1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TIỂU LUẬN MƠN: LUẬT HƠN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM

26 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 1,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nuôi con nuôi là một đạo luật mang tính nhân đạo sâu sắc, góp phần vào việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em đặc biệt là những trẻ em có hoàn cảnh không may mắn như: cha mẹ bị bỏ rơ

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

I Khái quát chung về điều kiện nuôi con nuôi 2

1 Khái niệm 2

2 Đặc điểm của điều kiện nuôi con nuôi 2

3 Cơ sở quy định điều kiện nuôi con nuôi 3

3.1 Cơ sở lý luận 3

3.2 Cơ sở thực tiễn 3

4 Ý nghĩa quy định điều kiện nuôi con nuôi 4

II Điều kiện để việc nuôi con nuôi hợp pháp theo quy định của Luật Nuôi con nuôi năm 2010 4

1 Quy định của pháp luật về điều kiện nuôi con nuôi theo Luật Nuôi con nuôi năm 2010 4

1.1 Điều kiện đối với chủ thể 4

1.1.1 Điều kiện đối với người nhận nuôi 4

1.1.2 Điều kiện đối với người được nhận nuôi 7

1.2 Điều kiện về ý chí của các bên chủ thể trong việc nuôi con nuôi 8

1.2.1 Ý chí của người nhận nuôi 8

1.2.2 Ý chí của cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của người được nhận nuôi 10

1.2.3 Ý chí của người được nhận nuôi 11

1.3 Điều kiện về thủ tục công nhận việc nuôi con nuôi 11

1.3.1 Thẩm quyền 11

1.3.2 Thủ tục 12

1.3.3 Các hành vi bị cấm 15

2 Đánh giá về quy định của pháp luật 16

III Thực tiễn áp dụng pháp luật về điều kiện nuôi con nuôi 16

Trang 3

1 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về điều kiện nuôi con nuôi 16

1.1 Những thành tựu đạt được 16

1.2 Bất cập, hạn chế còn tồn tại 17

2 Nguyên nhân của những vấn đề trên 19

2.1 Nguyên nhân khách quan 19

2.2 Nguyên nhân chủ quan 19

3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật 19

KẾT LUẬN 21 DANH MỤC THAM KHẢO

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

NĐ 19/2011/NĐ-CP

Nghị định số 19/2011/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của luật Nuôi con

nuôi năm 2010

Trang 5

MỞ ĐẦU Nuôi con nuôi – một hiện tượng xã hội, một chế định pháp lý đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử pháp luật Việt Nam Nuôi con nuôi là việc xác lập quan hệ cha, mẹ và con giữa người nhận con nuôi và người được nhận làm con nuôi dựa trên ý chí chủ quan của các chủ thể tham gia quan hệ nuôi con nuôi Nuôi con nuôi là một đạo luật mang tính nhân đạo sâu sắc, góp phần vào việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ

em đặc biệt là những trẻ em có hoàn cảnh không may mắn như: cha mẹ bị bỏ rơi, mồ côi,… Pháp luật Việt Nam khi quy định về việc nuôi con nuôi thể hiện được tính tiến bộ, sự nhân đạo trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em

Chính vì vậy, để làm rõ hơn về vấn đề này, em xin phép được lựa chọn đề bài tập

số 09: “Đánh giá về các điều kiện để việc nuôi con nuôi hợp pháp theo quy định của Luật Nuôi con nuôi năm 2010” làm bài tập học kỳ để nghiên cứu và tìm hiểu

Trang 6

2 Đặc điểm của điều kiện nuôi con nuôi

Điều kiện nuôi con nuôi có những đặc điểm như sau:

Về chủ thể, chủ thể của quan hệ nuôi con nuôi gồm: cha mẹ đẻ, người giám hộ, người nhận nuôi và người được nhận nuôi Chủ thể này tác động lẫn nhau trong nhiều giai đoạn của việc nhận nuôi con nuôi

Về ý chí, việc xác lập quan hệ cha mẹ, con là xuất phát trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với nhu cầu, mong muốn, tình cảm của các bên chủ thể Nhà nước không thể bắt buộc một người có đủ điều kiện nhận nuôi phải nhận một trẻ em bị bỏ rơi, có hoàn cảnh đặc biệt về chăm sóc, nuôi dưỡng như một đứa trẻ

Về nội dung, pháp luật quy định điều kiện nuôi con nuôi gồm: điều kiện đối với người nhận nuôi, điều kiện đối với người được nuôi, điều kiện về ý chí của các bên chủ thể, điều kiện về thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi

1

Nguyễn Thúy Hằng (2014), “Điều kiện nuôi con nuôi – một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Luận văn thạc sỹ luật học, trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội

Trang 7

Về hình thức, điều kiện bắt buộc là cần phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận Việc nhận nuôi con nuôi chỉ hoàn thành khi cơ quan nhà nước cấp Giấy chứng nhận nuôi con nuôi cho các bên có liên quan

3 Cơ sở quy định điều kiện nuôi con nuôi

3.1 Cơ sở lý luận

Nuôi con nuôi là cơ sở để xác lập các mối quan hệ trong gia đình, góp phần hình thành, mở rộng, củng cố gia đình, thiết lập một thiết chế xã hội cơ bản trong mọi xã hội do đó, pháp luật các nước luôn có sự điều chỉnh các mối quan hệ này sinh từ việc nuôi con nuôi Tư tưởng của nhà cầm quyền, đường lối, chủ trương của Đảng

và Nhà nước là một trong những cơ sở quan trọng để xây dựng pháp luật nuôi con nuôi Hơn nữa, chế định nuôi con nuôi được hầu hết các quốc gia và cộng đồng quốc

tế quan tâm vì đó là sự bảo vệ pháp lý rất cần thiết cho những trẻ em không được chăm sóc, nuôi dưỡng trong gia đình mình thậm chí trong quốc gia khi được cho làm con nuôi người nước ngoài Chính vì vậy, các văn bản pháp luật quốc tế: Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em năm 1989, Công ước Layha số 33 năm 1993,

là một trong những cơ sở quan trọng để xây dựng các quy định về điều kiện nuôi con nuôi nói riêng và pháp luật về nuôi con nuôi nói chung

3.2 Cơ sở thực tiễn

Thực tiễn cho thấy trong nhiều năm qua vẫn còn rất nhiều trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt: mồ côi, khuyết tật, mắc bệnh hiểm nghèo,… Trong điều kiện kinh tế xã hội còn khó khăn, nhà nước chưa có đủ điều kiện để bảo đảm chăm sóc cho các em được tốt hơn thì việc cho trẻ em làm con nuôi là giải pháp vô cùng thiết thực Bên cạnh việc chăm sóc, bảo vệ, nuôi dưỡng trẻ em được tốt hơn thì còn đáp ứng được nhu cầu chính đáng của các vợ chồng vô sinh, hiếm con, phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, người sống đơn thân mong nuôi con nuôi Tính đến thời điểm hiện tại nhiều trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn đã tìm được các gia đình thay thế ở trong và ngoài nước Tuy nhiên, vẫn còn xảy ra một số hiện tượng trục lợi, phát sinh trong quá trình giải quyết nuôi con nuôi: chạy theo lợi ích vật chất khi giới thiệu trẻ em làm con nuôi người nước ngoài, nhận nuôi trẻ em, nhận nuôi trẻ em nhằm bóc lột

Trang 8

sức lao động, lợi dụng để buôn bán trẻ em, xâm hại đến quyền và không bảo vệ được lợi ích tốt nhất cho trẻ em Chính vì vậy, việc quy định các điều kiện nuôi con nuôi là cần thiết, giúp giảm thiểu các tình trạng trên

4 Ý nghĩa quy định điều kiện nuôi con nuôi

Chế định nuôi con nuôi được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình của nước ta từ năm 1959 đến nay xuất phát trước tiên vì lợi ích của người nuôi con nuôi đồng thời cũng bảo đảm lợi ích của người nhận nuôi con nuôi1 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định đầy đủ một cách toàn diện và cụ thể các điều kiện nuôi con nuôi, góp phần thực hiện tốt mục đích của việc nuôi con nuôi cũng như lành mạnh hóa việc nuôi con nuôi Nếu việc nuôi con nuôi được xác lập có sự vi phạm các điều kiện của nuôi con nuôi thì sẽ dẫn đến sự xâm phạm về quyền và lợi ích hợp pháp của người được nhận làm con nuôi; cha mẹ đẻ của họ, người nhận nuôi Đồng thời là căn

cứ giúp các cơ quan có thẩm quyền tiến hành việc giải quyết nuôi con nuôi một cách nhanh chóng, đảm bảo quyền lợi của các bên, hạn chế tranh chấp xảy ra Quy định trên còn là căn cứ pháp lý để tòa án dựa vào khi xem xét, chấm dứt việc nuôi con nuôi có động cơ, mục đích không vì lợi ích của trẻ, để chống lại nạn buôn bán trẻ

em trá hình thông qua việc nuôi con nuôi2 Qua đó, góp phần củng cố các quan hệ xã hội tốt đẹp, thể hiện bản chất của Nhà nước trong việc quan tâm, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của con người

