai chính kế toán
- Kế toán NVK-CCDC kiêm kế toán TSCĐ : có trách nhiệm theo dõi việc Nhập Xuất_Tồn kho NVL, CCDC cuối tháng lập bảng phân bổ số 2 và theo dõi việc tăng giảm TSCĐ để trích khấu hao hàng tháng, quí năm Cuối tháng lập bảng khấu hao TSCD, bang phân bổ NVL_CCDC
Trang 40- Thu qui : theo dõi các khoản vốn bằng tiền của doanh nghiệp , phản ánh
số hiện có và tình hình tăng giảm qui tiền mặt tiến hành phát lương cho toàn
bộ cán bộ CNYV trong toàn bộ xí nghiệp Theo dõi và trích BHXH, BHYT, KPCD cho từng cán bộ CNV, BHXH theo lương quí Tiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất do nhân viên quản lí lập và gửi về phòng kế toán theo định kỳ và vào chứng từ để quyết toán lương chính, bổ xung thu nhập và các khoản chế độ khác cho từng cán bộ CNV từng phân xưởng
- Kế toán tiền mặt, tiền gửi ngân hàng: Hàng ngày căn cứ vào các chứng từ thanh toán về các khoản chi phí phat sinh phản ánh kịp thời tình hình sử dụng các loại vốn bằng tiền, bên cạnh đó tính toán lương và các khoản trích theo lương cho toàn cán bộ CNV và công nhân hợp đồng trong toàn xí nghiệp, lập bảng phân bổ tiền lương và BHXH
- Kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm kiêm kế toán thành phẩm: Hàng tháng có trách nhiệm tập hợp chi phí sản xuất phát sinh, tính giá thành công xưởng cho sản xuất sản phẩm trong tháng, theo dõi tình hình Nhâp-Xuất-Tồn thành phẩm và hạch toán doanh thu của toàn xí nghiệp.Lập báo cáo với quản lý cấp trên
Chế độ kế toán ban hành theo quyết định 1141TCQĐ/CĐÐKT ngày 01/11/1995 của bộ trưởng Bộ Tài chính qui định rõ việc mở số ghi chép lưu trữ và bảo quản số sách kế toán theo 4 hình thức
Đặc trưng cơ bản của hình thức chứng từ ghi số : căn cứ trực tiếp để ghi
số kế toán tổng hợp là chứng từ ghi số