1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những đêm trắng – chuyển thể từ văn học sang điện ảnh dưới góc nhìn liên văn hóa.

190 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 190
Dung lượng 3,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những đêm trắng – chuyển thể từ văn học sang điện ảnh dưới góc nhìn liên văn hóa.Những đêm trắng – chuyển thể từ văn học sang điện ảnh dưới góc nhìn liên văn hóa.Những đêm trắng – chuyển thể từ văn học sang điện ảnh dưới góc nhìn liên văn hóa.Những đêm trắng – chuyển thể từ văn học sang điện ảnh dưới góc nhìn liên văn hóa.Những đêm trắng – chuyển thể từ văn học sang điện ảnh dưới góc nhìn liên văn hóa.

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-LƯU NGỌC LY

NHỮNG ĐÊM TRẮNG – CHUYỂN THỂ TỪ VĂN HỌC SANG ĐIỆN

ẢNH DƯỚI GÓC NHÌN LIÊN VĂN HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Hà Nội - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-LƯU NGỌC LY

NHỮNG ĐÊM TRẮNG – CHUYỂN THỂ TỪ VĂN HỌC SANG ĐIỆN

ẢNH DƯỚI GÓC NHÌN LIÊN VĂN HÓA

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học nước ngoài

Mã số: 60 22 02 45

Người hướng dẫn khoa học:

TS Nguyễn Phương Liên

Hà Nội - 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Qua luận văn này tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn tới các thầy cô giáokhoa Văn học – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn– Đại họcQuốc gia Hà Nội đã tận tình giảng dạy, chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt nhữngnăm học vừa qua, giúp tôi trưởng thành hơn trong chuyên môn cũng như cuộcsống

Tôi xin tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Phương Liên, người

đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và đóng góp những ý kiến quý báu cho tôitrong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thành viên khóa K61 khoa Vănhọc của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia

Hà Nội đã giúp đỡ, động viên và chia sẻ khó khăn cùng tôi trong quá trình họctập tại trường

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Trong luận văn có tham khảo một số kết quả nghiên cứu của các nhà khoahọc, các bạn học viên, các khoá luận tốt nghiệp, luận văn của các khoá trước.Công trình này chưa được tác giả nào công bố

Hà Nội, tháng 6 năm 2019

Học viên

LƯU NGỌC LY

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1.Lý do chọn đề tài 3

2.Lịch sử vấn đề 4

2.1 Tư liệu tiếng Việt 4 2.2.Tư liệu tiếng nước ngoài 5

2.3.Những vấn đề tồn tại 6

3.Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5.Cấu trúc luận văn 8

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT CHUYỂN THỂ 10

1.1.Khái niệm chuyển thể 10

1.1.1 Chuyển thể như là tái hiện 10 1.1.2 Chuyển thể như là kiếp sau 17 1.2.Tác phẩm Những đêm trắng 23

1.2.1 Các phiên bản chuyển thể Những đêm trắng

23

1.2.2 Tiềm năng chuyển thể

25

1.2.2.1 Tiềm năng từ đề tài

25 1.2.2.2 Tiềm năng từ thể loại

29 1.2.2.3 Từ nhà làm phim

36

1

Trang 6

1.3.Chuyển thể dưới góc nhìn liên văn hóa 39

1.3.1 Giao tiếp liên văn hóa

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chuyển thể từ văn học đến điện ảnh cũng lâu đời như chính lịch sử điệnảnh Ngay từ buổi bình minh của điện ảnh, ngành nghệ thuật này đã gắnchặt số mệnh của nó với văn học Tuy nhiên hoạt động chuyển thể thườngđược coi là việc tạo ra bản sao mô phỏng, tái hiện văn học dưới dạng hìnhảnh Hiểu chuyển thể như là tái hiện là quan niệm mà luận văn sẽ áp dụng đểkhởi đầu nghiên cứu chuyển thể, song, qua đó, gợi mở ra những khả năng kháccủa chuyển thể

Tác phẩm Những đêm trắng (White nights) của F.M Dostoesky là một tác

phẩm văn học đã được chuyển thể tới hơn 19 lần Điều đặc biệt là những phiênbản chuyển thể của nó luôn luôn có sự biến đổi về mặt không - thời gian sovới nguồn văn học, từ thế kỉ XIX của nước Nga đến thế kỉ XX, thậm chí làXXI của các nước khác trên thế giới Một tác phẩm có lịch sử chuyển thể đầy

ấn tượng và đặc biệt như Những đêm trắng sẽ cho phép luận văn áp dụng

những khả năng của chuyển thể một cách triệt để

Dựa trên lý thuyết về chuyển thể, luận văn đặt chuyển thể trong mốiquan hệ với liên văn hóa để thấy được mối quan hệ hai chiều giữa chúng,đồng thời, tạo lập tiền đề lý thuyết cho phép thăm dò các đặc điểm văn hóa

ẩn sau hai phiên bản chuyển thể mà luận văn sẽ tập trung phân tích là Bốn đêm của kẻ mộng mơ (Phiên bản chuyển thể Những đêm trắng của đạo diễn người Pháp Robert Bresson) và Người yêu dấu (Phiên bản chuyển thể của

đạo diễn người Ấn Độ Sanjay Leela Bhansali) Vì thế, chúng tôi đặt tên cho

luận văn: Những đêm trắng – chuyển thể từ văn học sang điện ảnh dưới góc nhìn liên văn hóa.

Trang 9

2 Lịch sử vấn đề

2.1.Tư liệu tiếng Việt

Ở Việt Nam, điện ảnh có từ những năm 1890 Tuy nhiên, dấu mốc thực

sự cho sự ra đời của nền điện ảnh Việt Nam vào năm 1923, khi xuất hiện

bộ phim truyện đầu tiên: Kim Vân Kiều - do Công ty Chiếu bóng Đông Dương thực hiện (dựa trên tác phẩm bất hủ Truyện Kiều của đại thi hào

Nguyễn Du) Từ đó trở đi, những bộ phim chuyển thể đã trở thành kí ức

vàng son một thời trong tâm trí của khán giả: Lục Vân Tiên (1957, dựa theo truyện Nôm Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu), Vợ chồng A Phủ (1961, chuyển thể từ truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài), Chị

