1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài nghiên cứu Hồ sơ số DS03 _ Bà Nguyễn Thị Hà Công ty TNHH H. International

12 666 18

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 147,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày 02032010, Bà Nguyễn Thị Hà Bắt đầu làm việc tại Công ty TNHH H. International Ngày 4042018, bà Nguyễn Thị Hà tìm đến văn phòng luật sư cần tư vấn, mong muốn được bồi thường vì bị Công ty cho nghỉ việc trái pháp luật.

Trang 1

HỒ SƠ DÂN SỰ SỐ 03

I Tóm tắt vụ việc

- Ngày 02/03/2010, Bà Nguyễn Thị Hà Bắt đầu làm việc tại Công ty TNHH H International

- Ngày 30/12/2011, Công ty TNHH H International và bà Nguyễn Thị Hà ký kết hợp đồng lao động với thông tin cụ thể như sau:

Loại hợp đồng: Hợp đồng không xác định thời hạn

Vị trí: Kế toán viên

Mức lương: 11.600.000 VNĐ (trong đó lương cơ bản là 10.600.000 VNĐ, phụ cấp điện thoại: 1.000.000 VNĐ)

- Ngày 30/10/2017, đại diện Công ty TNHH H.International đã có cuộc họp với bà Nguyễn Thị Hà, thông báo về việc sễ chấm dứt Hợp đồng lao động với bà vào ngày 31/10/2017

- Ngày 02/11/2017, Công ty TNHH H.International gửi thông báo số 01/TB cho bà Nguyễn Thị Hà, thông báo về việc chấm dứt hợp đồng lao động và thanh toán các khoản lương, trợ cấp với tổng số tiền là 68.727.273 sau khi chấm dứt hợp đồng lao động

- Ngày 03/11/2017, Tổng giám đốc Công ty TNHH H International ban hành quyết định

số 151103/QĐCDHĐ về việc chấm dứt hợp đồng với bà Nguyễn Thị Hà

- Ngày 4/04/2018, bà Nguyễn Thị Hà tìm đến văn phòng luật sư cần tư vấn, mong muốn được bồi thường vì bị Công ty cho nghỉ việc trái pháp luật

II Các nội dung cần làm rõ

STT THÔNG TIN BÀ HÀ TRÌNH BÀY

1 Bà Hà trình bày đã làm việc tại

Công ty từ 02/03/2010 - Kể từ khi bắt đầu làm việc ngày 02/03/2010đến ngày 30/12/2011, Công ty và bà Hà có

ký kết hợp đồng lao động không?

- Thời gian đó bà Hà làm việc tại công ty ở

vị trí nào, các chế độ tương ứng cụ thể là gì?

- Có tài liệu nào để chứng minh? (Thang lương, bảng lương, báo cáo lao động gửi Sở lao động thương binh và Xã hội, đóng BHXH hàng tháng,…)

2 Bà Hà trình bày ký HĐLĐ không

xác định thời hạn vào ngày Ngày ký HĐLĐ không xác định là ngày30/12/2011 theo HĐLĐ hay ngày

Trang 2

30/12/2012 30/12/2012 theo trình bày của bà Hà?

3 Bà Hà trình bày mức lương hàng

tháng theo HĐLĐ là 12.600.000đ Mức lương hàng tháng theo HĐLĐ ngày30/12/2011 là 11.600.000đ

- Công ty có Quyết định về việc điều chỉnh tăng lương cho bà Hà không?

- Điều chỉnh từ thời điểm nào?

- Mức lương hàng tháng trong vòng 06 trước khi nghỉ việc của bà Hà là bao nhiêu?

5 Trong HĐLĐ, CMND của bà Hà

cấp ngày 09/10/2012

Tuy nhiên, HĐLĐ lại được lập vào

ngày 30/12/2011

Cần xác định chính xác về 02 thông tin về thời gian này

6 Bà Hà trình bày ngày 30/10/2017,

bà được mời vào phòng họp và

được Công ty thông báo bà sẽ phải

nghỉ việc vào ngày 31/10/2017

- Buổi làm việc ngày 30/10/2017 giữa Công

ty và bà Hà có được lập thành biên bản không?