II Điều kiện để việc nuôi con nuôi hợp pháp theo quy định của Luật Nuôi con nuôi năm 2010

1 Quy định của pháp luật về điều kiện nuôi con nuôi theo Luật Nuôi con nuôi năm 2010

1.1 Điều kiện đối với chủ thể

1.1.1 Điều kiện đối với người nhận nuôi

Người nhận nuôi con nuôi phải đáp ứng được đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 14 Luật Nuôi con nuôi năm 2010

Trang 9

Thứ nhất, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ: người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là người thành niên (người từ đủ mười tám tuổi trở lên) và không phải là người bị Tòa án tuyên bố bị mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định tại Điều 22, 23, 24 BLDS 2015 Quy định điều kiện này đối với chủ thể nhận nuôi là hợp lý bởi chỉ có chủ thể có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mới thực hiện được đầy đủ quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi đối với việc nuôi con nuôi Đồng thời cũng chỉ có những chủ thể này mới đảm bảo việc nuôi dưỡng, tạo được mái ấm gia đình đúng nghĩa cho người con nuôi

Thứ hai, hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên Đây là điều kiện về độ tuổi của người nhận con nuôi Tuy không quy định về độ tuổi tối thiểu để có thể nhận nuôi con nuôi nhưng pháp luật Việt Nam lại quy định sự chênh lệch tối thiểu về độ tuổi giữa người được nhận nuôi và người nhận nuôi Có thể nói sự chênh lệch về độ tuổi này sẽ đảm bảo được người nhận con nuôi sẽ đủ năng lực hành vi dân sự cũng như hoàn thiện về tâm sinh lý và đảm bảo đủ về khả năng tài chính để có thể nuôi một đứa trẻ có điều kiện sống tốt Ngoài ra, quy định như vậy để tạo ra sự cách biệt thế hệ giữa người nhận nuôi và con nuôi nhằm đảm bảo được truyền thống gia đình, giúp cho cả cha

mẹ nuôi và con nuôi có cách cư xử đúng mực với nhau, giảm thiểu tình trạng cha,

mẹ nuôi lạm dụng tình dục với con nuôi

Thứ ba, có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi Về điều kiện về sức khỏe của người nhận nuôi phải tốt, không được mắc bệnh hiểm nghèo vì nếu cha mẹ nuôi không có được sức khỏe tốt thì việc chăm sóc, nuôi dưỡng con cái cũng sẽ bị ảnh hưởng ít nhiều Ngoài ra người nhận nuôi còn phải có đủ điều kiện kinh tế, tài chính và phải chứng minh được có tài sản, có thu nhập để đảm bảo cho trẻ một môi trường sống ổn định Cùng đó thì người nhận con nuôi cũng phải dành ra quỹ thời gian để quan tâm, chăm sóc, dạy

dỗ, chơi đùa cũng trẻ Nhiều cha mẹ nuôi tuy đầy đủ điều kiện về mặt sức khỏe, tài chính nhưng lại không thể đủ thời gian dành cho con nuôi thì vẫn có thể sẽ không được xem là đủ điều kiện này Đây là điều kiện quan trọng nhằm tạo môi trường sống lành mạnh, thuận lợi cho sự phát triển về mọi mặt của trẻ Tuy nhiên, pháp luật

Trang 10

hiện nay quy định về điều kiện này còn chung chung, chưa rõ ràng, gây khó khăn trong thực tiễn áp dụng