Tư Hậu (1963, chuyển thể từ tác phẩm Một chuyện chép ở bệnh viện của nhà văn Bùi Đức Ái), Nổi gió (1966, dựa trên vở kịch cùng tên của Đào Hồng Cẩm), Loan mắt nhung (1970, dựa theo truyện Loan mắt nhung của Nguyễn Thuỵ Long), Trống mái và Gánh hàng hoa (1971, dựa theo tiểu thuyết của

nhóm Tự lực văn đoàn)… Thế nhưng, vấn đề nghiên cứu chuyển thể còn khárời rạc Nghiên cứu chuyển thể gần như chỉ xuất hiện dưới hình thức những

bài báo đăng trên tạp với dung lượng ít ỏi: "Về cái gọi là tính văn học trong điện ảnh" (Tạp chí Nghiên cứu Nghệ thuật, số 06-1984, Lê Châu); "Từ văn học đến điện ảnh" (Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 2-2001, Hương Nguyên); "Mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh" (Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 10-2002, Minh Trí)…Các bài báo đều mới chỉ nhấn mạnh đến vai

trò của văn bản nguồn (các tác phẩm văn học) đối với văn bản đích (phimchuyển thể) mà chưa chỉ được ra những khả năng chuyển thể cụ thể Có thểthấy, ở Việt Nam, chuyển thể đã được tiếp cận ở những cấp độ: nghiên cứuchuyển thể là hình thức của liên văn bản; nghiên cứu chuyển thể như làmột hình thức so sánh liên ngành (đối chiếu giữa một bên là truyện và phim

và chỉ ra sự khác biệt giữa hai loại hình) Vấn đề nghiên cứu chuyển thể ở Việt

Trang 10

Nam chưa mang lại ý thức sâu sắc giữa tác phẩm và bộ phim Điều này cóthể do xuất phát thực tế điện ảnh chuyển thể còn tương đối nghèo nàn, do

đó, chưa thấy tính chất phức tạp của chuyển thể Chỉ đến công trình củaNguyễn Nam [8], ông mới có những bước nhìn nhận vấn đề chuyển thể rộnghơn không chỉ ở khía cạnh phong cách sáng tạo của

Trang 11

tác giả mà còn là sự trượt nghĩa gốc của bản chuyển thể, đặt văn bảnchuyển thể trong vùng văn hóa có nhiều yếu tố tiếp nhận phức tạp hơn.

Các công trình đó là: Từ Chùa Đàn đến Mê Thảo: Liên văn bản trong văn chương và điện ảnh (2000) và Sự thực tuyệt đối trong tự sự tiếp nhận: tiếp nhận và cải biên Rashomon ở Việt Nam (2011) “Trong khi ở tiểu luận đầu

tiên Từ Chùa Đàn đến Mê Thảo, Nguyễn Nam mặc dù có nhắc đến “quan

hệ giữa tác phẩm văn học và tác phẩm điện ảnh”, tuy nhiên ông tập trungnhiều hơn vào việc chỉ ra những khác biệt trong sự xử lý những đơn vị hìnhthức giữa hai tác phẩm để khám phá những lớp nghĩa chìm, bởi vậy cảibiên/chuyển thể vẫn chỉ được hiểu là sự biến đổi; thì ở tiểu luận về tiếp nhận

và cải biên Rashomon, Nguyễn Nam đã tiến một bước dài khi ứng dụng kháiniệm cải biên vào phân tích đời sống của bộ phim Rashomon ở Việt Nam”[1, tr.3] Tiếp đó, một vài học giả đã bắt đầu nhắc đến khái niệm liên vănhóa trong văn học, văn hóa hay trong lĩnh vực sử học như trong bài viết của

Thái Phan Vàng Anh trong Toàn cầu hóa và xu hướng đa văn hóa, liên văn hóa trong văn học (Nhìn từ văn xuôi Việt Nam đầu thế kỉ XXI): “Thay vào

đó, đa văn hóa, liên văn hóa sẽ làm nên diện mạo mới của văn hóa toàn cầu,nơi mà cả cái phổ quát lẫn cái riêng/khác đều có thể cùng tồn tại” [2] Tác giả

đã chỉ ra rằng liên văn hóa là một xu hướng tất yếu của dòng chảy văn họcnói chung và Việt Nam nói riêng Tuy nhiên, nhìn chuyển thể từ văn họcsang điện ảnh dưới góc nhìn của liên văn hóa vẫn còn là “mảnh đất” trống

2.2 Tư liệu tiếng nước ngoài

Tại giải Oscar 2009, trong số 5 đề cử cho Phim hay nhất có tới 3 bộ

phim là phim chuyển thể từ các tác phẩm văn học: The Curious Case of Benjamin Button chuyển thể từ một truyện ngắn của nhà văn Mỹ Frank Scott Fritzgerald, The Reader chuyển thể từ tác phẩm best-seller của nhà văn Đức Bernhard Schlink và Revolutionary Road chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên

Trang 12

của nhà văn Mỹ Richard Yates Thành công lớn của phim No Country for Old Men (chuyển thể từ tác phẩm cùng tên của nhà văn Cormac McCarthy) tại Oscar 2008 và The Reader (chuyển thể từ tiểu thuyết The Reader của

Bernhard Schlink) tại Oscar 2009 khiến giới phê bình phim ngày càng ấn tượngvới phim chuyển thể từ tác phẩm văn học Khá nhiều cuộc

Trang 13

bình chọn liên quan đến phim chuyển thể đã thu hút sự quan tâm của đôngđảo khán giả, các nhà nghiên cứu – phê bình điện ảnh và báo giới Hoạtđộng chuyển thể sôi nổi tại kinh đô điện ảnh Holywood và cả bên ngoài đếchế này luôn chiếm ưu thế trong sản xuất phim Điều này đã tạo động lựccho các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực chuyển thể Tài liệu nghiên cứuchuyển thể cũng vì thế trở nên rất đa dạng Có thể kể đến những tác phẩmkhởi đầu và có tầm quan trọng trong nghiên cứu chuyển thể như:

Introduction: The Theory and Practise of Film Adaptation; In Literature and Film: a Guide to Theory and Practise of Film Adaptation (Robert Stam

và Alessandra Raengo); The Theory of Adaption (Linda Hutcheon); The adaption industry, the cultural economy of comtemporary literature adaption (Simone Murray); Beyond fidelity: the dialogics of adaptation

( Robert Stam, biên tập James Naremore)… Các nghiên cứu trên đã bàn đếnđịa hạt của chuyển thế như là sự diễn giải, sự viết lại,… và lí giải khá chi tiếtcho những cơ chế đó Các học giả cũng bắt đầu chạm đến mối quan hệ củaliên văn hóa và chuyển thể qua các bài so sánh những trào lưu phim đang

