1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phòng chống tham nhũng tại việt nam thực trạng và giải pháp3

44 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 88,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Việc mở cửa hội nhập về kinh tế xã hội là điều mà rất nhiều người đang hướng tới. nhưng ngoài những mặt tích cực rất rõ nét của chúng. Nó còn để lại ở đây một nguy cơ vô cùng to lớn: Đó là tham nhũng. Tham nhũng là một hiện tượng xã hội tiêu cực, ăn sâu bám rễ trong mọi chế độ xã hội, không phân biệt chế độ chính trị, nước giàu hay nghèo, phát triển hay kém phát triển. Một số nơi trên thế giới, tham nhũng làm suy kiệt cơ thể xã hội, gây xáo trộn, mất ổn định chính trị. Ở Việt Nam, tham nhũng có những đánh giá cho là đang trở thành quốc nạn, là những lực cản nặng nề nhất cho sự phát triển, là một tệ nạn có nguy cơ đe dọa sự tồn vong của quốc gia, dân tộc. Tham nhũng là một hiện tượng xã hội tiêu cực, ăn sâu bám rễ trong mọi chế độ xã hội, không phân biệt chế độ chính trị, nước giàu hay nghèo, phát triển hay kém phát triển. Tham nhũng gây thiệt hại nghiêm trọng đến các nguồn lực công, xâm hại đến hoạt động đúng đắn của bộ máy nhà nước, làm sai lệch công lý, công bằng xã hội, làm suy giảm niềm tin, cản trở các nỗ lực giảm nghèo và phát triển đất nước, xã hội. Công tác phòng, chống tham nhũng được Đảng, Nhà nước ta xác định là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, vừa cấp bách, vừa khó khăn, phức tạp, lâu dài. Phòng, chống tham nhũng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của các ngành, các cấp, nhấn mạnh trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị, đề cao vai trò của xã hội, các tổ chức đoàn thể và quần chúng nhân dân. Đấu tranh chống tham nhũng phải gắn liền và phục vụ cho đổi mới kinh tế xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường đại đoàn kết toàn dân và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới. Từ những lý do trên, sau khi học xong học phần: “Phòng chống tham nhũng trong khu vực công”, tôi xin chọn đề tài có nội dung: “Phòng chống tham nhũng tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp” làm đề tài tiểu luận của mình.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Ý nghĩa nghiên cứu 2

6 Kết cấu của tiểu luận 2

NỘI DUNG 3

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 3

1.1 Khái niệm tham nhũng 3

1.1.1 Định nghĩa 3

1.1 2 Những đặc trưng cơ bản 3

1.1.2.1 Chủ thể tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn 3

1.1 2.2 Chủ thể tham nhũng lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao 3

1.1.2.3 Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi 4

1.1.3 Biểu hiện của hành vi tham nhũng 4

1.2 Nguyên nhân và điều kiện của tham nhũng 6

1.2.1 Nguyên nhân và điều kiện khách quan 6

1.2.2 Nguyên nhân và điều kiện chủ quan 7

1.3 Tác hại của tham nhũng 8

1.3.1 Tác hại về chính trị 8

1.3.2 Tác hại về kinh tế 8

1.3.3 Tác hại về xã hội 8

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM 9

2.1 Những nét cơ bản về thực trạng phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam 9 2.2 Những thành tựu, kết quả đạt được trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta trong những năm qua và nguyên nhân của kết quả đạt được 11

Trang 2

2.2.1 Những thành tựu, kết quả đạt được trong công tác đấu tranh phòng,

chống tham nhũng ở nước ta trong những năm qua 11

2.2.1.1 Về chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam 11

2.2.1.2 Về thể chế của Nhà nước 14

2.2.1.3.Về hoạt động thực thi phòng, chống tham nhũng 18

2.2.2 Nguyên nhân chủ yếu của kết quả đạt được là: 23

2.3 Những hạn chế, tồn tại trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta trong những năm qua và nguyên nhân của những hạn chế 23 2.3.1 Những hạn chế còn tồn tại 23

2.3.1.1 Về thể chế 23

2.3.1.2 Về thực thi chính sách, pháp luật phòng chống tham nhũng 25

2.3.2 Nguyên nhân của những hạn chế còn tồn tại 30

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM 33

3.1 Một số vấn đề cần được quan tâm trong công tác phòng, chống tham nhũng thời gian tới 33

3.2 Các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam 35

KẾT LUẬN 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO 42

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Việc mở cửa hộinhập về kinh tế - xã hội là điều mà rất nhiều người đang hướng tới nhưng ngoàinhững mặt tích cực rất rõ nét của chúng Nó còn để lại ở đây một nguy cơ vôcùng to lớn: Đó là tham nhũng

Tham nhũng là một hiện tượng xã hội tiêu cực, ăn sâu bám rễ trong mọichế độ xã hội, không phân biệt chế độ chính trị, nước giàu hay nghèo, phát triểnhay kém phát triển Một số nơi trên thế giới, tham nhũng làm "suy kiệt cơ thể"

xã hội, gây xáo trộn, mất ổn định chính trị Ở Việt Nam, tham nhũng có nhữngđánh giá cho là đang trở thành quốc nạn, là những lực cản nặng nề nhất cho sựphát triển, là một tệ nạn có nguy cơ đe dọa sự tồn vong của quốc gia, dân tộc.Tham nhũng là một hiện tượng xã hội tiêu cực, ăn sâu bám rễ trong mọi chế độ

xã hội, không phân biệt chế độ chính trị, nước giàu hay nghèo, phát triển haykém phát triển

Tham nhũng gây thiệt hại nghiêm trọng đến các nguồn lực công, xâm hạiđến hoạt động đúng đắn của bộ máy nhà nước, làm sai lệch công lý, công bằng

xã hội, làm suy giảm niềm tin, cản trở các nỗ lực giảm nghèo và phát triển đấtnước, xã hội Công tác phòng, chống tham nhũng được Đảng, Nhà nước ta xácđịnh là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, vừa cấp bách, vừa khó khăn, phức

tạp, lâu dài.