- Trước ngày 30/10/2017, bà Hà có nhận được bất cứ Văn bản hay thông tin nào về việc Công ty sẽ cho bà nghỉ việc vào ngày 31/10/2017 không?

7 Thông báo chấm dứt HĐLĐ và

Quyết định chấm dứt HĐLĐ lần

lượt được ký vào ngày 02/11/2017

và ngày 03/11/2017 trong khi bà Hà

bị Công ty yêu cầu nghỉ việc trước

đó – vào ngày 31/10/2017

Ý nghĩa của việc thông báo và quyết định chấm dứt hợp đồng lao động ký sau thời điểm bà Hà bị nghỉ việc

8 Tại đơn trình bày của bà Hà và

thông báo chấm dứt HĐLĐ 01/TB,

lý do chấm dưt hợp đồng là do kinh

doanh khó khăn và dẫn đến thua lỗ,

nên phải thay đổi cơ cấu nhân sự?

Cần làm rõ lý do này có thuộc trường hợp tại khoản 10 Điều 36 BLLĐ năm 2012 không

9 Người ký hợp đồng lao động là ông

SIU RICKY

Người ký thông báo và quyết định

chấm dứt HĐLĐ là ông PERTER J

Theo công văn số 42/CCTT-ĐKKD

01 của Sở KH và ĐH Hà Nội, thông

tin về người đại diện theo PL của

Công ty là ông Tobert K Lauer theo

giây chứng nhận đầu tư cấp thay đổi

từ năm 2013 chưa được thay đổi

- Cần làm rõ về việc ai là người đai diện theo pháp luật hiện tại, ai là tổng giám đốc (có thẩm quyền tuyển dụng lao động) của Công ty

- Có hay không việc Công ty có thay đổi người đại diện pháp luật mà không làm thủ tục thay đổi đăng ký doanh nghiệp?

- Có Văn bản ủy quyền cho ông Perter J ký

TB và QĐ chấm dứt HĐLĐ với bà Hà không?

10 Theo Thông báo chấm dứt HĐLĐ

số: 01/TB ngày 02/11/2017:

Công ty đã thanh toán cho bà Hà

các khoản tiền sau:

+ 1,5 tháng tiền lương do công ty

- Từ khi Công ty TNHH H.International ra Thông báo chấm dứt hợp đồng lao động số 01/TB ngày 02/11/2017 đến thời điểm ngày 4/4/2018 khi bà Hà trình bày với Luật sư, công ty đã thực hiện thanh toán các khoản

Trang 3

không được đóng tiền bảo hiểm thất

nghiệp cho bà (từ tháng 3/2010 đến

tháng 11/2011): 18.900.000đ

+ 1,5 tháng tiền lương do không báo

trước: 18.900.000đ

+ 1 tháng tiền lương thứ 13 của năm

2016 (chưa trả): 12.600.000đ

+ 1 tháng tiền lương thứ 13 của năm

2017: 12.600.000đ

+ Trả 10 ngày phép của năm 2017:

5.727.273đ

Tổng số tiền là: 68.727.273đ

tiền nào?

- Công ty đã thanh toán hết các khoản tiền chế độ theo nội dung thông báo số 01/TB cho bà Hà chưa?

- Ngoài nội dung trong thông báo này, công

ty có thanh toán cho bà Hà thêm các khoản tiền nào khác không?

xã hội và Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động chưa?

- Khi đến làm việc, phía công ty có trao đổi

gì thêm về việc chấm dứt hợp đồng lao động với bà không?

TNHH H.International giải thích về quy trình chấm dứt hợp đồng lao động của công

ty không?

mà không được báo trước, bà Hà có thực hiện thủ tục khiếu nại hoặc yêu cầu làm việc lại với phía Công ty TNHH H.International không? Nếu có: Hai bên có thống nhất được

về việc Công TNHH H.International phải nhận bà Hà trở lại làm việc theo hợp đồng đã giao kết:

- Công ty TNHH H.International đồng ý nhận bà Hà trở lại làm việc, nhưng bà Hà không đồng ý?