được chuyển thể rầm rộ trên thế giới như Boy over Flower hay Ngôi nhà hạnh phúc Nhìn chung, lý thuyết chuyển thể trong môi trường liên văn

hóa từ tài liệu nước ngoài khá dồi dào và tiềm năng

2.3.Những vấn đề tồn tại

Qua khảo sát tư liệu nghiên cứu về chuyển thể ở Việt Nam, ta thấy kháiniệm này được nhìn nhận tương đối đơn giản, chưa bao quát được thựctiễn Chuyển thể có phần xơ cứng bởi quan niệm cho rằng chuyển thể làđưa một tác phẩm văn học lên phim mà chưa thấy được đó chính là đưa một

hệ thống kí hiệu này được dịch sang hệ thống kí hiệu khác, đưa một vănbản vốn sáng tạo ở ngữ cảnh này vào một ngữ cảnh khác, đưa kết quả sángtạo của một nhà văn trở thành một kết quả tái tạo của người đạo diễn trong

Trang 14

một thế giới không đường biên Ở phương Tây, các học giả đã bắt đầukhơi dậy mối quan tâm với chuyển thể trong mối liên hệ liên văn bản vớivăn học, bước đầu phá bỏ đi vị trí thứ bậc trong quan hệ chuyển thể với vănbản nguồn Văn học từ chỗ độc là sáng tạo thứ nhất, là nguyên bản chi phốicảm quan của khán giả dần được xem xét lại Hoạt động chuyển thể điện ảnh

vì thế bắt đầu có

Trang 15

sự trỗi dậy mạnh mẽ của ý thức tạo điều kiện cho việc tiếp cận phim chuyểnthể như là một mối liên hệ liên văn bản, thậm chí đối thoại với văn bản nguồntrong một bối cảnh văn hóa liên văn hóa Bằng cách đó, chúng ta có thể nhìnchuyển thể qua lăng kính của của liên văn hóa để thấy được tiềm năng vĩnhviễn và dồi dào của chuyển thể với giao lưu và hội nhập văn hóa Qua khảosát tư liệu trong và ngoài nước, chúng tôi cũng nhận thấy rằng tài liệu bàn

về chuyển thể với trường hợp Những đêm trắng chưa nhiều, thậm chí chưa

được bàn luận một cách trực tiếp Điều này đã thôi thúc người viết mạnh dạnchọn vấn đề này để nghiên cứu

3 Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chuyển thể cùng những khả năng của

nó, chuyển thể và mối quan hệ với giao tiếp liên văn hóa Qua đó, luận văn cóthể nhận diện và phân tích được hạt nhân cơ bản được bảo lưu cũng như

biến đổi khi chuyển thể từ văn học lên phim của tác phẩm Những đêm trắng

trong bối cảnh liên văn hóa ấy

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

+ Phạm vi nội dung: Luận văn sẽ tiến hành tìm hiểu các bình diện cụ thể

sau: lý thuyết và ứng dụng của chuyển thể, mối quan hệ của chuyển thể và giao tiếp liên văn hóa, những vấn đề về hình tượng và thể loại của tác phẩm văn học nguồn và Những đêm trắng.

+ Phạm vi tư liệu: Tiến hành phương pháp nghiên cứu trường hợpthông qua việc khảo sát các tài liệu liên quan đến:

* Các tài liệu liên quan đến nội dung chuyển thể văn học và điện ảnh

* Truyện Những đêm trắng của tác giả F.M Dostoevsky

* Phim Bốn đêm của kẻ mộng mơ của đạo diễn Robert Bresson

* Phim Người yêu dấu của đạo diễn Sanjay Leela Bhansali

Trang 16

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn có sự kết hợp của nhiều phương pháp:

- Phương pháp liên ngành nhằm phân tích các quan hệ chuyển thể vănhọc và điện ảnh

- Phương pháp xã hội học trong việc phác họa lại lịch sử hình thành củakhái niệm chuyển thể

- Phương pháp so sánh để làm nổi bật đặc điểm của các type chuyển thể sẽtrình bày cũng như đặc điểm của các phim chuyển thể với văn bản nguồn

và với nhau cũng như triển khai các thảo luận về định nghĩa khái niệm chuyểnthể

- Phương pháp ký hiệu học và ký hiệu học văn hóa để tìm hiểu những dòngchảy văn hóa ngầm ẩn chi phối đến các kỹ thuật chuyển thể từ văn học sangđiện ảnh

- Phương pháp phân tích – tổng hợp giúp bóc tách từng yếu tố cấu thànhcủa các văn bản dưới tác động của văn hóa và sau cùng là tổng hợp để thấyđược một bức tranh tổng quát về các sinh thể chuyển thể mới được hìnhthành

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: TỔNG QUAN LÍ THUYẾT CHUYỂN THỂ ĐIỆN ẢNH.ĐỌC VĂN BẢN NGUỒN

Trong chương này, luận văn sẽ trình bày những quan niệm, khái niệm

về chuyển thể cùng với sự khái quát đặc trưng của chuyển thể từ vănhọc sang điện ảnh, để từ đó đi đến quan niệm về chuyển thể của luậnvăn Song song với đó, luận văn sẽ giới thiệu và đánh giá về tiềm năng

chuyển thể của văn bản nguồn Những đêm trắng để lí giải cho hiện tượng

Trang 17

chuyển thể mang tính vượt không gian và thời gian này Từ đó, luận văn tiếntới xác lập mối quan hệ giữã chuyển thể và giao tiếp liên văn hóa đểxác lập khung lý thuyết khi phân tích hiện tượng chuyển thể từ văn họcsang điện ảnh dưới góc nhìn liên văn hóa.

Chương 2: TÍNH LIÊN VĂN HÓA Ở CẤP ĐỘ HÌNH TƯỢNG

Trang 18

Áp dụng lý thuyết đã xác lập ở Chương 1, luận văn sẽ đi vào phântích tính liên văn hóa ở cấp độ thứ nhất, cấp độ hình tượng của hai bản

chuyển thể điện ảnh là Bốn đêm của kẻ mộng mơ (Robert Bresson 1971)

và Người yêu dấu (Sanjay Leela Bhansali 2003) qua các tín hiệu về hình

tượng Cụ thể là ở các khía cạnh: Không gian, thời gian và nhân vật để từ

đó thấy được văn hóa đã tác động, chi phối và tạo ra những tác phẩmchuyển thể mới như thế nào

Chương 3: TÍNH LIÊN VĂN HÓA Ở CẤP ĐỘ THỂ LOẠI

Trong chương này, luận văn sẽ đi vào phân tích những dấu hiệungầm ẩn của văn hóa mỗi quốc gia (Pháp và Ấn Độ) đã tác động lên đặctrưng thể loại, cả ở hình thức và nội dung của hai bản chuyển thể điệnảnh Trong cấp độ thể loại, luận văn tập trung làm rõ hai khía cạnh làphong cách riêng của hai đạo diễn: tư tưởng và các kỹ thuật phim đã được

áp dụng Qua đó, chúng ta sẽ thấy được tính bản địa khi so sánh với vănbản văn chương nguồn