Phòng, chống tham nhũng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới

sự lãnh đạo của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của các ngành, các cấp, nhấnmạnh trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị, đề cao vaitrò của xã hội, các tổ chức đoàn thể và quần chúng nhân dân Đấu tranh chốngtham nhũng phải gắn liền và phục vụ cho đổi mới kinh tế - xã hội, giữ vững ổnđịnh chính trị, tăng cường đại đoàn kết toàn dân và xây dựng Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới

Từ những lý do trên, sau khi học xong học phần: “Phòng chống thamnhũng trong khu vực công”, tôi xin chọn đề tài có nội dung: “Phòng chống tham

Trang 4

nhũng tại Việt Nam: Thực trạng và giải pháp” làm đề tài tiểu luận của mình.

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu: Đề xuất các phương hướng, giải pháp phòng,chống tham nhũng ở Việt Nam

- Nhiệm vụ nghiên cứu: Phân tích thực trạng phòng, chống tham nhũng ởViệt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Tiểu luận tập trung vào phân tích thực trạng phòng, chống tham nhũng ởViệt Nam và đề xuất các giải pháp để phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Kết hợp phương pháp logic với so sánh, tổng hợp, phân tích, chứng minh, …

5 Ý nghĩa nghiên cứu

- Tiểu luận đã phân tích, đánh giá khách quan, cung cấp luận cứ khoa họcgóp phần làm cho công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam ngày cànghoàn thiện và hiệu quả hơn

- Tiểu luận có giá trị tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này

6 Kết cấu của tiểu luận

Tiểu luận ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung bao gồm 3chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận chung

Chương 2: Thực trạng phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam

Chương 3: Các giải pháp phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam

Trang 5

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 1.1 Khái niệm tham nhũng

1.1.1 Định nghĩa

Tại khoản 2, Điều I của Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005, thamnhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyềnhạn đó vì vụ lợi Người có chức vụ, quyền hạn chỉ giới hạn ở những người làmviệc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc hệ thống chính trị; nói cách khác là

ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách, vốn, tài sản của Nhà nước.Việc giới hạn như vậy nhằm tập trung đấu tranh chống những hành vi thamnhũng ở khu vực xảy ra phổ biến nhất, chống có trọng tâm, trọng điểm, thíchhợp với việc áp dụng các biện pháp phòng, chống tham nhũng như: kê khai tàisản, công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, xử lýtrách nhiệm của người đứng đầu

1.1 2 Những đặc trưng cơ bản

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tham nhũng có những đặc trưng

cơ bản như sau:

1.1.2.1 Chủ thể tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn

Đặc điểm của tham nhũng là chủ thể thực hiện hành vi phải là người cóchức vụ, quyền hạn Người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: cán bộ, công chức,viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơquan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ

sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo,quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; ngườiđược giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm

vụ, công vụ đó (khoản 3, Điều 1, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005)

1.1 2.2 Chủ thể tham nhũng lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao

“Lợi dụng chức vụ, quyền hạn” để vụ lợi là đặc trưng thứ hai của thamnhũng Chủ thể tham nhũng phải sử dụng “chức vụ, quyền hạn của mình” như

Trang 6

một phương tiện để mang lại lợi ích cho mình, cho gia đình mình hoặc chongười khác Một người có chức vụ, quyền hạn nhưng không lợi dụng chức vụ,quyền hạn đó thì không thể có hành vi tham nhũng.

1.1.2.3 Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi

Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi Nếu chủ thể thực hiện hành vikhông cố ý thì hành vi đó không là hành vi tham nhũng Vụ lợi ở đây được hiểu

là lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đã đạtđược hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng

1.1.3 Biểu hiện của hành vi tham nhũng

Theo điều 3 Luật Phòng chống tham nhũng quy những hành vi sau đâythuộc nhóm hành vi tham nhũng:

- Tham ô tài sản

- Nhận hối lộ

- Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụlợi

- Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi

- Giả mạo trong công tác vì vụ lợi

- Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyềnhạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụlợi

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì

vụ lợi

- Nhũng nhiễu vì vụ lợi

- Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạmpháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra,kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi

- Về hành vi “đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có

Trang 7

chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặcđịa phương vì vụ lợi”: Đây là một biểu hiện mới của tệ tham nhũng Do vẫn còntồn tại cơ chế “xin - cho” trong nhiều lĩnh vực nên có nhiều cá nhân đại diện cho

cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương đã tìm cách hối lộ cho người có chức

vụ, quyền hạn phụ trách việc phê duyệt chương trình, dự án, cấp kinh phí, ngânsách để được lợi cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình và thông qua đó

để đạt được các lợi ích cá nhân Hành vi này được coi là hành vi tham nhũng.Điều cần lưu ý là hành vi đưa hối lộ, môi giới hối lộ là tội danh được quy địnhtrong Bộ luật hình sự không thuộc nhóm các tội phạm về tham nhũng mà thuộcnhóm các tội phạm về chức vụ Còn hành vi đưa hối lộ, làm môi giới hối lộđược thực hiện bởi chủ thể có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơquan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi thì mới được coi là hành vi thamnhũng Hành vi này vừa chịu sự điều chỉnh của pháp luật hình sự với tội danhtương ứng (nếu hành vi đó cấu thành tội phạm), vừa là hành vi tham nhũng theo

sự điều chỉnh của pháp luật về tham nhũng

- Về hành vi “lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản nhànước vì vụ lợi”: Đây là hành vi lợi dụng việc được giao quyền quản lý tài sảncủa nhà nước để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc một nhóm người nào đó thay vìphục vụ cho lợi ích công Biểu hiện cụ thể của hành vi này thường là cho thuêtài sản như: nhà xưởng, trụ sở, xe ôtô và các tài sản khác nhằm vụ lợi Số lượngtài sản cho thuê nhiều khi lớn Hành vi này diễn ra khá phổ biến hiện nay

- Về hành vi “nhũng nhiễu vì vụ lợi”: Nhũng nhiễu là hành vi đã được mô

tả trong phần thuật ngữ khái niệm Cần nhấn mạnh thêm hành vi này xuất hiệntrong hoạt động của một số cơ quan công quyền, nhất là tại các cơ quan hànhchính, nơi trực tiếp giải quyết công việc của công dân và doanh nghiệp