- Công ty TNHH H.International không muốn nhận lại bà Hà và bà Hà đồng ý?

để làm việc và muốn Công ty H bồi thường thiệt hại cho bà với các khoản bồi thường cụ thể như thể nào?

không?

Trang 4

III Điều kiện khởi kiện

- Về chủ thể: Bà Nguyễn Thị Hà là người lao động bị đơn phương chấp dứt HĐLĐ, có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, cho rằng quyền và lợi ích bị xâm phạm Do đó bà Nguyễn Thị Hà có quyền khởi kiên, là nguyên đơn khởi kiện trong vụ án dân sự (Khoản 2 Điều 68 BLTTDS 2015)

- Vụ việc này chưa được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lưc pháp luật nào

Bà Nguyễn Thị Hà có thể yêu cầu giải quyết tranh chấp theo trình tự sau:

a Thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động:

Thời hiệu yêu cầu hòa giải của hòa giải viên lao động là 06 tháng, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật Lao động 2012 Theo đó, trường hợp bà Nguyễn Thị Hà vẫn nằm trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi vi phạm (từ tháng 11/2017 tới thời điểm đến văn phòng luật sư 04/2018 là 05 tháng)

b Thủ tục yêu cầu tòa án giải quyết:

Đối với trường hợp của bà Nguyễn Thị Hà là tranh chấp liên quan đến trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng và bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động Áp dụng điểm a, b khoản 1 điều 201 Bộ Luật lao động 2012, bà Nguyễn Thị Hà có thể khởi kiện ra tòa án mà không bắt buộc phải thông qua thủ tục hòa giải

Thời hiệu yêu cầu tòa án giải quyết là 1 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm theo khoản 2 Điều 202 Bộ luật Lao động 2012

Thẩm quyền của tòa án:

Áp dụng điểm c khoản 1 điều 35, khoản 1 điều 36, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ Luật TTDS

2015, Tòa án nhân dân quận Ba Đình sẽ có thẩm quyền giải quyết trong trường hợp bà Nguyễn Thị Hà nộp đơn khởi kiện

IV Tư vấn cho khách hàng các yêu cầu khởi kiện cụ thể (trên cơ sở mong muốn của

khách hàng và nội dung vụ việc)

 Mong muốn của khách hàng – Bà Nguyễn Thị Hà:

1 Không muốn trở lại làm việc tại công ty TNHH H.International

2 Yêu cầu công ty TNHH H.International bồi thường thiệt hại vì đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

 Nội dung tư vấn cụ thể như sau:

1 Về việc không muốn trở lại làm việc tại công ty TNHH H.International:

Trang 5

Căn cứ Điều 42 Bộ luật lao động 2012 quy định về Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật: công ty H có nghĩa vụ phải nhận bà Hà trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết Tuy nhiên, tuỳ vào mong muốn của bà Hà và công ty H mà hai bên có thể thoả thuận về việc bà Hà không trở lại làm việc tại công ty H nữa

Lưu ý: Mong muốn việc bà Hà không trở lại làm việc tại công ty H liên quan trực tiếp

đến chế độ bồi thường thiệt hại, cụ thể:

- Trường hợp bà Hà không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều 42 thì công ty H phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật lao động 2012 (Căn cứ theo khoản 2, Điều 42 Bộ luật lao động 2012)

- Trường hợp Công ty H không muốn nhận lại bà Hà và bà Hà đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều 42 và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều

48, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động (Căn cứ theo Khoản 3 Điều 42 Bộ luật lao động 2012)

Do vậy, bà Hà cần xác nhận lại với luật sư về các tình tiết liên quan đến việc bà không muốn trở lại công ty H làm việc là xuất phát từ đề xuất của cá nhân bà hay Công ty H đề xuất để làm căn cứ yêu cầu bồi thường thiệt hại

2 Yêu cầu Công ty TNHH H.International bồi thường thiệt hại vì đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

Thứ nhất, công ty TNHH H.International đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật đối với bà Hà.

