1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

bài thuyết trình VĂN HÓA TÂY NGUYÊN

24 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 8,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Diện tích khoảng 54.7 nghìn km²- Tây Nguyên là khu vực cao nguyên bao gồm 5 tỉnh, xếp theo thứ tự vị trí địa lý từ bắc xuống nam gồm Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng - L

Trang 1

VĂN HÓA TÂY

Trang 2

MỤC LỤC

V Ă N H Ó A T Â Y N G U Y Ê N

Trang 3

ĐIỀU KIỆN

TỰ NHIÊN

Trang 5

- Diện tích khoảng 54.7 nghìn km²

- Tây Nguyên là khu vực cao nguyên bao gồm 5 tỉnh, xếp theo

thứ tự vị trí địa lý từ bắc xuống nam gồm Kon Tum, Gia Lai,

Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng

- Là một trong 3 tiểu vùng của miền trung Việt Nam, cùng với

Bắc Trung Bộ Việt Nam và Nam Trung Bộ Việt Nam hợp

thành miền trung của Việt Nam

- Phía đông giáp vùng duyên hải Nam Trung Bộ, phía nam

giáp Đông Nam Bộ, phía tây giáp Lào và Campuchia

- Tây Nguyên có vị trí ngã 3 biên giới Việt Nam, Lào,

Campuchia, có khả năng mở rộng giao lưu kinh tế, văn hoá

với các nước trong tiểu vùng sông Mê Kông

VỊ TRÍ ĐỊA LÝ

NHÓM 13: VĂN HÓA VIỆT NAM

TÂY NGUYÊN

Trang 6

VỊ TRÍ ĐỊA LÝ

NHÓM 13: VĂN HÓA VIỆT NAM

ĐỊA HÌNH

sông chảy về các vùng lãnh thổ lân cận.

cây công nghiệp nhiệt đới như cà phê, cao

su, hồ tiêu…

Trang 7

MÙA KHÔ

NHÓM 13: VĂN HÓA VIỆT NAM

MÙA MƯA

miên, cả rừng núi bị phủ một bức màn nước

Trang 8

ĐIỀU KIỆN

DÂN CƯ

Trang 9

LỊCH SỬ

TÂY NGUYÊN

Tây Nguyên xưa vốn là vùng đất tự trị, địa bàn sinh sống của các

bộ tộc thiểu số, chưa phát triển thành một quốc gia hoàn chỉnh, chỉ

có những quốc gia mang tính chất sơ khai của người Êđê, Giarai,

Mạ

Trang 10

LỊCH SỬ

- Năm 1888, Mayréna sang Đông Dương, chọn Dakto ( thuộc Kontum) làm vùng đất cát cứ và chinh phục được các bộ lạc thiểu số -> thành lập Vương quốc Sedang

- 1889 được đặt dưới quyền quản lý của Công sứ Quy Nhơn và vương quốc Sedang cũng bị giải tán

- 1891, bác sĩ Alexandre Yersin mở cuộc thám hiểm và phát hiện ra Cao nguyên Lang Biang

- thực dân Pháp buộc vua Đồng Khánh ban dụ trao cho họ Tây Nguyên để họ có toàn quyền tổ chức hành chính và trực tiếp cai trị các dân tộc thiểu số ở đây

THỜI PHÁP THUỘC

- Năm 1471, vua Lê Thánh Tông thân chinh

đi đánh Chiêm Thành Vùng đất phía Tây

núi Thạch Bi, tức miền bắc Tây Nguyên

ngày nay được lập thành nước Nam Bàn,

vua nước này được phong là Nam Bàn

vương

- Đến thời Chúa Nguyễn Hoàng -> ra sức

loại trừ các ảnh hưởng còn lại của

Champa

- Các bộ tộc thiểu số ở đây dễ dàng chuyển

sang chịu sự bảo hộ của người Việt

TRƯỚC THẾ KỶ XIX

- Vua Minh Mạng đưa phần lãnh thổ Tây Nguyên vào bản đồ Việt Nam (Đại Nam nhất thống toàn đồ – 1834)

- Người Việt đã đẩy các

bộ tộc thiểu số lên hẳn vùng Tây Nguyên (như trường hợp của bộ tộc Mạ)

THỜI NHÀ NGUYỄN

Trang 11

CÁC DÂN TỘC

Ở TÂY NGUYÊN

- Thời Pháp thuộc người Kinh bị hạn chế lên vùng Cao nguyên nên các bộ tộc người Jrai và Êđê sinh hoạt trong xã hội truyền thống