- Về hành vi “lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành

vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra,thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi” Hành vitham nhũng nhiều khi được che chắn thậm chí là có sự đồng lõa của nhữngngười có chức vụ, quyền hạn ở cấp cao hơn Vì vậy, việc phát hiện và xử lý

Trang 8

tham nhũng là hết sức khó khăn Việc bao che cho người có hành vi thamnhũng, việc cản trở quá trình phát hiện tham nhũng có khi được che đậy dưới rấtnhiều hình thức khác nhau như: thư tay, điện thoại, nhắc nhở, tránh không thựchiện trách nhiệm của mình hoặc có thái độ, việc làm bất hợp tác với cơ quan cóthẩm quyền…

- Hành vi “không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi” là hành vithường được gọi là “bảo kê” của những người có trách nhiệm quản lý, đặc biệt

là một số người làm việc tại chính quyền địa phương cơ sở, đã “lờ” đi hoặc thậmchí tiếp tay cho các hành vi vi phạm để từ đó nhận lợi ích từ những kẻ phạmpháp Đây là hiện tượng hết sức nguy hại cần phải loại bỏ

1.2 Nguyên nhân và điều kiện của tham nhũng

Những nghiên cứu về tham nhũng trên thế giới nói chung và Việt Namnói riêng cũng cho thấy tham nhũng là một hiện tượng xã hội gắn với sự xuấthiện chế độ tư hữu, sự hình thành giai cấp và sự ra đời, phát triển của bộ máynhà nước, quyền lực nhà nước và các quyền lực công khác Tham nhũng tồn tại

ở mọi chế độ với những mức độ khác nhau

Cùng với sự phát triển của các hình thái nhà nước, đặc biệt là trong điềukiện phát triển kinh tế thị trường, các quan hệ chính trị - kinh tế tạo ra nhữngtiền đề khách quan quan trọng làm cho tham nhũng phát triển Lợi ích là yếu tốchủ quan dẫn đến tham nhũng Khi còn điều kiện để lợi ích kết hợp với sự lạmquyền của những người có chức vụ, quyền hạn thì vẫn còn có khả năng xảy ratham nhũng

Có nhiều nguyên nhân và điều kiện phát sinh tham nhũng, trong đó cónhững nguyên nhân, điều kiện cơ bản sau:

1.2.1 Nguyên nhân và điều kiện khách quan

- Hệ thống chính trị chậm được đổi mới, trình độ quản lý còn lạc hậu,mức sống thấp, pháp luật chưa hoàn thiện, tạo ra các kẽ hở cho tệ tham nhũngnảy sinh và phát triển

- Cơ chế chính sách pháp luật chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, thiếu nhấtquán, việc phân cấp quản lí giữa Trung ương và địa phương, phân biệt quản lí

Trang 9

nhà nước và quản lí sản xuất, kinh doanh có phần chưa rõ.

Quá trình chuyển đổi đòi hỏi phải có thời gian, vừa làm vừa rút kinhnghiệm để tiếp tục hoàn thiện

- Do ảnh hưởng của tập quán văn hoá như biếu và quà tặng bị lợi dụng đểthực hiệ hành vi tham nhũng

1.2.2 Nguyên nhân và điều kiện chủ quan

- Phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên bị suy thoái; côngtác quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên còn yếu kém

Cải cách hành chính vẫn còn chậm và lúng túng, cơ chế “xin - cho” tronghoạt động công vụ còn phổ biến; thủ tục hành chính phiền hà, nặng nề, bất hợplý

- Sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác phòng, chống tham nhũng trongmột số trường hợp chưa chặt chẽ, sâu sát, thường xuyên; xử lý chưa nghiêm đốivới hành vi tham nhũng

- Thiếu các công cụ phát hiện và xử lý tham nhũng hữu hiệu

Những năm qua, hoạt động điều tra, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, giámsát đã thu được một số kết quả tích cực nhưng trên thực tế vẫn chưa đáp ứngđược yêu cầu của công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng Về pháp luật,chúng ta chưa có những quy định cho phép các cơ quan chức năng áp dụng cácbiện pháp đặc biệt để có thể phát hiện các hành vi tham nhũng nên hiệu quả pháthiện tham nhũng chưa cao

- Việc huy động lực lượng đông đảo của nhân dân cũng như sự tham giacủa lực lượng báo chí vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng còn chưa đượcquan tâm đúng mức

Báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng đóng một vai trò rất quantrọng trong việc phát hiện và đấu tranh chống những hành vi vi phạm trong hoạtđộng của bộ máy nhà nước, nhất là tệ tham nhũng Báo chí vừa có tác dụng cảnhbáo những nơi có nguy cơ tham nhũng, vừa tham gia phát hiện và đặc biệt là tạonên dư luận mạnh mẽ đòi xử lý tham nhũng Đây là kinh nghiệm chung của cácnước trên thế giới

Trang 10

1.3 Tác hại của tham nhũng

Tham nhũng có thể gây ra rất nhiều hậu quả nghiêm trọng trên tất cả cáclĩnh vực của đời sống xã hội Có thể khái quát những tác hại chủ yếu của thamnhũng ở những điểm chính sau:

1.3.1 Tác hại về chính trị

Tham nhũng là trở lực lớn đối với quá trình đổi mới đất nước và làm xóimòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, đối với sự nghiệp xây dựngđất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội

Hiện nay, tình hình tham nhũng ở nước ta đã ở mức nghiêm trọng, đángbáo động Tham nhũng không chỉ xảy ra ở cấp Trung ương, ở những chươngtrình, dự án lớn mà còn xuất hiện nhiều trong các cấp chính quyền cơ sở - là cơquan tiếp xúc với nhân dân hằng ngày, giải quyết những công việc liên quan trựctiếp đến lợi ích của nhân dân Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hànhTrung ương Đảng khoá IX chỉ rõ: “ Điều làm cho nhân dân còn nhiều bấtbình, lo lắng, bức xúc nhất hiện nay là tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãngphí, suy thoái về tư tưởng, chính trị và phẩm chất, đạo đức, lối sống của một bộphận cán bộ, đảng viên vẫn còn rất nghiêm trọng ”