Trang 19

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT CHUYỂN THỂ

1.1 Khái niệm chuyển thể

1.1.1 Chuyển thể như là tái hiện

Đây là một quan niệm phổ biến nhất về chuyển thể trong sáng tạo điện ảnh.Đặc trưng chất liệu ngôn từ của văn học mang đến những hình tượng giántiếp và không có tính trực quan Điện ảnh lại là loại hình nghệ thuật sinhsau đẻ muộn, bởi vậy, nó có tham vọng tổng hợp nhiều khả năng trần thuậtbên trong mình Nhờ những phương tiện điện ảnh mang đến hình ảnh sốngđộng, khả năng hồi cố, đan cài, song song trong tâm tưởng, điện ảnh đã giúptrực quan hóa văn học mà kịch sân khấu hay nhà hát opera không thể tái hiệnđược Khái niệm chuyển thể (adaptation, một số cách dịch khác là cảibiên/thích nghi) trong các diễn ngôn nghiên cứu điện ảnh, đặc biệt là điệnảnh chuyển thể và các nghiên cứu sinh học Nguyên nghĩa, adaptio/adaptare

có nghĩa là làm cho vừa vặn (to make fit, to alter) Chuyển thể (trong mốiquan hệ giữa văn học và điện ảnh) đã trở thành một hình thức gắn liền vớilịch sử phát triển của màn bạc ngay từ khi nó ra đời vào thế kỉ XX Điệnảnh một mặt gắn chặt với những tiến bộ khoa học giúp nó “sao chép”những chuyển động của đời sống thực, mặt khác tìm nội dung cho việc kể lạiđời sống ở người anh cả lão làng – văn học Tới năm 1915, các hình ảnh vănchương sẽ ngày càng trở thành chất liệu cho điện ảnh nhằm tách màn bạc

ra khỏi truyền thống nghệ thuật tạp kỹ và đem đến một kỳ vọng mới từ xã hộicho ngành nghệ thuật máy móc (nổi bật nhất là phiên bản phim tiếng Ý

của tiểu thuyết Ba Lan Quo vadis năm 1913 cùng tác phẩm huyền thoại Intolerance của D.W.Griffith năm 1916, sử dụng điệp khúc hình ảnh trong

thơ của Walt Whitman để kết nối kinh Tân ước, hai câu chuyện lịch sử và

một tấn kịch hiện đại lại với nhau Năm 1932, tác phẩm The Magic Mountain

Trang 20

được dựng thành phim kéo theo đó là tâm trạng mâu thuẫn của chính tácgiả với phim chuyển thể: căm ghét nó - nhưng cũng rất yêu nó Tới năm

1996, các tác phẩm của Jane Austen như Sense and Sesibility (1915); Clueless (1915)… cũng được chuyển thể, đã tạo nên một thế hệ độc giả mới

quan tâm đến chính tác phẩm văn

Trang 21

chương của Jane thông qua việc xem phim Điện ảnh từ thời sơ khai đãluôn kiếm tìm những nguồn văn học khác nhau để khai thác (Các tiểu thuyết,kịch văn học, truyện ngắn, thơ và thậm chí cả bài luận cũng luôn có đối xửxứng tầm trong phim ảnh), vì thế, Dudley Andrew đã chỉ ra rằng: “việcnghiên cứu chuyển thể cũng tương đồng như nghiên cứu màn bạc nóichung” [34, trg.7] Chuyển thể được xem là một xu hướng phổ quát trongtất cả các xã hội loài người nhằm viết lại một văn bản gốc nào đó Kết quảcủa việc đó là tác phẩm chuyển thể hoặc trung thành hoặc rất ít liên hệ với

văn bản nguồn: “Chuyển thể, với tư cách là là một tác phẩm phát triển từ

bản gốc-đôi khi thậm chí là cả nhào nặn và biến đổi - từ một nguồn có sẵn”[13]

Có thể thấy, việc làm phim dựa trên một văn bản có trước cũng lâu đờinhư chính cơ cấu điện ảnh Quá nửa số phim thương mại đều bắt nguồn từnhững tác phẩm văn học - cho dù tất cả những văn bản gốc đó đều chẳng nhậnđược chút tôn trọng sùng bái nào Chuyển thể rõ ràng đã mang đến nội dung

và đôi khi là cả hình thức để tái hiện hiện thực và để hình thành cho mình mộtthứ ngôn ngữ riêng Với những bước đỡ đầu đầy vững chắc và hứa hẹn của vănhọc, chuyển thể đã trở thành một trong những hoạt động lâu đời nhất và cốtlõi nhất của lịch sử điện ảnh Trung tâm tính của chuyển thể thường đượcđem ra thảo luận chính là trung thành hay khác biệt, từ đó trở thành mộttrong những vấn đề đáng quan tâm nhất của lịch sử chuyển thể Những động

cơ của hành động tái hiện, mô phỏng này có thể tìm thấy ngay trong chínhnhững tác phẩm nguồn Văn bản văn chương với chất liệu bằng ngôn từ đã

xây nên những hình tượng gián tiếp Chúng được gợi ra từ sự đọc của mỗi

độc giả Tuy không mang đến một chỉ dẫn cụ thể nhất quán cho điện ảnh,song văn học lại mang đến cho ngành nghệ thuật thị giác này những kinhnghiệm gián tiếp vô cùng quý giá Thêm nữa, ước muốn được nhìn những gì

Trang 22

trực quan, những gì hữu hình đã tồn tại quá lâu trong sự tưởng tượng từ việcđọc tác phẩm văn chương cũng tạo nên động lực để các nhà làm phimchuyển thể để thị giác hóa điều ấy.

Hoạt động chuyển thể từ văn bản văn chương đến phim ảnh theo quanđiểm truyền thống là hoạt động dịch Nhà làm phim sẽ phải dịch chuyển đơn

vị cơ sở của

Trang 23

văn chương là ngôn từ sang đơn vị cơ sở của điện ảnh là hình ảnh Sự dịchchuyển này về bản chất là tái hiện, thị giác hóa lại ngôn từ lên phim Cụ thểhơn, hoạt động chuyển thể mang tính tái hiện này sẽ liên quan đến các thuậtngữ của hệ thống ngôn ngữ (nếu ta cũng quan niệm phim như một văn bản)

mà trong đó đơn vị cơ sở cấu thành nên văn bản văn học chính là tự vị, từ vàcâu, còn văn bản phim là bóng tối và ánh sáng được chiếu đèn, các hình dạng