Thứ tư, có tư cách đạo đức tốt Cha mẹ là tấm gương phản chiếu lại tính cách, nhân cách của mỗi đứa trẻ Nếu như cha mẹ không có tư cách đạo đức tốt thì đứa trẻ sau này cũng không thể tốt Đồng thời với quy định này hạn chế việc lợi dụng trẻ vào những mục đích không tốt Vì vậy, đây là một yếu tố cần thiết đảm bảo cho con nuôi được sống trong môi trường gia đình lành mạnh Riêng đối với trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc

cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định về độ tuổi, điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở1 Quy định này phù hợp với với nguyên tắc tôn trọng quyền của trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc, sống với người thân thích, ruột thịt của mình; phù hợp với phong tục, tập quán, truyền thống đạo đức của dân tộc đồng thời phù hợp với các văn bản pháp lý quốc tế về nuôi con nuôi Ngoài những điều kiện nêu trên, những người sau đây không được nhận con nuôi theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi năm 2010: “đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên; đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh; đang chấp hành hình phạt tù; chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha

mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em” Mục đích của quy định như vậy nhằm đảm bảo cho người con nuôi được sống trong môi trường lành mạnh, được chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng, giáo dục tốt về thể chất và nhân cách Đồng thời phòng ngừa và bảo vệ người được nhận làm con nuôi khỏi các nguy cơ bị lạm dụng, xâm hại đến sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, Đối với trường hợp người nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, thì người nhận nuôi không chỉ đáp ứng các điều kiện về người nhận nuôi tại Điều 14 mà còn phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu của Điều 29 Luật Nuôi con nuôi năm 2010:

“Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài

1

Khoản 3 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi năm 2010

Trang 11

nhận người Việt Nam làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật nước nơi người đó thường trú và quy định tại Điều 14 của Luật này Công dân Việt Nam nhận người nước ngoài làm con nuôi phải có đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 14 của Luật này và pháp luật của nước nơi người được nhận làm con nuôi thường trú” Quy định này phù hợp với quy định áp dụng pháp luật nơi thường trú của cha mẹ nuôi quy định tại Công ước Lahay năm 1993 và các hiệp định song phương Việt Nam đã ký kết

1.1.2 Điều kiện đối với người được nhận nuôi

Thứ nhất, về độ tuổi của người được nhận nuôi thì có hai trường hợp:

- Người được nhận nuôi là trẻ em dưới 16 tuổi1 Vì Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” Đồng thời Điều 21 BLDS 2015 quy định:

“Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi và người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi” Ở lứa tuổi chưa thành niên, trẻ chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, chưa thể độc lập khi tham gia vào các giao dịch dân sự nếu không có

sự đồng ý của người giám hộ Do đó, để thống nhất với pháp luật hiện hành, Luật Nuôi con nuôi năm 2010 đã quy định về độ tuổi của người được nhận làm con nuôi

là trẻ em dưới 16 tuổi Hơn nữa, quy định như vậy nhằm đảm bảo về sự chênh lệch

và khoảng cách cần thiết giữa hai thế hệ, bảo đảm được mục đích xác lập quan hệ cha mẹ và con, tạo điều kiện cho người được nhận nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục phù hợp với đạo đức và xã hội Việc nhận nuôi trẻ em ở độ tuổi này tạo cho các em một mái ấm gia đình, tạo điều kiện để các em được sống trong môi trường có sự cảm thông từ những người thân thích là cha mẹ nuôi

- Người được nhận nuôi là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu được cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi thì vẫn được nhận làm con nuôi2 Quy định này nhằm tạo điều kiện cho người được nhận nuôi được sống trong môi trường gia đình gốc, gia đình có mối quan hệ huyết thống hoặc gia đình có

1 Khoản 1 Điều 8 Luật Nuôi con nuôi năm 2010

2 Khoản 2 Điều 8 Luật Nuôi con nuôi năm 2010;

Trang 12

quan hệ họ hàng với mình1 Ngoài ra, theo quy định của BLDS năm 2015 thì khi từ

đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi đã có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, nhưng với giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý Những giao dịch đó là giao dịch lớn

và trẻ vẫn chưa đủ chín chắn trong nhận thức để quyết định nên cần có người giám

hộ đồng ý và chỉ những người được xem là thân thích nhất với trẻ mới được nhận trẻ làm con nuôi trong trường hợp này để tránh việc lợi dụng trẻ cho những mục đích không tốt của người nhận nuôi trẻ