1.3.3 Tác hại về xã hội

Tham nhũng xâm phạm, thậm chí làm thay đổi, đảo lộn những chuẩn mựcđạo đức xã hội, tha hoá đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước

Trang 11

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

Ở VIỆT NAM 2.1 Những nét cơ bản về thực trạng phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam

Theo số liệu do Tổ chức Minh bạch thế giới (TI) công bố, Chỉ số cảmnhận tham nhũng (CPI) của Việt Nam trong những năm gần đây đã tăng lên, thểhiện một chỉ báo tích cực đối với các nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trongcông tác phòng, chống tham nhũng Cụ thể, năm 2018, Việt Nam đạt 33/100điểm, xếp hạng 117/180 toàn cầu Trong năm 2018, Đảng và Nhà nước đã cónhiều nỗ lực đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, điển hình là việcnhanh chóng, kiên quyết xử lý các vụ án tham nhũng lớn và hoàn thiện khuônkhổ pháp lý về phòng, chống tham nhũng Tháng 11/2018, Quốc hội đã thôngqua Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) gồm 10 chương với 96 điều Chínhphủ đã chỉ đạo tăng cường kiểm tra và tổ chức thực hiện nghiêm các biện phápphòng, chống tham nhũng như: đề cao tính liêm chính trong khu vực công, thựchiện hiệu quả công tác kê khai và công khai tài sản, thu nhập của cán bộ, côngchức Vì vậy, chỉ số CPI của Việt Nam năm 2019 đạt 37/100 điểm, tăng 4 điểm

so với năm 2018, đứng thứ 96/180 quốc gia, vùng lãnh thổ trong bảng xếp hạngtoàn cầu, tăng 21 bậc so với năm 2018 Đây là mức điểm cao nhất mà Tổ chứcMinh bạch thế giới đánh giá đối với Việt Nam và là năm có mức tăng điểm caonhất từ trước đến nay; cũng là sự khẳng định những kết quả tích cực trong côngtác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam

Những kết quả nêu trên thể hiện quyết tâm chính trị cùng với những hànhđộng quyết liệt, thực hiện những giải pháp hiệu quả của Đảng và Nhà nước, của

cả hệ thống chính trị từ Trung ương tới địa phương trong công tác phòng, chốngtham nhũng Cụ thể, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũngđược thành lập “với mong muốn đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũngthêm một bước” Trong nhiệm kỳ Đại hội ĐBTQ lần thứ XI, có 56.572 đảngviên bị xử lý kỷ luật, trong đó có 16.259 cấp ủy viên các cấp Ủy ban Kiểm traTrung ương đã tiến hành kiểm tra 13 tổ chức đảng và 33 đảng viên Qua kiểm

Trang 12

tra, kết luận các tổ chức đảng, đảng viên đều có khuyết điểm, vi phạm, trong đó

đề nghị thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách 3 tổ chức đảng, thi hành kỷluật 13 đảng viên (khiển trách 7, cảnh cáo 6) Ủy ban kiểm tra các địa phương,đơn vị đã kiểm tra 15.898 tổ chức đảng và 55.217 đảng viên, trong đó số tổ chứcđảng có vi phạm là 10.478, phải thi hành kỷ luật 791 tổ chức đảng; số đảng viên

có vi phạm là 42.757, trong đó phải thi hành kỷ luật 20.344 trường hợp

Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội ĐBTQ lần thứ XII của Đảng đến cuối năm

2018, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành 45nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng vàphòng, chống tham nhũng; Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua,ban hành 45 luật, pháp lệnh, 46 nghị quyết; Chính phủ đã ban hành 511 nghịđịnh, 413 nghị quyết, 160 quyết định nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lýnhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần phòng ngừa tiêu cực,tham nhũng; đã thi hành kỷ luật 53.306 đảng viên với hơn 60 cán bộ thuộc diệnTrung ương quản lý, trong đó có 16 Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viênTrung ương Đảng, trong đó có cả Ủy viên Bộ Chính trị

Trong năm 2019, công tác phòng, chống tham nhũng đã có bước tiếnmạnh mẽ với nhiều chủ trương, giải pháp đột phá, đi vào chiều sâu, do đó thamnhũng được kiềm chế, từng bước ngăn chặn và có chiều hướng thuyên giảm,góp phần quan trọng giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nângcao uy tín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế Nổi bật là đẩy mạnh việcxây dựng, hoàn thiện thể chế trên các lĩnh vực đời sống: “Cụ thể là Trung ương,

Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành gần 30 văn bản về xây dựng Đảng, hệthống chính trị và phòng, chống tham nhũng Quốc hội đã thông qua 18 luật, 20nghị quyết; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 100 nghị định, 119nghị quyết, 37 quyết định, 33 chỉ thị Như vậy, tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hộiĐBTQ lần thứ XII đến nay, đã thi hành kỷ luật hơn 90 cán bộ thuộc diện Trungương quản lý, trong đó có 21 đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủyviên Trung ương Đảng (2 Ủy viên Bộ Chính trị), 22 sĩ quan cấp tướng trong lựclượng vũ trang” Những tháng đầu năm 2020, Ban Chỉ đạo Trung ương về

Trang 13

phòng, chống tham nhũng yêu cầu tập trung đưa ra xét xử sơ thẩm 10 vụ ánnghiêm trọng, phức tạp được dư luận xã hội quan tâm.

Có thể khẳng định rằng, công tác phòng chống tham nhũng ở Việt Nam

đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận; nạn tham nhũng đã bị ngăn chặn, đẩylùi; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nướcđược nâng lên Có thể khái quát một số đặc điểm của công tác phòng, chống ởViệt Nam như sau:

- Không có vùng cấm, không có đặc quyền, không có ngoại lệ, không chịu

sự tác động không đúng của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào;

- Làm từng bước, rõ đến đâu xử lý đến đó;

- Nhân dân và cả hệ thống chính trị vào cuộc;

- Nhân văn, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội;