và âm thanh có thể nhận biết được, và các hành động được biểu diễn Các hệthống này có thể được xây dựng theo cách riêng nhưng chúng ta luôn luôn cóthể tạo nên được sự phù hợp thích đáng từ các hệ thống khác nhau bằngcách tạo nên những dấu hiệu đặc biệt từ mỗi đơn vị trong hệ thống và nhấnmạnh đặc điểm chung của chúng Vấn đề chuyển thể sẽ trở thành vấn đềtìm kiếm hai hệ thống giao tiếp cho các yếu tố có vị trí tương đương trong các

hệ thống có khả năng khơi gợi cái được biểu đạt ở mức độ phù hợp sẵn có

Keith Cohen trong Film and Literature: The Dynamics of Exchange đã tìm

cách chứng minh cho mối liên hệ giữa những hình thức nghệ thuật này: “Tôitừng đưa ra một nhận định cơ bản rằng cả ngôn ngữ và hình ảnh đều là tậphợp các ký hiệu thuộc về hệ thống và rằng, ở một mức độ trừu tượng nhấtđịnh, những hệ thống này mang lại sự tương đồng với hệ thống khác Cụ thểhơn, trong mỗi hệ thống như thế này đều có nhiều mã khác nhau (thuộc vềcảm giác, quy chiếu, biểu tượng) Vậy thì cái mang lại khả năng cho mộtnghiên cứu về liên hệ giữa hai hệ thống ký hiệu khác biệt, giống như tiểuthuyết và phim, là cái thực tế rằng những mã tương tự có thể tái hiện khôngchỉ trong hệ thống… Bởi vậy, người ta có thể thấy chính cơ cấu của hệ thốngngôn ngữ mang các mối tương quan phức tạp và đa dạng: ngoài các chứcnăng khác, chức năng ngôn ngữ là để định rõ các đơn vị được phân cắt bởi hìnhảnh (nhưng cũng góp phần phân cắt chúng), và … ngoài các chức năng khác,chức năng của hình ảnh là để truyền cảm hứng cho các hình thể ngữ nghĩa

Trang 24

(nhưng cũng được chúng truyền cảm hứng” [4, trg.374]

Chính bản thân điện ảnh trong lịch sử phát triển của mình cũng góp phầnđịnh hình nên quan niệm về việc tái hiện Ngay từ đầu, điện ảnh đã vay mượn

tư liệu văn học trong mọi thể loại để làm nên nội dung và đề tài với mongmuốn tự tách mình

Trang 25

ra khỏi nghệ thuật tạp kỹ và vươn tới một địa hạt mà ở đó vị thế của nóđược ghi nhận hơn Thiết nghĩ, ta cần có một cái nhìn tổng quát về mối

“nhân duyên” giữa điện ảnh và văn học để thấy được những động cơ và cáchthức của mối quan hệ không dễ miêu tả giữa hai ngành này Điện ảnh có thểcoi là sự kế nhiệm của nhiếp ảnh Kĩ thuật máy móc đã mang đến cho côngchúng phương Tây những năm 1750 - 1825 sự hứng thú say mê với hình ảnh

và sản phẩm thị giác: “William Hogarth, người xây dựng phương thức kểchuyện trào phúng thông qua một loạt các khắc bản; những tranh tầng sâu

và tranh toàn cảnh mô phỏng nổi tiếng đã xuất hiện đâu đó trong sân khấukịch chính thống và dàn tranh trào phúng (Trong những năm 1790, tác

phẩm Phantasmagoria của Etienne Gaspard Robertson đã thu hút hàng

vạn người với những phản thân về Rosseau, Marat và những vĩ nhân khác củaCách mạng Pháp), và vô số tuyệt tác khoa học (chẳng hạn như kính viễnvọng do Ngài David Brewster phát minh năm 1814) đã báo trước sự ra đờicủa phương thức và công cụ khoa học năm 1826 và 1839” [4, trg.17] Điềunày làm dấy lên sự tranh luận gay gắt về vị thế của văn học trong nền vănhóa dễ bị cuốn hút bởi hình ảnh động thay vì sức mạnh truyền thống củangôn từ tinh xảo Chủ nghĩa hiện thực thế kỉ 19 trở thành thước đo phảnánh hiện thực của văn học và các ngành văn hóa thị giác mới nổi như thế.Tuy nhiên, nếu những tiền thân của điện ảnh cứ kể mãi về phong cảnh vàphản thân, chính nó cùng với sức mạnh mê hoặc của mình khiến khán giảcảm thấy ngột ngạt Họ muốn một sản phẩm thị giác kể một nội dung có

chiều sâu Các dự án quay bằng đèn chiếu Magic lanter trong tiểu thuyết của

Walter Scott; những tác phẩm văn xuôi khác cùng tiểu thuyết hàng loạt trởthành một loại hình hòa quyện giữa nhiếp ảnh và kể chuyện thông qua sự hỗtrợ của ảnh in bằng thạch bản hay sau năm 1880 là cả việc in ảnh bán sắc

Sự gặp gỡ văn học và điện ảnh tiếp tục được phát triển trong hình thái mà

Trang 26

chúng tôi khảo sát từ tiền cổ điển, cổ điển cho đến những bước ngoặt thểnghiệm của điện ảnh Trong những năm 1895 - 1925, những chuyển thể điệnảnh học tập tính kịch từ nhiều tác động, trong đó có chủ nghĩa hiện thực vàkịch melo thế kỉ 19, sự thống trị của các trào lưu kịch đại chúng như đạisảnh âm nhạc, các màn ca nhạc tạp kỹ, và có lẽ quan trọng nhất, là

Trang 27

điều kiện kĩ thuật của điện ảnh thời kì đầu với những máy quay cồng kềnh,chỉ có thể đặt tĩnh tại để tái hiện lại góc nhìn của khán giả ngồi hàng giữatrong nhà hát kịch Những phim tài liệu phản thân trong thời bình minh củalịch sử điện ảnh khó có thể tiếp cận tới lượng công chúng đại chúng, vì thế,một cách tất yếu, đề tài văn học trở thành lựa chọn của màn bạc tiền cổ Mộtloạt những câu chuyện văn học nổi tiếng đang thịnh hành đã được chuyển thể

từ phiên bản sân khấu hóa như Cinderella (1900), Robinson Crusoe (1920), Guilliver's travels (1902), Uncle Tom's cabin (1903) Động cơ đưa điện ảnh

tìm về với văn học là có thể lí giải được Nó xuất phát từ vị thế của bộmôn này Điện ảnh thời kì đầu chỉ là những trò tạp kĩ rẻ tiền được đem rahội chợ để kinh doanh Nó mang đến những khung hình động và nhữngphong cảnh được ghi lại lướt qua mắt người xem Nội dung của nó thời kìđầu vốn chỉ là những chuyển động, những phong cảnh Điện ảnh tiền cổđiển chuyển sang cổ điển với sự xuất hiện các tác phẩm của D.W.Griffithnăm 1913 Griffith đã nỗ lực để đưa điện ảnh và văn học trở thành nhữngđối thủ ngang tài, khi ông cho rằng, bằng những cải tiến kĩ thuật, hình ảnh cóthể đặt ngang hàng với ngôn từ như một công cụ truyền tải có sức hấp dẫnđối với con người Từ những bộ phim một cuộn (dài từ 10-15 phút) của thờitiền cổ điển, màn bạc cổ điển, mà cụ thể là với kinh nghiệm cá nhân của