(1) Khoản 10, Điều 26 Bộ luật lao động 2012 quy định về các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

“Điều 36 Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động

10 Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã”

Theo đó, Công ty TNHH H.International đang lấy lý do đơn phương chấm dứt HĐLĐ với

bà Hà vì hoạt động kinh doanh những năm qua gặp nhiều khó khăn dẫn đến thua lỗ nên phải thay đổi cơ cấu nhân sự

Tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 2 Điều 44 Bộ luật lao động 2012 và hướng dẫn tại khoản 2 Điều 13 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của bộ luật lao động thì lý do chấm dứt hợp đồng lao động với bà Hà của công ty H đưa ra là không thuộc trường hợp quy định tại khoản 10 Điều 36 Bộ luật lao động 2012 Cụ thể: Lý do kinh tế theo quy định của pháp luật về lao động chỉ bao gồm:

Trang 6

“…

a) Khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế;

b) Thực hiện chính sách của Nhà nước khi tái cơ cấu nền kinh tế hoặc thực hiện cam kết quốc tế.”

Thời điểm tháng 11/2017 khi công ty H tiến hành đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bà Nguyễn Thị Hà không xảy ra các sự kiện khủng hoảng, suy thoái kinh tế, và chính trong Thông báo chấm dứt hợp đồng lao động số 01/TB ngày 2/11/2017, công ty H

đã khẳng định lý do chấm dứt hợp đồng lao động với bà là do công ty “trong hoạt động kinh doanh những năm qua đã gặp nhiều khó khăn dẫn đến thua lỗ”, vì vậy phải “thay đổi cơ cấu nhân sự”.

(2) Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động được ghi nhận tại Khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 38 Bộ luật lao động 2012 như sau:

“Điều 38 Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1 Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động; b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của

Bộ luật này.

2 Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn”

Như vậy, lý do công ty TNHH H.International đưa ra để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bà Hà không thuộc các trường hợp người sử dụng lao động được quyền đơn phương phương chấm dứt hợp động lao động

Trang 7

Đồng thời, theo trình bày của bà Hà và theo Thông báo chấm dứt HĐLĐ số: 01/TB ngày 02/11/2017 của Công ty TNHH H.International đều ghi nhận nội dung: ngày 30/10/2017, đại diện Công ty TNHH H.International thông báo với bà về việc sẽ chấm dứt HĐLĐ với

bà từ ngày 31/10/2017 Do đó, Công ty TNHH H.International đã vi phạm thời gian báo trước khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ không xác định thời hạn với bà Hà

Với việc vi phạm khoản 1 và điểm a khoản 2 điều 38 Bộ luật lao động 2012, căn cứ theo điều 41 Bộ luật lao động 2012, hành vi của công ty H là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, do đó công ty phải chịu các chế tài liên quan đến hành vi trái pháp luật này

Thứ hai, công ty TNHH H.International đã thực hiện một số hoạt động sau:

(1) Thanh toán các khoản tiền sau:

+ 1,5 tháng tiền lương do công ty không được đóng tiền bảo hiểm thất nghiệp cho bà (từ tháng 3/2010 đến tháng 11/2011): 18.900.000đ

+ 1,5 tháng tiền lương do không báo trước: 18.900.000đ

+ 1 tháng tiền lương thứ 13 của năm 2016 (chưa trả): 12.600.000đ

+ 1 tháng tiền lương thứ 13 của năm 2017: 12.600.000đ

+ Trả 10 ngày phép của năm 2017: 5.727.273đ

Tổng số tiền là: 68.727.273đ

(2) Về nội dung nhận lại sổ Bảo hiểm xã hội và Quyết định chấm dứt Hợp đồng lao động:

Bà Hà cần xác nhận lại với luật sư rằng đã đến công ty H để nhận lại các tài liệu này hay chưa