- Mãi đến giữa thế kỷ XX sau Cuộc di cư năm

1954 thì số người Kinh mới tăng dần

- Nhiều dân tộc thiểu số chung sống với dân tộc Việt (người Kinh) ở Tây Nguyên như Ba Na, Jrai, Êđê, Cơ Ho, Mạ, Xơ Đăng, Mơ Nông

Trang 12

Tên gọi khác: Bơ

Nâm, Roh, Kon Kđe,

Ala Kông, Kpang

Kông

BA NA

CÁC DÂN TỘC Ở TÂY NGUYÊN

6 DÂN TỘC TIỂU SỐ

Tên tự gọi: Anăk Ea

Ðê, Ra Ðê, ê Ðê, Ðê

Ê-ĐÊ

Tên tự gọi: Gia Rai

Tên gọi khác: Giơ Ray, Chơ Ray

GIA- RAI

Tên tự gọi: Xơ Teng,

Tơ Ðrá ,Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu

Tên gọi khác:

Hđang, Kmrâng, Con lan, Brila

XƠ ĐĂNG

Tên tự gọi: Cơ Ho

CƠ HO

Tên tự gọi: Mạ.Tên gọi khác: Châu

Mạ, Chô Mạ, Chê

Mạ

are communication tools that

MẠ

Trang 13

- Tên tự gọi: Ba Na.

Krem.

Nam Á).

đời ở Trường Sơn - Tây Nguyên đã kiến lập nên nền văn hoá độc đáo ở đây Họ là tộc người có dân số đông nhất, chiếm vị trí rất quan trọng trong các lĩnh vực văn hoá, xã hội ở các cao nguyên miền Trung nước ta.

Tàn dư mẫu hệ vẫn thể hiện rõ trong quan hệ gia đình, tộc họ và trong hôn nhân Sự tan rã của chế độ mẫu hệ ở đây đã nâng cao địa vị của nam giới nhưng phía mẹ vẫn gần gũi hơn Sau hôn nhân còn phổ biến tập quán cư trú phía nhà vợ Xã hội có người giàu, người nghèo và tôi tớ.

BA NA

Trang 14

- Tên tự gọi: Anăk Ea Ðê, Ra Ðê, ê Ðê, Ðê.

Bih, Blô, Kah, Kdrao, Dong Kay, Dong Mak, Ening, Arul, Hwing, Ktlê, £pan

Malayô-Pôlinêxia (ngữ hệ Nam Ðảo).

Nguyên Dấu vết về nguồn gốc hải đảo của dân tộc Ê Ðê đã phản ánh lên từ các sử thi và trong nghệ thuật kiến trúc, nghệ thuật tạo hình dân gian

con mang họ mẹ, con gái út là người thừa kế

hội duy nhất Người trong một buôn thuộc về nhiều chi họ

(Pô pin ca) thay mặt vợ điều hành mọi hoạt động của cộng đồng.

Ê- ĐÊ

Trang 15

- Tên tự gọi: Gia Rai.

- Tên gọi khác: Giơ Ray, Chơ Ray

- Nhóm địa phương: Chor, Hđrung, Aráp, Mthur, Tơbuân

- Hội đồng chọn người đứng đầu làng (Ơi pơ thun, Thap lơi hay Khoa plơi), có lệ làng gọi là Kđi Xã hội Gia Rai truyền thống có hình thức cố kết vùng gọi là Tơ ring

- Dòng họ theo chế độ mẫu hệ nên phả hệ hoàn toàn tính về dòng mẹ Khối cộng đồng máu mủ được tập hợp thành từng họ - Kơ nung hoặc Ðgioai Mỗi họ thường được phân chia nhiều ngành hoặc phân đôi, thành họ khác Mỗi họ, mỗi ngành kiêng một tô tem riêng

- Gia đình nhỏ mẫu hệ là nét nổi bật của người Gia Rai khác với trường hợp người Ê Ðê là đại gia đình mẫu hệ

GIA- RAI

Trang 16

- Tên tự gọi: Xơ Teng, Tơ Ðrá ,Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng, Tà