Griffth, đã ra đời phiên bản chuyển thể phim dài hơn hai cuộn của Enoch Arden Điều này đã làm thay đổi hướng đi của điện ảnh và văn học khi mà

giờ đây, điện ảnh có thể kể những câu chuyện dài từ 90 -100 phút truyền tảinội dung của những tiểu thuyết và những vở kịch Charles Dickens trởthành nguồn truyền cảm hứng mạnh mẽ cho những bộ phim của Griffith

Xuất phát từ những căn cứ đầu tiên trong hoạt động chuyển thể vănhọc của điện ảnh, ta thấy một động lực rất lớn của ngành nghệ thuật non trẻnày chính là tự cải thiện mình để bắt kịp với giá trị đã tồn tại lâu đời của

Trang 28

ngôn ngữ, từ những phân cảnh kịch hóa thời kì tiền điện ảnh, từ những bộphim chuyển thể hiện đại đầu tiên đủ sức truyền tải chi tiết những cuốn tiểuthuyết đồ sộ lên màn ảnh cho đến sự phát triển của kỹ thuật điện ảnh để bắtnhịp được tinh thần của văn bản gốc Chuyển thể văn học sang điện ảnh dovậy vẫn được coi là tái hiện bởi lẽ “ý thức của chúng ta

Trang 29

không mở ra đối với thế giới mà lại thấm vào thế giới tùy theo hình dạng ýthức hệ của nó, vậy thì mỗi sự biểu diễn trên màn bạc sẽ đều tồn tại trongmối liên hệ với một khối thống nhất nào đó vốn được đặt trong hệ thốngkinh nghiệm cá nhân hoặc đại chúng” [4, trg.366] Các nhà làm phim hay bộphim (ít nhất là theo phương thức tái hiện hiện thực) đều phải phỏng theomột khuôn mẫu có trước.

Quan niệm này đã bộc lộ những bất cập rõ thấy Thứ nhất, tính trungthành là điều không thể phủ nhận trong chuyển thể nhưng bản thân hoạt độngchuyển thể đã mang những mầm mống kháng cự lại tính sao chép tuyệt đối.Hoạt động chuyển thể chính là sự cơ giới hóa ngôn từ bằng hình ảnh Dù hai

hệ thống này có khả năng tương tác và chia sẻ những mã tự sự thì theoGombrich, “chuyển thể là quá trình hoàn toàn có khả năng, tuy nhiên khôngbao giờ đạt được đến độ hoàn hảo, bởi vì mỗi một hình ảnh minh họa đều làmột cấu trúc các yếu tố được xây dựng từ sự sử dụng truyền thống một hệthống” [4, trg.374] Thêm vào đó, chuyển thể cũng bị giới hạn bởi khả năngcủa nó không thể địch lại được với khả năng kể chuyện vô tận của vănchương Những trường hợp bộ phim trung thành với tinh thần của văn bản gốcnhưng phải lược bỏ đi một vài khía cạnh cho phù hợp với khả năng trìnhdiễn của màn ảnh (khả năng này đến từ phía bản thân điện ảnh và từ phía khángiả) vẫn được đánh giá là chuyển thể trung thành Trường hợp của những

phiên bản chuyển thể tiểu thuyết Anna Karenina có thể giúp ta soi chiếu

được vào sự mẫu thuẫn trong quan niệm và cách đánh giá tính trung thành.Trong những nhân vật chính của tác phẩm văn học cổ điển này, bên cạnhmối tình của Anna xung quanh hai người đàn ông là chồng và người tình,thì chuyện tình của Kitty cũng được khắc họa và xuyên suốt tác phẩm Thếnhưng, câu chuyện tình yêu không thành của Kitty với Vronsky và cái kết

là cuộc hôn nhân êm đềm với Levin của cô không mấy được các nhà làm

Trang 30

phim đoái hoài Họ chỉ tập trung làm nổi bật tuyến nhân vật Vronsky Nhưng khán giả thay vì tốn nhiều giờ để đọc cuốn tiểu thuyết, họxem phim và vẫn thâu tóm được tinh thần của bộ phim Mãi cho đến bảnchuyển thể mới nhất năm 2012, Joe Wright mới đưa lên màn ảnh chuyệntình không kém phần đau đớn và lãng mạn của Kitty với hai người đànông trong cuộc đời cô Ngoài ra, những yếu tố

Trang 31

Anna-Alexei-thương mại can thiệp vào điện ảnh cũng gây ảnh hưởng tới nỗ lực làm tròntính trung thành của điện ảnh khi những nhà sản xuất lo sợ rằng họ sẽkhông thể giữ chân khán giả trong một khoảng thời gian quá lâu Sự cắt gọtnội dung của văn bản văn chương nguồn vì vậy trở thành tất yếu Thứ hai,quan niệm về chuyển thể như hoạt động dịch kém sáng tạo đã tước đi mọiquyền lợi của đạo diễn chuyển thể -một kiểu dịch giả, quyền sở hữu tácphẩm của chính mình Tác phẩm chuyển thể vừa là của anh ta vừa không phải.Trong các hợp đồng tiêu chuẩn ở Anh yêu cầu loại bỏ dịch giả khỏi bất kì

quyền lợi nào trong dịch thuật Từ đó, dấy lên những vụ kiện bản quyền

giữa văn bản văn học và những bộ phim chuyển thể chỉ mang tính phỏng tác,

hay chuyển thể lỏng (loose adaptation) Vụ kiện trấn động trong giới làm phim kinh dị những năm 1921 là một ví dụ Nguyên tác truyện Dracula

thuộc bản quyền của người vợ quá cố của nhà văn Bram Stoker, song bà đãkhông bán lại nó nhà làm phim Albin Grau, mặc dù bản quyền của nó đượcthông cáo là đã thuộc về cộng đồng Mỹ do sơ suất của cục bản quyền Đức.Grau đã làm bộ phim với rất nhiều sự khác biệt so với nguồn văn học, từ

nhan đề (Nosferatu) cho đến cốt truyện, nhưng tòa án liên bang vẫn quyết

định tiêu hủy toàn bộ những sản phẩm liên quan đến bộ phim bởi bản quyềnvẫn thuộc về người vợ quá cố cho đến kì hạn 50 năm kể từ ngày người sởhữu qua đời May mắn là chúng ta vẫn giữ được một kịch bản của bộ phim