Thứ ba, về yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật của công ty TNHH H.International:

Theo quy định của Bộ luật lao động 2012 liên quan đến việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật của người lao động (cụ thể tại Điều 42, Điều 48, Điều 114), công ty H đã thực hiện tương đối đầy đủ các nghĩa vụ Các vấn đề cần lưu ý và yêu cầu bồi thường thiệt hại thêm cụ thể như sau:

(1) Về khoản trợ cấp thôi việc = 1,5 tháng tiền lương:

Điểm c Khoản 3 Điều 14 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP định về việc tính trợ cấp thôi việc

nếu có tháng lẻ như sau:

“Điều 14 Trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm

3 Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao

Trang 8

động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian làm việc

đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc Trong đó:

c) Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm của người lao động được tính theo năm (đủ 12 tháng), trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc.”

Theo đó, thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm cho bà Hà là thời gian bà Hà không tham gia Bảo hiểm thất nghiệp (1 năm 9 tháng - từ tháng 3 năm

2010 đến tháng 11 năm 2011) do bà Hà làm việc tại Công ty TNHH H.International không tham gia Bảo hiểm thất nghiệp và được làm tròn tính thành 02 năm

Theo quy định về trợ cấp thôi việc tại Điều 48 Bộ luật lao động 2012, tiền trợ cấp thôi việc của bà Nguyễn Thị Hà được tính như sau:

0.5 tháng/năm x 2 năm = 1 tháng.

Tuy nhiên, Công ty TNHH H.International đã chi trả trợ cấp thôi việc cho bà Hà là 1.5 tháng tiền lương (tại mục 1 Thông báo chấm dứt HĐLĐ số: 01/TB ngày 02/11/2017), với mức lương 12.600.000đ/tháng Nếu mức lương 12.600.000đ/tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương bình quân 06 tháng liền kề trước khi bà Hà bị cho nghỉ việc thì bà Hà đang được

Công ty TNHH H.International chi trả thừa 0.5 tháng lương nên không cần bồi thường thêm về khoản chi trả trợ cấp thôi việc.

(2) Yêu cầu bồi thường thiệt hại thêm:

Theo quy định tại Điều 42 Bộ luật lao động 2012, Công ty TNHH H.International phải bồi thường cho bà Hà ít nhất 02 tháng tiền lương theo HĐLĐ (khoản 1 Điều 42), chi trả trợ cấp thôi việc (Điều 48), bồi thường thêm ít nhất 02 tháng tiền lương theo Hợp đồng lao động để chấm dứt Hợp đồng lao động (khoản 3 Điều 42) và bồi thường khoản tiền lương 45 ngày tương ứng trong những ngày không báo trước cho bà Hà (khoản 5 Điều 42)

Công ty TNHH H.International đã chi trả trợ cấp thôi việc theo Điều 48 và bồi thường 1.5 tháng lương tương ứng trong những ngày không báo trước cho bà Hà theo khoản 5 Điều

42 Tuy nhiên, theo quy định trên, Công ty TNHH H.International phải bồi thường thêm cho bà Hà ít nhất 02 tháng tiền lương theo HĐLĐ vì đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật (khoản 1) và bồi thường thêm ít nhất 02 tháng tiền lương theo HĐLĐ để chấm

dứt HĐLĐ (khoản 3) với bà Hà Vậy, bà Hà có thể yêu cầu Công ty TNHH H.International phải bồi thường thêm cho bà ít nhất 04 tháng tiền lương theo HĐLĐ.

