1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Sáng kiến: Biện pháp giúp học sinh lớp 3 học tốt giải toán có lời văn

13 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 443 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sáng kiến: Biện pháp giúp học sinh lớp 3 học tốt giải toán có lời văn; Sáng kiến: Biện pháp giúp học sinh lớp 3 học tốt giải toán có lời văn; Sáng kiến: Biện pháp giúp học sinh lớp 3 học tốt giải toán có lời văn; Sáng kiến: Biện pháp giúp học sinh lớp 3 học tốt giải toán có lời văn; Sáng kiến: Biện pháp giúp học sinh lớp 3 học tốt giải toán có lời văn; Sáng kiến: Biện pháp giúp học sinh lớp 3 học tốt giải toán có lời văn

Trang 1

BIỆN PHÁP

" Biện pháp giúp học sinh lớp Ba học tốt giải toán có lời văn"

I/ Mục đích, yêu cầu

Toán học có vị trí rất quan trọng phù hợp với cuộc sống thực tiễn đó cũng là công cụ cần thiết cho các môn học khác và để giúp học sinh nhận thức thế giới xung quanh, để hoạt động có hiệu quả trong thực tiễn Khả năng giáo dục nhiều mặt của môn toán rất to lớn, nó có khả năng phát triển tư duy lôgic, phát triển trí tuệ Nó có vai trò to lớn trong việc rèn luyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề có suy luận, có khoa học toàn diện, chính xác, có nhiều tác dụng phát triển trí thông minh, tư duy độc lập sáng tạo, linh hoạt , góp phần giáo dục ý trí nhẫn nại, ý trí vượt khó của học sinh Trong chương trình môn toán tiểu học, giải toán có lời văn giữ một vai trò quan trọng Thông qua việc giải toán rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy, tính cẩn thận, óc sáng tạo, cách lập luận bài toán trước khi giải, giúp học sinh vận dụng các kiến thức, rèn luyện kỹ năng tính toán, kĩ năng ngôn ngữ Đồng thời qua việc giải toán của học sinh mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện những ưu điểm, thiếu sót của các em về kiến thức, kĩ năng, tư duy để giúp học sinh phát huy những mặt đạt được và khắc phục những mặt thiếu sót

Chính vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy toán có lời văn ở cấp tiểu học nói chung và ở lớp 3 nói riêng là một việc rất cần thiết mà mỗi giáo viên tiểu học cần phải nâng cao chất lượng học toán cho học sinh Là một giáo viên nhiều năm trực tiếp giảng dạy ở khối lớp 3, qua kinh nghiệm của bản thân và học hỏi, trao đổi kinh nghiệm cùng đồng nghiệp, tôi đã rút ra được: “Biện pháp giúp học sinh lớp

ba học tốt giải toán có lời văn” để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường nói chung và đối với học sinh lớp 3 nói riêng

II/ Nội dung, biện pháp thực hiện.

Môn toán ở tiểu học, việc giải bài toán có lời văn có một vị trí quan trọng vì Các khái niệm, các quy tắc về toán nói chung đều được giảng giải thông qua

ví dụ bằng số và giải các bài toán; phần lớn nội dung sách giáo khoa là dành cho các bài toán; kết quả học tập môn Toán của học sinh thường được đánh giá qua kĩ năng giải các bài toán Giải toán giúp học sinh hình thành, củng cố, vận dụng kiến thức, kĩ năng về toán Đồng thời qua giải toán, giáo viên dễ dàng phát hiện những

ưu điểm hoặc thiếu soát trong kiến thức, kĩ năng của học sinh để giúp các em phát huy những ưu điểm, khắc phục thiếu sót

Thông qua việc giải toán, với những đề tài thích hợp có thể giáo dục lòng yêu nước, yêu đồng bào, giới thiệu cho các em thấy được nhiều mặt của thực tế đời sống phong phú, ý thức bảo vệ môi trường, phát triển dân số có kế hoạch Giải toán

có tác dụng giáo dục các em ý chí vượt khó, đức tính cẩn thận, chu đáo, làm việc

có kế hoạch, thói quen tự kiểm tra công việc của mình, có óc độc lập suy nghĩ, óc sáng tạo, phát triển tư duy,…

* Cơ sở thực tiễn.