Nosferatu Những nhà phê bình cho rằng, “nếu không có những thay đổi từ bộ

phim này, ma cà rồng sẽ không bao giờ được cho rằng là dễ bị tổn thươngdưới ánh mặt trời hoặc có thể bị giết bởi chính kẻ địch của mình”[12] Vàkhông có những cải biến đáng kinh ngạc của Grau thì cũng sẽ không cónhững bộ phim ma cà rồng của hiện tại Việc tước quyền tồn tại của

Nosferatu thật phi lí, bởi lẽ, “chính tác phẩm Dracula của Bram Stoker

cũng được khơi gợi cảm hứng từ nhân vật nổi tiếng nhất trong lịch sử La Mã,

Trang 32

Vlad Dracula, đã được nhào nặn và xuất hiện trong văn học dân gian.Stoker đã đắm chìm vào lịch sử, vào truyền thuyết của Transylvania, điều

mà ông ấy gọi là vòng xoáy của sự tưởng tượng [12] để làm nên tuyệt tác của

mình Như vậy, chuyển thể như là tái hiện đã bộc lộ những bất cập và cầnphải có một cái nhìn rộng hơn về chuyển thể Những học giả nổi tiếng vềnghiên cứu

Trang 33

chuyển thể như Robert Stam và Linda Hutcheon đã bàn về tính trung thành, vềquan niệm chuyển thể như là tái hiện như sau: việc để cho văn bản gốc thốngtrị bản chuyển thể là quy chuẩn cứng nhắc, không đủ để phân tích hiện tượngchuyển thể.

1.1.2.Chuyển thể như là kiếp sau

Vậy phải nhìn nhận và đánh giá đúng về chuyển thể ra sao? Trongphần này, luận văn xin nêu ra quan niệm của mình về chuyển thể và coichuyển thể như là một cách viết lại tạo ra những tiền kiếp của tác phẩm văn

chương nguồn Tuy chuyển thể như là tái hiện bộc lộ những xơ cứng,

song, không một hoạt động chuyển thể nào lại không có yếu tố tái hiện Đểgóp phần mở rộng và hoàn thiện thêm khái niệm chuyển thể, nghiên cứu đivào tìm hiểu khả năng diễn giải của chuyển thể văn học trong sáng tạo điệnảnh Diễn giải ở đây được hiểu là tái hiện lại chủ đề quan trọng của tácphẩm, đưa ra cách hiểu của mình về chủ đề, tư tưởng tác phẩm hay nhấnmạnh một số phương diện nào đó (mà không phải toàn bộ của văn bảnnguồn) lên phim Bộ phim chuyển thể có yếu tố diễn giải sẽ luôn gặp phảinhững câu hỏi từ phía nhà làm phim và độc giả: Bộ phim có quyền diễngiải không? Và nếu có thì đâu là giới hạn của diễn giải? Để có thể trả lờicho những câu hỏi này, nghiên cứu sẽ khảo sát những ví dụ có độ lùi về thời

gian và đặc biệt liên quan đến hành động dịch-người anh em sinh đôi của

chuyển thể Thời kì trung cổ, những bà đồng ngồi trên một cái ghế trong các

ngôi đền làm nhiệm vụ đọc những chỉ thị toát lên từ khe nứt lòng đất mà họ

cho rằng đó là ý nguyện của thần linh Hành động này thực chất chính là hànhđộng dịch/thông ngôn, không loại trừ khả năng những bà đồng đã thêm

bớt ý kiến cá nhân để hoàn thiện một thứ mệnh lệnh được mã hóa với người

thường Dịch thời kì trung cổ trở thành hoạt động tâm linh quan trọng, ở đó,

Trang 34

sản phẩm diễn ngôn của một người được coi là ý nguyện của thần linh màkhông có sự đối chất hay nghi ngờ Hay một ví dụ nổi tiếng cũng làm dấylên quyền hạn của dịch xuất hiện từ rất sớm trong thần thoại, thơ ca và văn

chương- Icarus Khởi nguyên trong thần thoại Hi Lạp, câu chuyện chủ yếu

lưu truyền bằng phương thức truyền miệng Đó là câu chuyên về Icarus vàcha mình, Deadalus với đôi cánh huyền thoại cùng cái kết không có hậu màphiên bản nổi tiếng nhất được Ovid ghi

Trang 35

lại trong Metamorphoses.Trong phiên bản của Ovid, nhân vật chính của

chuyện kể là Daedalus, người được ca ngợi như là một nhà phát minh kì tài.Thực tế, tên của Icarus không được đề cập mãi cho đến cái kết của câuchuyện khi bố của Icarus gọi tên nhân vật trước khi rơi xuống biển Câuchuyện được đẩy lên cao trào chính lúc đó Trong đó, có một dòng thơ đượcdịch sát với phiên bản của Ovid từ tiếng Hi Lạp: “When the boy boldlybegan to rojoice in his speed (or wings), he forsook his leader as ambitiondrew him higher in the skies1 (Tạm dịch: Khi chàng trai liều lĩnh bắt đầu tậnhưởng tốc độ của mình, anh ta đã làm mất đi sự tỉnh táo bởi ước vọng baycao hơn nữa trên bầu trời)” Các bản dịch từ thời của Ovid đã mang đếnnhững sắc thái khác nhau Chúng tôi thử đối chiếu hai bản dịch của ArthurGolding và

George Sandy để tìm ra những cách dịch khác nhau:

When the Boy a frolicke courage

caught

To flie at random.

Whereupon forsaking quight his

guide,

Of fond desire to flie to Heaven,

above his boundes he stide 2

When the boy, much tooke With pleasure of his wings, his Guide forsooke:

And rauisht with desire of heaven, a loft Ascends.