Lưu ý: Bà Hà cần xác nhận lại với Luật sư về mức lương cụ thể trong 6 tháng trước khi

bị cho nghỉ việc (tháng 5, 6, 7, 8, 9, 10/2017)

3 Liên quan đến việc công ty TNHH H.International giữ sổ bảo hiểm xã hội của bà Nguyễn Thị Hà

Căn cứ Luật Bảo hiểm xã hội 2014, Quyết định số 959/QĐ-BHXH an hành quy định về quản lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; quản lý sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế của Bảo hiểm xã hội Việt Nam:

Trang 9

“Điều 18 Quyền của người lao động - Luật bảo hiểm xã hội 2014

2 Được cấp và quản lý sổ bảo hiểm xã hội

Điều 19 Trách nhiệm của người lao động

3 Bảo quản sổ bảo hiểm xã hội

Điều 49 Trách nhiệm của người tham gia - Quyết định 959/QĐ-BHXH

3 Tự bảo quản sổ BHXH (từ 01/01/2016), thẻ BHYT.”

Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành, Người lao động được giữ sổ bảo hiểm xã hội của mình từ ngày 1/1/2016

Bà Hà cần xác nhận lại với Luật sư về việc công ty H đã trả sổ bảo hiểm xã hội cho bà hay chưa Trường hợp chưa trả, bà Hà có quyền yêu cầu Công ty TNHH H.International bàn giao lại sổ BHXH cho bà

V Soạn thảo Đơn khởi kiện

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Hà Nội, ngày… tháng …… năm…….

ĐƠN KHỞI KIỆN

Kính gửi: Toà án nhân dân quận Ba Đình

Người khởi kiện: NGUYỄN THỊ HÀ

Trang 10

Địa chỉ: Pxx K2, phường T, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội

Số điện thoại: ………(nếu có); số fax: ……….(nếu có)

Địa chỉ thư điện tử: ……… (nếu có)

Người bị kiện: CÔNG TY TNHH H.INTERNATIONAL

Địa chỉ: Tầng 16, số 2xx, phố Đ, phường Liễu Giai, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội

Số điện thoại: ………(nếu có); số fax: ……….(nếu có)

Địa chỉ thư điện tử: ……… (nếu có)

Yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:

Tôi bắt đầu làm việc tại Công ty TNHH H.International từ ngày 2/3/2010 và đã ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn vào ngày 30/12/2011 Chức danh chuyên môn trong hợp đồng lao động là kế toán, mức lương hàng tháng theo hợp đồng lao động là 12.600.00 đồng Trong quá trình làm việc, tôi luôn hoàn thành tốt công việc được giao, chưa bao giờ bị xử lý kỷ luật

Khoảng 11 giờ ngày 30/10/2017, khi đang làm việc bình thường thì tôi được mời vào phòng họp để nói chuyện với ông T – luật sư của công ty TNHH H.International do Tổng giám đốc mời đến Tại cuộc nói chuyện này, tôi được biết mình bị cho nghỉ việc với lý do Công ty thay đổi cơ cấu và lý do kinh tế Tổng giám đốc của công ty – ông Peter ra lệnh cho tôi phải dọn dẹp đồ đạc và rời khỏi Công ty ngay lập tức, không cần bàn giao công việc đang làm Ông Peter cũng bắt tôi phải ngồi cách ly trong một phòng riêng, cấm tôi không được nói chuyện với bất cứ ai trong lúc ông ấy nói chuyện với luật sư Sự việc này

có sự chứng kiến của Luật sư T và nhiều nhân viên khác trong công ty

Việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động này của Công ty TNHH H.International là trái pháp luật và đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến quyền, lợi ích hợp pháp của tôi Để bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, tôi buộc phải khởi kiện Công ty TNHH H.International ra Toà án

Vì vậy, bằng đơn khởi kiện này tôi yêu cầu:

1 Toà án nhân dân quận Ba Đình thụ lý giải quyết vụ kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại giữa nguyên đơn - Nguyễn Thị Hà và bị đơn – Công ty TNHH H.International;

2 Yêu cầu Công ty TNHH H.International bồi thường thiệt hại cho tôi do hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, cụ thể: Căn cứ Điều 42 Bộ luật lao động 2012 về Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động:

- Chi trả 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động (Căn cứ khoản 1 Điều 42 Bộ luật lao động 2012);

- Ngoài ra, do Công ty TNHH H.International không muốn nhận lại tôi vào làm việc và

Ngày đăng: 30/10/2021, 21:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w