Ta thấy rằng, giải toán ở tiểu học trước hết là giúp các em luyện tập, vận dụng kiến thức, các kĩ năng thực hành Qua đó, từng bước giúp học sinh phát triển

Trang 2

năng lực tư duy, rèn luyện phương pháp suy luận lôgíc Thông qua giải toán mà học sinh rèn luyện được phong cách của người lao động mới: Làm việc có ý thức,

có kế hoạch, sáng tạo và hăng say, miệt mài trong công việc

Thực tế qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy ở khối lớp 3, với lòng say mê tìm tòi học tập cộng với sự yêu thích môn Toán đã hướng tôi đến với đề tài này Hơn nữa trong quá trình dạy học tôi thấy phần giải toán có lời văn chiếm thời gian tương đối nhiều của môn toán, nhưng thực tế việc dạy và học giải toán có lời văn vẫn chưa đạt được kết quả cao Một số học sinh còn chậm, nhút nhát, kĩ năng tóm tắt bài toán còn hạn chế, chưa có thói quen đọc và tìm hiểu kĩ bài toán, dẫn tới thường nhầm lẫn giữa các dạng toán, lựa chọn phép tính còn sai, chưa bám sát vào yêu cầu bài toán để tìm lời giải thích hợp với các phép tính Kĩ năng tính nhẩm với các phép tính và kĩ năng thực hành diễn đạt bằng lời còn hạn chế Một số em tiếp thu bài một cách thụ động, ghi nhớ bài còn máy móc nên chóng quên các dạng bài toán, vì thế phải có phương pháp khắc sâu kiến thức

Đây cũng là lý do mà tôi chọn đề tài này, mong tìm ra những giải pháp nhằm phần nâng cao kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 nói riêng và trong đó

có môn Toán 3 nói chung Để từ đó, các em có thể thành thạo hơn với những bài toán có lời văn khó và phức tạp ở các lớp trên

* Đặc điểm tình hình lớp:

- Tổng số học sinh đầu năm: 31/16 nữ Qua khảo sát chất lượng đầu năm học

2020 - 2021 với chất lượng: Giỏi: 0 ; khá: 10 ; Trung bình: 16 ; Yếu: 5

- Bản thân giáo viên luôn nhiệt tình giảng dạy, yêu nghề mến trẻ

- Về học sinh: nhìn chung các em đều ngoan, có ý thức vươn lên trong học tập

+ Việc tìm hiểu đề bài, tóm tắt đề toán đang còn nhiều khó khăn đối với một

số học sinh trung bình và yếu của lớp 3 Vì kĩ năng đọc thành thạo của các em chưa cao, nên các em đọc được đề toán và hiểu đề còn thụ động, chậm chạp…

+ Chưa biết xác định rút về một đơn vị là đơn vị nào, hai câu trả lời như nhau, còn máy móc khi đề cho hơn là làm cộng, ít hơn là làm trừ, gấp là làm nhân, kém là làm chia, cách tính diện tích, chu vi của hình chữ nhật và hình vuông còn lẫn lộn

+ Một nguyên nhân khác cũng phải nói đến là do đặc điểm tâm lý lứa tuổi của các em Ở lứa tuổi này, học sinh còn ghi nhớ máy móc Phần lớn là nghe và làm theo mẫu của giáo viên Vì tư duy lô-gíc của các em còn nhiều hạn chế, vốn ngôn ngữ còn nghèo, do đó nhiều em không hiểu rõ nội dung, yêu cầu của bài toán hoặc có hiểu nhưng diễn đạt còn gặp khó khăn

Từ thực trạng trên, để việc dạy học đạt hiệu quả tốt hơn, giúp các em học sinh có hứng thú trong học tập, nâng cao chất lượng giải toán có lời văn, tôi cải tiến phương pháp dạy toán có lời văn qua các biện pháp được trình bày dưới đây:

Trang 3

* Biện pháp thực hiện.