Trang 36

Trong bản dịch của Arthur, từ frolicke ám chỉ một điều gì đó vui vẻ khi sử

dụng nó như một tính từ Vì thế, Golding tập trung vào sự dũng cảm vui vẻcủa Icarus, trong khi George Sandys tập trung vào niềm vui sướng của mình

với đôi cánh trên vai George dường như đã dịch với một ý tưởng về ước mơ

cổ xưa của loài người về hành động bay, nhấn mạnh vào hành động bay củaIcarus vốn được xem như là truyền thuyết đầu tiên về hành động này Khôngchỉ Arthur hay George có những cách biệt về việc dịch mà còn rất nhiều dịchgiả khác khi tiếp cận với nguyên tác

1 http://www-personal.umich.edu/~jimw/

myths/Metamorphoses%20-%20Ovid,% 20prose.html

2 https://en.wikisource.org/wiki/Metamorphoses_(tr._Golding)/Book_8

Trang 37

của Ovid đã cấy ghép vào trong đó một ý tưởng của riêng mình như SirSamuel Garth, Dryden, Pope…nhấn mạnh khát vọng con trẻ của Icarus, vàcuối cùng Brookes More đã đem câu chuyện của Icarus sang bối cảnh thế kỉ

20 và nhấn mạnh vào sự kiêu hãnh và trống rỗng:

“Proud of his success,

the foolish Icarus forsook his

guide, and, bold in vanity, began to

soar,

rising upon his wings to touch the skies”3

Rõ ràng, phiên bản của Ovid đề cập đến Icarus như là một người cótham vọng lấn át cả sự sợ hãi bị mặt trời thiêu đốt, tuy nhiên hầu hết cácbản dịch lại tập trung vào sự hiếu thắng và ngu ngốc của tuổi trẻ Icarus dẫn đến

Trang 38

học) nhưng số phận của phim chuyển thể không phải chỉ là những phiên bảntái hiện luôn luôn có sự sai khớp với văn bản gốc, mà nó có thể trở thành

“một công cụ có thể được sử dụng để mở ra văn bản nguồn với sự diễn dịch

mới” [13, trg.14] Bộ phim giờ đây không chỉ là một cách viết mà còn là một cách đọc.

3 http://amandaeblog.blogspot.com/2005_04_01_archive.html

Trang 39

Chuyển thể vì vậy có thể tìm thấy điểm tương đồng trong lý thuyết về diễndịch Quan niệm chuyển thể như là diễn giải không chỉ được củng cố từ nhữngthông điệp thời trung cổ mà đã được các nhà nghiên cứu quan tâm Theo

lý thuyết diễn dịch của Wilhem Dilthey, “lý thuyết vòng thông diễn, tập

trung vào lý thuyết diễn dịch, cho rằng sự lý giải về một văn bản chỉ xảy đếnsau khi đã có sự thấu hiểu về nó, ấy vậy nhưng sự thấu hiểu từ trước về nó lạiđược chứng thực bằng sự lý giải cẩn thận mà nó cho phép Nói cách khác,trước khi thảo luận hay phân tích về một văn bản, chúng ta phải nắm đượckhái niệm tổng quát về ý nghĩa của nó” [5] Khi nắm được khái niệm tổngquát về văn bản nguồn, tức nghĩa, diễn dịch đã trải qua một quá trìnhthâu nhận vào mình những nhân tố tiên nghiệm từ bản gốc, để từ đó, dịchgiả thể hiện những ý tưởng khả thể gắn với sự tưởng tưởng và tương thíchcủa mình sang một hình thái mới Diễn dịch vì vậy vừa là một bước nhảy,

vừa là một quá trình Trường hợp Icarus từ thần thoại cho đến phiên bản đầu

tiên của Ovid và hàng loạt những bản dịch sau đó cũng xảy ra với cơ chế vòngthông diễn Ovid, Arthur, George hay Brookes…đều bắt đầu từ việc nắm đượcnội dung của câu chuyện thần thoại (văn bản tự trị), sau đó “loại trừ Icarus ở

vị trí trung tâm hoặc bằng cách loại bỏ Daedalus ra khỏi bức tranh mà hainhân vật cùng tồn tại, người nghệ sĩ đang tạo ra một trần thuật mang tínhdiễn giải bằng cách yêu cầu độc giả tập trung vào những khía cạnh khác củacâu chuyện” [13, trg.12]

Cơ chế diễn giải này trong chuyển thể bắt nguồn từ việc đọc Joy Gould

Boyum trong Double Exposure: Fiction into film cho rằng “cả khán giả và

nhà làm phim đều là người đọc” [17, trg.30] Bà tranh luận rằng mỗi ngườixem đại diện cho một cách diễn giải về chuyển thể khác nhau phụ thuộc vàoviệc họ có hoặc không áp đặt sự kì vọng của mình vào bản chuyển thể TheoBoyum, “người xem lí tưởng là người mà sự tái biểu tượng hóa của họ về

Trang 40

một tiểu thuyết cụ thể nào đó sẽ đấu tranh với sự tái biểu tượng của tiểuthuyết lên phim” [17, trg.30] Vậy điều gì đã tạo ra những cuộc picnic diễngiải và trao quyền cho người đọc đến thế? Umberto Eco đã trao cho chúng tacâu trả lời qua những bài viết về lý thuyết tác phẩm mở Quan điểmchuyển thể là diễn giải lại rõ ràng ngày càng được các nhà làm phim thíchthú.

Ngày đăng: 30/10/2021, 16:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lộ Đức Anh (2013), Viết lại Alice: cải biên như một cơ chế văn hóa.Khóa luận tốt nghiệp khoa Ngữ văn- Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viết lại Alice: cải biên như một cơ chế văn hóa
Tác giả: Lộ Đức Anh
Năm: 2013
3. Berdyaev.N (2017), Thế giới quan của Dostoesky, Nguyễn Văn Trọng dịch, NXB Tri thức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới quan của Dostoesky
Tác giả: Berdyaev.N
Nhà XB: NXB Tri thức
Năm: 2017
4. Timothy Corrigan (2013), Điện ảnh và văn học, Nhiều người dịch, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điện ảnh và văn học
Tác giả: Timothy Corrigan
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2013
5. Dostoevski Phedor (2011), Đêm trắng, Đoàn Tử Huyến dịch, NXB Lao động- Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đêm trắng
Tác giả: Dostoevski Phedor
Nhà XB: NXBLao động- Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây
Năm: 2011
6. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2011), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuậtngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
7. IU.M.Lotman (2007), Cấu trúc văn bản nghệ thuật, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc văn bản nghệ thuật
Tác giả: IU.M.Lotman
Nhà XB: NXB Đại họcQuốc gia Hà Nội
Năm: 2007
8. Nguyễn Nam, Từ Chùa Đàn đến Mê Thảo: Liên văn bản trong văn chương và điện ảnh (website: vienvanhoc. org.vn ngày 9/3/2015) 9. Nguyễn Anh Ngọc (2011), Bước đầu tìm hiểu nghệ thuật tự sự củađiện ảnh qua bộ phim “Brokeback mountain”, Khóa luận tốt nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu nghệ thuật tự sự của"điện ảnh qua bộ phim “Brokeback mountain”
Tác giả: Nguyễn Nam, Từ Chùa Đàn đến Mê Thảo: Liên văn bản trong văn chương và điện ảnh (website: vienvanhoc. org.vn ngày 9/3/2015) 9. Nguyễn Anh Ngọc
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w