Thứ hai, ngoài đáp ứng yêu cầu về độ tuổi thì cần phải đáp ứng điều kiện một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng2 Đây là điểm mới, làm rõ được vấn đề một người đã có vợ hoặc chồng không được phép nhận con nuôi riêng mà phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng so với quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 trước đây Một gia đình có thể nhận nhiều người con nuôi nhưng một người con nuôi chỉ có thể có làm một con nuôi của gia đình mới Quy định như vậy là bởi lý do người con nuôi cần được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục theo quan điểm thống nhất, nhất quán từ một gia đình nhất định, phải có những người cụ thể chịu trách nhiệm về nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục người con nuôi Mục đích chính là để đảm bảo cho sự phát triển tốt nhất, toàn diện của trẻ cả về thể chất lẫn tinh thần Đồng thời quy định này cũng góp phần loại bỏ khả năng lợi dụng việc nhận nuôi con nuôi để tiến hành mua bán, chiếm đoạt trẻ em Ngoài ra, khoản 4 Điều 8 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định: “Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi” Quy định này thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với trẻ

em có hoàn cảnh đặc biệt, thể hiện tính nhân đạo của việc nuôi con nuôi, tạo điều kiện cho các em có gia đình mới, giúp các em ổn định tinh thần, tâm lý như khi được nuôi dưỡng trong môi trường gia đình

1.2 Điều kiện về ý chí của các bên chủ thể trong việc nuôi con nuôi

1.2.1 Ý chí của người nhận nuôi

1 Nguyễn Thúy Quỳnh (2018), “Điều kiện nuôi con nuôi theo pháp luật Việt Nam và thực tiễn thực hiện tại thành phố

Hà Nội”, Luận văn thạc sỹ luật học, trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr 14;

2 Khoản 3 Điều 8 Luật Nuôi con nuôi năm 2010

Trang 13

Người nhận nuôi con nuôi có thể vì nhiều lý do khác nhau nhưng phần lớn xuất phát từ tình yêu thương đặc biệt đối với những trẻ em có hoàn cảnh khó khăn Việc nhận nuôi hay không phải do người nhận con nuôi quyết định dựa trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc theo quy định tại khoản 3 Điều 21 Luật Nuôi con nuôi năm 2010: “Sự đồng ý phải hoàn toàn tự nguyện, trung thực, không bị ép buộc, không bị đe dọa hay mua chuộc, không vụ lợi, không kèm theo yêu cầu trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác” Sự tự nguyện đó phải xuất phát từ nhu cầu tình cảm, tinh thần của người nhận nuôi con nuôi và phù hợp với lợi ích của người được nhận làm con nuôi thì mới được coi là hợp pháp Nếu việc nhận nuôi con nuôi có động cơ, mục đích trái pháp luật, trái đạo đức xã hội thì sẽ không được nhà nước công nhận Ý chí của người nhận nuôi thể hiện qua đơn xin nhận nuôi con nuôi Trong đơn người nhận nuôi con nuôi bày tỏ mong muốn nhận một đứa trẻ làm con nuôi với những đặc điểm cụ thể về giới tính, tuổi, tình trạng gia đình, sức khỏe… Nguyện vọng đó của người nhận nuôi về nguyên tắc được cơ quan có thẩm quyền tôn trọng và đáp ứng nếu có đối tượng trẻ em thích hợp Người nhận nuôi con nuôi có thể trình bày nguyện vọng của mình xin đích danh một trẻ em nào đó từ cơ sở nuôi dưỡng hoặc từ gia đình Việc xin đích danh được thực hiện trong những điều kiện nhất định được Luật Nuôi con nuôi quy định cụ thể Ví dụ: Người nhận nuôi muốn nhận đích danh một trẻ phải là trẻ em bị bỏ rơi, mồ côi, không nơi nương tự hoặc có các hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi hoặc cha dượng, mẹ kế nhận con riêng của vợ/chồng làm con nuôi Chỉ khi người xin nuôi con nuôi không bày tỏ ý muốn của mình về đứa trẻ

cụ thể muốn nhận nuôi mà chỉ thể hiện nguyện vọng xin nuôi con nuôi thì khi đó cơ quan có thẩm quyền có thể giới thiệu bất cứ trẻ em nào cho họ Đối với người nhận nuôi con nuôi là người độc thân thì người nhận nuôi có quyền độc lập thể hiện ý chí

tự nguyện của mình về việc nuôi con nuôi trong đơn xin nhận nuôi con nuôi Trong trường hợp cả hai vợ chồng cùng nhận nuôi con nuôi thì sự thể hiện ý chí mong muốn nhận nuôi con nuôi phải là ý chí chung của cả hai vợ chồng Hai vợ chồng phải thoả thuận và thống nhất được về việc nhận nuôi con nuôi Trong đơn xin nhận nuôi con nuôi phải đứng tên cả hai vợ chồng với tư cách là cha nuôi và mẹ nuôi và con nuôi là con chung của cả hai vợ chồng

Ngày đăng: 30/10/2021, 12:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w