- Lấy phòng ngừa là chính, cơ bản, phát hiện, xử lý là quan trọng, cấpbách

Bên cạnh kết quả đạt được, công tác phòng, chống tham nhũng ở ViệtNam vẫn còn một số hạn chế như: công tác tuyên truyền, giáo dục về phòng,chống tham nhũng hiệu quả chưa cao, hiện tượng phải hối lộ, bôi trơn hoặc tácđộng bằng hình thức khác để được thuận lợi hơn trong giải quyết công việc cònphổ biến; một số cơ chế, chính sách còn thiếu chặt chẽ, chưa phù hợp với thựctiễn; thực thi pháp luật có lúc, có nơi chưa nghiêm Công tác tổ chức, cán bộ,kiểm soát tài sản, thu nhập còn nhiều hạn chế, vướng mắc; vấn đề phát hiện, xử

lý tham nhũng chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là tự phát hiện, xử lý tham nhũngtrong nội bộ

2.2 Những thành tựu, kết quả đạt được trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta trong những năm qua và nguyên nhân của kết quả đạt được

2.2.1 Những thành tựu, kết quả đạt được trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta trong những năm qua

2.2.1.1 Về chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trên suốt chặng đường lịch sử lãnh đạo sự nghiệp cách mạng Việt Nam,

Trang 14

Đảng ta luôn chú trọng công tác phòng, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí

và các hiện tượng tiêu cực khác thông qua việc ban hành nhiều nghị quyết, khởixướng nhiều cuộc vận động phòng, chống tham nhũng với mong muốn giảmthiểu tác hại của hiện tượng tiêu cực này Ngay từ khi thực hiện kế hoạch 5 nămlần thứ nhất xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Đảng ta đã tiến hành cuộcvận động “Nâng cao ý thức, trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế, tài chính,cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí quan liêu” (gọi tắt là Ba xây, Ba chống)theo tinh thần Nghị quyết Bộ chính trị ngày 24-7-1963 Sau khi giải phóng miềnNam, thống nhất đất nước, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng, Nhànước và nhân dân ta tập trung vào nhiệm vụ phát triển sản xuất kinh doanh, bảo

vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, bảo đảm trật tự, kỷ cương quản lý nhà nước Trongquá trình thực hiện nhiệm vụ đó, Đảng ta đã chú trọng đến việc ngăn ngừa, đấutranh chống các hành vi tham ô, ăn cắp, nhận hối lộ Nghị quyết Hội nghị Banchấp hành Trung ương lần thứ ba (khóa IV) đã nhấn mạnh: Nghiêm khắc thihành kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với những phần tử ăn cắpcủa công, móc ngoặc, hối lộ, lợi dụng chức quyền ức hiếp quần chúng, vi phạmpháp chế xã hội chủ nghĩa

Từ năm 1986, đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới do Đảng đề xướng

và lãnh đạo, trong đó lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm Những năm đầu thựchiện đổi mới, bộ mặt đất nước đã có những thay đổi, nền kinh tế - xã hội đã thuđược những kết quả quan trọng Tuy nhiên, trong điều kiện xây dựng, phát triểnnền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý củaNhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã nảy sinh nhiều hiện tương tiêucực mới, phát sinh các loại tệ nạn xã hội mới; tạo môi trường cho tham nhũngphát triển với tính chất, mức độ và hình thức biểu hiện mới ngày càng tinh vi,phức tạp hơn Vì thế, Nghị quyết 8B của Ban Chấp hành Trung ương khoá VI đãxác định công tác đấu tranh chống tham nhũng phải là ưu tiên hàng đầu trongđấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực Quán triệt tinh thần đó, Ban Bí thư đãđưa ra Chỉ thị64-CT ngày 10-10-1990 và Hội đồng Bộ trưởng đã ra quyết định240/HĐBT ngày 26-6-1990 về đấu tranh chống tham nhũng; trong đó xác định

Trang 15

mục tiêu cơ bản là tập trung chống tham ô, hối lộ, cố ý làm trái chính sách, phápluật và sử dụng lãng phí tiền bạc, tài sản của Nhà nước Tiếp đó, Nghị quyết 8014-BCT ngày 15-5-1996 của Bộ Chính trị đã gắn đấu tranh chống tham nhũngvới chống buôn lậu, lãng phí, xác định trọng tâm của cuộc đấu tranh chống thamnhũng tập trung vào hai loại hành vi chủ yếu, gồm tham ô, chiếm đoạt, làm thấtthoát tài sản của Nhà nước; nhận hối lộ và đòi hối lộ Tiếp theo, các Nghị quyếtcủa Hội nghị Đại biểu giữa nhiệm kỳ khoá VII, Đại hội VIII, Đại hội IX đều xácđịnh tham nhũng là một trong bốn nguy cơ đối với cách mạng nước ta và đề ranhững giải pháp, quyết tâm chống loại tệ nạn này Đại hội lần thứ IX của Đảngkhẳng định: “Tăng cường tổ chức và cơ chế, tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranhchống tham nhũng trong bộ máy nhà nước và toàn bộ hệ thống chính trị, ở cáccấp, các ngành, từ trung ương đến cơ sở Gắn chống tham nhũng với chống lãngphí, quan liêu, buôn lậu, đặc biệt chống các hành vi lợi dụng chức quyền để làmgiàu bất chính Các biện pháp chống tham nhũng phải được thực hiện đồng bộ.Tinh thần đó tiếp tục được Đảng ta đề cập, phân tích, đánh giá trong các Vănkiện Đại hội X, Đại hội XI như đã nêu ở trên: từ đó, đề ra những giải pháp cụthể để đẩy lùi nạn tham nhũng với quyết tâm chính trị ngày càng cao hơn.