Trĩ, Châu

- Tên gọi khác: Hđang, Kmrâng, Con lan, Brila

- Nhóm địa phương: Xơ Teng, Tơ Ðrá, Mnâm, Ca Dong, Ha

Lăng, Tà Trĩ, Châu

- Dân số: 169.501 người

- Ngôn ngữ: Tiếng Xơ Ðăng thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me

(ngữ hệ Nam Á), gần với tiếng Hrê, Ba Na, Gié Triêng

Giữa các nhóm có một số từ vựng khác nhau Chữ viết

dùng hệ chữ cái La-tinh, mới hình thành cách đây mấy

chục năm

- Lịch sử: Người Xơ Ðăng thuộc số cư dân sinh tụ lâu đời ở

Trường Sơn - Tây Nguyên và vùng lân cận thuộc miền núi

của Quảng Nam, Quảng Ngãi

- Quan hệ xã hội: Từng làng có đời sống tự quản, đứng đầu

là ông "già làng" Lãnh thổ của làng là sở hữu chung, trên

đó mỗi người có quyền sở hữu ruộng đất để làm ăn Tuy

đã hình thành giàu - nghèo nhưng chưa có bóc lột một

cách rõ rệt, xưa kia nô lệ mua về và người ở đợ không bị

đối xử hà khắc Quan hệ cộng đồng trong làng được đề

cao

XƠ ĐĂNG

Trang 17

- Tên tự gọi: Cơ Ho.

- Nhóm địa phương: Xrê, Nộp, Cơ Dòn, Chil, Lát, Tơ Ring

- Quan hệ xã hội: Làng (bon) là một công xã nông thôn còn

mang nặng những dấu vết của công xã thị tộc mẫu hệ

Ðứng đầu một làng là chủ làng (Kuang bon)

- Người Cơ ho vẫn tồn tại 2 hình thức gia đình: gia đình lớn

và gia đình nhỏ( phổ biến hơn)

- Tổ chức gia đình theo chế độ mẫu hệ Người đàn bà

đóng vai trò chủ động hôn nhân; sau hôn lễ, người con

trai về ở bên nhà vợ; con cái tính dòng họ theo phía mẹ

Nam nữ thanh niên Cơ Ho xây dựng gia đình khá sớm (nữ

thường 16 - 17 tuổi; nam từ 18 - 20 tuổi) và đó chính là

một trong những nguyên nhân làm cho mức sinh của

người Cơ Ho khá cao, bình quân một phụ nữ sinh khoảng

5 - 6 con

CƠ HO

Trang 18

- Tên tự gọi: Mạ.

- Tên gọi khác: Châu Mạ, Chô Mạ, Chê Mạ

- Nhóm địa phương: Mạ Ngăn, Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ Krung

- Dân số: 41.405 người

- Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me

(ngữ hệ Nam Á)

- Lịch sử: Người Mạ là cư dân sinh tụ lâu đời ở Tây Nguyên

- Quan hệ xã hội: Làng là đơn vị tổ chức xã hội cao nhất

của người Mạ do chủ làng đứng đầu (quăng bon) Chủ

làng có nhiệm vụ cùng tế trong các nghi lễ mang tính chất

cộng đồng

- Người Mạ tồn tại hai hình thức gia đình: gia đình lớn phụ

quyền và gia đình nhỏ phụ quyền

MẠ

Nhà dài người Mạ

Trang 19

ĐẶC TRƯNG

VĂN HÓA

VẬT CHẤT

Trang 21

ĐẶC TRƯNG

VĂN HÓA

TINH THẦN

Trang 23

NÉT TRỘI VĂN HÓA

Ngày đăng: 30/10/2021, 19:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

ĐỊA HÌNH - bài thuyết trình VĂN HÓA TÂY NGUYÊN
ĐỊA HÌNH (Trang 6)
- Người Cơ ho vẫn tồn tại 2 hình thức gia đình: gia đình lớn và gia đình nhỏ( phổ biến hơn). - bài thuyết trình VĂN HÓA TÂY NGUYÊN
g ười Cơ ho vẫn tồn tại 2 hình thức gia đình: gia đình lớn và gia đình nhỏ( phổ biến hơn) (Trang 17)
- Người Mạ tồn tại hai hình thức gia đình: gia đình lớn phụ quyền và gia đình nhỏ phụ quyền. - bài thuyết trình VĂN HÓA TÂY NGUYÊN
g ười Mạ tồn tại hai hình thức gia đình: gia đình lớn phụ quyền và gia đình nhỏ phụ quyền (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w