Như vậy, có thể thấy, Đảng ta coi tham nhũng là một trong những nguy

cơ đối với chế độ ta, hành vi chủ yếu của tham nhũng là tham ô, chiếm đoạt, đòi

và nhận hối lộ, các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm giàu bất chính.Đảng ta xác định đấu tranh phòng, chống tham nhũng là một bộ phận hợp thànhcủa sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân Công tác đấu tranh phòng,chống tham nhũng đòi hỏi phải sử dụng đồng bộ nhiều biện pháp; đấu tranhphòng, chống tham nhũng có hiệu quả là góp phần quan trọng thúc đẩy sựnghiệp đổi mới và công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Đó cũng là

cơ sở chính trị đặc biệt quan trọng để Nhà nước xây dựng, ban hành thể chế,chính sách phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng Đây là thànhtựu quan trọng về mặt lý luận, soi sáng cho thực tiễn đấu tranh phòng, chốngtham nhũng ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Trang 16

2.2.1.2 Về thể chế của Nhà nước

Cam kết của Chính phủ Việt Nam đối với công cuộc phòng, chống thamnhũng được thể hiện qua các nỗ lực hoàn thiện khung pháp lý và hệ thống thểchế Thành tựu đầu tiên về thể chế là sự ra đời của Luật phòng, chống thamnhũng Luật này đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29-11-

2005, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-6-2006 và cũng đã được sửa đổi, bổsung tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XII ngày 04-8-2007; mới đây Luật nàylại tiếp tục được sửa đổi, bổ sung tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII ngày 23-11-2012 Sau đó, thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (Khóa X) về tăng cường

sự lãnh đạo của Đảng về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và Luậtphòng, chống tham nhũng Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đếnnăm 2020 đã được ban hành kèm theo Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 12-5-2009của Chính phủ Chiến lược xác định rõ 5 quan điểm, 5 mục tiêu cụ thể, 5 nhómgiải pháp với 3 giai đoạn thích hợp nhằm từng bước ngăn chặn, đẩy lùi và loạitrừ những nguy cơ phát sinh hành vi tham nhũng

Bên cạnh đó, đồng tình, hưởng ứng cùng với cộng đồng quốc tế trongcông cuộc phòng, chống tham nhũng và lưu tâm đến tính chất toàn cầu của hiệntượng tham nhũng Việt Nam cũng đã phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc tế vềphòng, chống tham nhũng (UNCAC) cũng vào năm 2009 Cụ thể hóa các vănbản trên, Nghị định số 68/2011/NĐ-CP ngày 08-8-2011 của Chính phủ sửa đổi,

bổ sung một số điều của Nhị định số 37/2007/NĐ-CP ngày 09-3-2007 của Chínhphủ về minh bạch tài sản, thu nhập là bước tiến lớn trong nhận thức của Chínhphủ Việt Nam về công cụ phòng, chống tham nhũng Đi liền với hệ thống thểchế là việc các cơ quan đặc trách phòng, chống tham nhũng các cấp từ Trungương đến địa phương đã được thành lập, kiện toànvề tổ chức và củng cố về nhân

sự Có thể kể đến một số cơ quan sau:

a) Ban chỉ đạo trung ương về phòng chống tham nhũng

Ngày 28-8-2006, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết1039/2006/NĐ-UBTVQH11 quy định về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và quychế hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng ( sau

Trang 17

đây gọi là Ban Chỉ đạo) Ban Chỉ đạo do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu cótrách nhiệm chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra, đôn đốc hoạt động phòng, chống thamnhũng trong phạm vi cả nước; giúp việc cho Ban chỉ đạo Trung ương về phòng,chống tham nhũng có các bộ phận thường trực hoạt động chuyên trách Ban Chỉđạo chịu trách nhiệm trước Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban

Bí thư, Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ vềviệc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong công tác phòng, chống thamnhũng theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật Thực hiện Nghị quyết1039/2006/NQ-UBTVQHll, Ban Chỉ đạo Trung ương đã được thành lập và bắtđầu hoạt động từ tháng 10-2006 với chức năng chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra, đônđốc công tác phòng, chống tham nhũng trong phạm vi cả nước Thủ tướngChính phủ - Trưởng Ban Chỉ đạo và Phó Thủ tướng Chính phủ - Phó TrưởngBan Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã chủ trì nhiều cuộchọp, làm việc với các cơ quan chức năng để chỉ đạo phối hợp giải quyết cácvướng mắc và cho chủ trương xử lý đối với các vụ việc, vụ án tham nhũngnghiêm trọng, phức tạp nhằm đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng xử lý.Các thành viên Ban Chỉ đạo đã có nhiều cố gắng tích cực trong thực hiện nhiệm

vụ được giao, nhất là triển khai thực hiện chương trình, kế hoạch công tác củaBan Chỉ đạo theo các lĩnh vực công tác được phân công trong đó có việc kiểmtra, đôn đốc công tác phòng, chống tham nhũng tại các địa phương và các lĩnhvực trọng tâm, trọng điểm này Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng,chống tham nhũng đã được thành lập và bắt đầu đi vào hoạt động từ đầu năm

2007 Đến nay, tổ chức, bộ máy của Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương vềphòng, chống tham nhũng về cơ bản đã được kiện toàn; phối hợp với các cơquan, tổ chức trong việc nghiên cứu, xây dựng các văn bản pháp luật về phòngchống tham nhũng và đôn đốc việc thực hiện các văn bản này

Sau Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI), theo Quyết định số 162-QĐ/TWngày 01-02-2013 của Bộ Chính trị thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng,chống tham nhũng thì Ban Chỉ đạo hiện nay trực thuộc Bộ Chính trị, chức vụTrưởng Ban Chỉ đạo được giao cho Tổng Bí thư nhằm bảo đảm tính độc lập của

Trang 18

cơ quan chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng đối với bộ máy hành chính nhànước.

b) Ban Chỉ đạo cấp tỉnh về phòng, chống tham nhũng:

Thực hiện Nghị quyết số 294A/2007/UBTVQH12 ngày 27-9-2007 của

Ủy ban thường vụ Quốc hội vê tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và Quy chế hoạtđộng của Ban chỉ đạo tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương về phòng, chốngtham nhũng đến đầu năm 2009, tại tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương đã thành lập Ban chỉ đạo (Văn phòng Ban chỉ đạo cấp tỉnh về phòng,chống tham nhũng) Các Văn phòng Ban chỉ đạo cấp tỉnh đã tham mưu, giúpviệc và phục vụ cho các Ban chỉ đạo cấp tỉnh trong việc xây dựng chương trình,

kế hoạch phòng, chống tham nhũng, báo cáo kết quả công tác phòng, chốngtham nhũng; chuẩn bị nội dung, chương trình cho các cuộc họp của Ban chỉ đạo,giúp các thành viên Ban chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, đôn đốc về phòng,chống tham nhũng trên địa bàn

c)Thành lập các đơn vị chuyên trách về phòng chống tham nhũng:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 75 Luật phòng, chống tham nhũng hiệnhành, trong Thanh tra Chính phủ, Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao

có đơn vị chuyên trách về chống tham nhũng Theo tinh thần đó, các đơn vịchuyên trách về chống tham nhũng tại Thanh tra Chính phủ (Cục Chống thamnhũng), Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Vụ Thực hành quyền công tố và kiểmsát điều tra án tham nhũng),Bộ Công an (Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về thamnhũng) đểu đã được thành lập, kiện toàn tổ chức và đi vào hoạt động nghiệp vụ,từng bước phát huy hiệu quả, nâng cao chất lượng thanh tra, điều tra, truy tố các

vụ việc, vụ án tham nhũng, góp phần tích cực trong công tác phòng chống thamnhũng

Thanh tra là hoạt động kiểm soát có tính chất nội bộ cả bộ máy hànhchính nhà nước Thanh tra Chính phủ mà tiền thân là Ban Thanh tra đặc biệtđược thành lập theo Sắc lệnh số 64/SL ngày 23-11-1945, đến nay, đã có hơn 65năm hoạt động và phát triển, Sau một thời gian dài có nhiều thay đổi về tổchức,cơ cấu cũng như chức năng, nhiệm vụ, hoạt động của Thanh tra đã đi vào

Trang 19

ổn định từ sau khi Luật thanh tra mới được ban hành vào năm 2010 Điều này có

ý nghĩa to lớn đối với công tác phòng, chống tham nhũng của Việt Nam khi ghinhận chức năng của Thanh tra ở Điều 5;“Cơ quan thanh tra nhà nước trongphạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện và giúp cơ quan nhà nước cóthẩm quyền thực hiện quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếunại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra, giải quyết khiếunại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật” Trongphạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Thanh tra Chính phủ có trách nhiệm tổchức, chỉ đạo, hướng dẫn công tác thanh tra việc thực hiện các quy định củapháp luật về phòng, chống tham nhũng; trường hợp phát hiện hành vi thamnhũng thì đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý; Bên cạnh đó, Thanh traChính phủ xây dựng hệ thống dữ liệu chung về phòng, chống tham nhũng

Ngoài ra, để phối hợp phòng, chống tham nhũng trong phạm vi, nhiệm vụ,quyền hạn của mình Kiểm toán Nhà nước có trách nhiệm tổ chức thực hiện việckiểm toán nhằm phòng ngừa, phát hiện tham nhũng, trường hợp phát hiện thamnhũng thì đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý; Bộ Công an, Bộ Quốcphòng có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo thực hiện hoạt động điều tra tội phạm vềtham nhũng; Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạothực hiện hoạt động truy tố các tội phạm về tham nhũng; kiểm soát hoạt độngđiều tra xét xử, thi hành án đối với các tội phạm về tham nhũng; Tòa án nhândân tối cao có trách nhiệm xét xử, hướng dẫn công tác xét xử các tội phạm vềtham nhũng Các cơ quan chức năng ban hành nhiều quy định về cơ chế phốihợp trong phòng, chống tham nhũng, như Quy chế phối hợp công tác giữa BanChỉ đạo Trung ương và Ủy ban Kiểm tra Trung ương; Quy chế phối hợp giữaThanh tra Chính phủ , Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Viện kiểm sát nhân dân tốicao, Tòa án nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước trong việc trao đổi, cung cấpthông tin về phòng, chống tham nhũng; Quy chế phối hợp giữa Văn phòng Banchỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Bộ Công an, Tòa án nhân dântối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc xử lý các vụ án tham nhũng

Trang 20

2.2.1.3.Về hoạt động thực thi phòng, chống tham nhũng

Trên nhiều mặt, hoạt động thực thi phòng chống tham nhũng ở nước tatrong những năm qua đã đạt những kết quả quan trọng và tạo được sự chuyểnbiến rõ nét Công tác tuyên truyền, giáo dục phòng, chống tham nhũng gắn liềnvới việc thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức HồChí Minh” trong các cơ quan Đảng, Nhà nước thuộc các cấp, các ngành, các tổchức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng, đã tạo được chuyển biến tích cựctrong nhận thức, ý thức và trở thành hành động thực tiễn trong phòng, chốngtham nhũng Việc phòng ngừa tham nhũng với những giải pháp đồng bộ đangtừng bước phát huy tác dụng, mang lại hiệu quả thiết thực Công tác phát hiện,

xử lý các vụ, việc, vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp được phát hiện, xử

lý nghiêm theo pháp luật Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng ở Trung ương

và cấp tỉnh, cùng các đơn vị chuyên trách về chống tham nhũng được hình thànhkhẩn trương đi vào hoạt động, đã giúp các cấp ủy, chính quyền và người đứngđầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong triển khai nhiệm vụ phòng, chống thamnhũng Ngành Thanh tra và Kiểm tra, kiểm toán tập trung vào các lĩnh vực quản

lý đất đai, thu chi tài chính, ngân sách, đầu tư xây dựng cơ bản, thuế, cổ phầnhóa doanh nghiệp Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng đã tham mưu, giúp Ban

Bí thư tổ chức kiểm tra về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong quản lý, sửdụng ngân sách, đất đai, tài nguyên Sức mạnh của cả hệ thống chính trị trongcông tác này đã được phát huy

Những thành tựu nổi bật

Công tác phòng, chống tham nhũng đã có bước tiến mạnh, đạt nhiều kếtquả rất quan trọng, toàn diện, rõ rệt, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lantỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội, như đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước

Nguyễn Phú Trọng khẳng định, “công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đã trở thành phong trào, xu thế”, được cán bộ, đảng viên, nhân dân

đồng tình, hưởng ứng, đánh giá cao, được các tổ chức quốc tế ghi nhận Thamnhũng đang từng bước được kiềm chế, ngăn chặn, đẩy lùi và có chiều hướngthuyên giảm, góp phần quan trọng giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế -

Trang 21

xã hội, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhànước và chế độ Kết quả đó thể hiện trên 5 vấn đề sau đây:

- Một là, tập trung chỉ đạo công tác phát hiện và xử lý tham nhũng, kết

hợp giữa xử lý hành chính, xử lý kỷ luật của Đảng, của Nhà nước, của đoàn thểvới xử lý hình sự; kỷ luật của Đảng được thực hiện trước, mở đường, tạo điềukiện cho kỷ luật của Nhà nước, của đoàn thể và xử lý hình sự, không có vùngcấm, không có ngoại lệ

Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, thanh tra, kiểm toán của Nhà nướcđược tăng cường, phát hiện và xử lý nghiêm minh các sai phạm, siết chặt kỷluật, kỷ cương, góp phần đắc lực nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham

nhũng Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng đến nay, cấp ủy, ủy ban kiểm tra

các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.370 cán bộ, đảng viên do tham nhũng, cố ýlàm trái; Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm traTrung ương, cấp ủy có thẩm quyền xử lý kỷ luật hơn 90 cán bộ thuộc diệnTrung ương quản lý Đây là bước đột phá trong công tác kiểm tra, kỷ luật của

Đảng, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy nhà nước Các cơ quan

thanh tra, kiểm toán tăng cường thanh tra, kiểm toán các lĩnh vực có nhiều biểuhiện tiêu cực, tham nhũng, các dự án gây thất thoát, thua lỗ lớn, kéo dài, dư luận

xã hội quan tâm để phát hiện và xử lý nghiêm các sai phạm Từ năm 2016 đếnnay, qua thanh tra, kiểm toán đã kiến nghị thu hồi, xử lý gần 455 nghìn tỷ đồng

và hơn 8.100ha đất; kiến nghị xử lý trách nhiệm gần 8.000 tập thể, cá nhân;chuyển cơ quan điều tra xử lý 409 vụ việc sai phạm

Công tác điều tra, truy tố, xét xử được chỉ đạo quyết liệt, đẩy nhanh tiến

độ, kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm minh nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh

tế đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm, với mức án nghiêmkhắc nhưng cũng rất nhân văn, tạo bước đột phá trong công tác phòng, chống

tham nhũng Từ khi thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham

nhũng đến nay, các cơ quan tiến hành tố tụng trong cả nước đã khởi tố, điều tra12.178 vụ/20.668 bị can, truy tố 10.397 vụ/20.354 bị can, xét xử sơ thẩm 9.918vụ/19.026 bị cáo về các tội tham nhũng, trật tự quản lý kinh tế và tội phạm khác

Trang 22

về chức vụ Ban Chỉ đạo đã đưa 120 vụ án, 95 vụ việc tham nhũng, kinh tếnghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm vào diện theo dõi, chỉ đạo(trong đó, Ban Chỉ đạo 110 được thành lập theo Quyết định số 110-QĐ/TW,ngày 24-1-2018, của Ban Bí thư theo dõi, chỉ đạo xử lý 10 vụ án/68 bị can liênquan đến Phan Văn Anh Vũ và Đinh Ngọc Hệ); đã xét xử sơ thẩm 76 vụ/775 bịcáo, tuyên phạt 11 bị cáo (10 người) tử hình, 23 bị cáo (22 người) tù chung thân,

12 bị cáo mức án 30 năm tù, 23 bị cáo mức án từ 20 năm đến dưới 30 năm tù,

658 bị cáo từ 12 tháng đến dưới 20 năm tù Ban Chấp hành Trung ương, BộChính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đãlãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết, xử lý nghiêm minh, có lý, có tình một số cán bộcao cấp cả đương chức và đã nghỉ hưu, có vi phạm liên quan đến các vụ án thamnhũng, kinh tế đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm Từ đầunhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng đến nay, các cơ quan tiến hành tố tụng các cấpkhởi tố, điều tra 7.270 vụ/12.303 bị can, truy tố 5.976 vụ/11.613 bị can, xét xử

sơ thẩm 5.641 vụ/10.970 bị cáo về các tội tham nhũng, trật tự quản lý kinh tế và

tội phạm khác về chức vụ, qua đó, tình trạng “trên nóng, dưới lạnh” đang dần

được khắc phục; việc thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ ántham nhũng, kinh tế có nhiều chuyển biến tích cực Một số vụ án, vụ việc đặcbiệt nghiêm trọng, mà lâu nay được cho là “vùng cấm, nhạy cảm”, và nhiều vụ,việc kéo dài từ những năm trước đã được chỉ đạo xử lý dứt điểm, nghiêm minh,

có tác dụng cảnh tỉnh, răn đe, phòng ngừa tham nhũng có hiệu quả Đây là điểmsáng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thể hiện quyết tâm củaĐảng, Nhà nước cũng như hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương vềphòng, chống tham nhũng và các cơ quan chức năng trong cuộc đấu tranhphòng, chống tham nhũng vừa qua, được nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giácao

Từ sau Hội nghị Trung ương 11 (tháng 10-2019) đến nay (tính đến tháng

5-2020), đối với các vụ việc, vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về

phòng, chống tham nhũng theo dõi, chỉ đạo, đã kết thúc điều tra 13 vụ/79 bị can,truy tố 15 vụ/105 bị can, xét xử sơ thẩm 19 vụ/106 bị cáo, nhất là:

Ngày đăng: 30/10/2021, 15:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Luật Phòng, chống tham nhũng, số 55/2005/QH11 của Nước Cộng hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 Khác
2. Nghị định số 120/2006/NĐ-CP ngày 20/10/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều Luật Phòng chống tham nhũng Khác
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011 Khác
5. Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/5/2012, Kết luận Hội nghị Trung ương 5 khóa XI về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTN Khác
6. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành trung ương tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 Khác
7. Tài liệu tham khảo về phòng, chống tham nhũng - Viện Khoa học thanh tra thuộc Thanh tra Chính phủ - Xuất bản năm 2012 Khác
8. Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại phiên họp thứ nhất Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, ngày 04/02/2013 Khác
9. Ủy ban Kiểm tra Trung ương, 70 năm truyền thống ngành Kiểm tra Đảng (1948 - 2018), Nxb Thông tin và Truyền thông Khác
10. Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại phiên họp thứ 15 Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, ngày 21/01/2019 Khác
11. Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại phiên họp thứ 17 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng ngày 15/01/2020 đánh giá kết quả hoạt động năm 2019 và đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm công tác phòng, chống tham nhũng năm 2020 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w