1 Điều tra và phân loại học sinh.

Sau đợt khảo sát chất lượng đầu năm, đối với học sinh yếu kém trong môn Toán, tôi tiến hành phân loại từng em Đối với những em kém loại toán giải có lời văn Các em thường sợ loại toán này Các em không biết giải, thường trả lời sai, làm tính không đúng, tôi có kế hoạch kèm cặp, hướng dẫn phương pháp giải toán kịp thời cho từng em Tôi luôn quan tâm động viên các em chăm học, tích cực làm bài để các em tự tin vào khả năng của mình để suy nghĩ, tìm cách giải đúng

Trong các giờ lên lớp, tôi luôn động viên các em đọc đề kỹ, phân tích đề suy

nghĩ tìm ra mối quan hệ giữa dữ kiện đã cho và dữ kiện phải tìm bỏ qua những chi tiết thứ yếu, những chi tiết không cần thiết mà tập trung vào những chi tiết chủ yếu bản chất để tìm ra cách giải Tôi dành nhiều thời gian hơn trong việc kiểm tra bài làm của các em này trên lớp, chữa trực tiếp với học sinh để củng cố kiến thức Tuyên dương khen thưởng kịp thời ,các em có cố gắng để các em phấn khởi học tập, xoá dần đi ấn tượng sợ giải toán Vào buổi học thứ hai (buổi chiều), tôi yêu cầu các em làm lại bài toán vừa giải ở buổi thứ nhất (buổi sáng) để các em nắm vững cách giải, lần sau gặp lại loại bài như thế là có thể làm được ngay Tôi còn yêu cầu phụ huynh kết hợp chặt chẽ với giáo viên, có trách nhiệm hướng dẫn con

em học ở nhà, giúp các em ôn lại vững kiến thức, làm lại thuần thục các bài tập trên lớp Ngoài ra tôi còn tổ chức đôi bạn học tập, gồm 01 em giỏi toán kèm 01 em yếu môn toán đồng thời duy trì thường xuyên nề nếp truy bài đầu giờ Nếu bạn giải sai thì hướng dẫn giải lại cho bạn nắm được phương pháp giải toán

2 Họp phụ huynh – Thống nhất biện pháp giáo dục.

Trang 4

Chúng ta đều biết học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 3 nói riêng đến trường phụ thuộc hoàn toàn vào sự quan tâm, nhắc nhở của cha mẹ và thầy cô Các em chưa có ý thức tự giác học tập, chính vì vậy giáo dục ý thức tích cực học tập cho các em là một yếu tố không kém phần quan trọng giúp các em học tốt hơn Trong một lớp học, lực học của các em không đồng đều, ý thức học của nhiều

em chưa cao Để giúp cho phụ huynh hướng dẫn học sinh học môn Toán ở nhà đúng phương pháp, tôi đã mạnh dạn trao đổi với phụ huynh học sinh về những học sinh còn yếu môn Toán và những yêu cầu cần thiết giúp các em học tập như: Mua sắm đầy đủ sách vở, đồ dùng – cách hướng dẫn các em tự học ở nhà, dành thời gian nhắc nhở, quan tâm cho các em học tập….Rất mừng là đa số phụ huynh đều nhiệt liệt hoan nghênh biện pháp trên vì lâu nay các phụ huynh còn đang vướng mắc nhiều về cách dạy học cho các em – Sách giáo khoa mới còn nhiều kí hiệu, các lệnh, yêu cầu của sách, phụ huynh chưa rõ yêu cầu bài tập

Tuy nhiên, cuộc họp phụ huynh lần này vẫn còn một số gia đình vắng mặt

do việc mưu sinh, do chưa thấy hết được tầm quan trọng của việc học, và do điều kiện gia đình còn nhiều khó khăn nên phó mặc việc học của con cái cho giáo viên, cho nhà trường Đối với những phụ huynh vắng mặt này, tôi tìm cách gặp gỡ, trao đổi tại nhà

3 Chuẩn bị điều kiện cho việc giải toán.

Để giúp cho học sinh có kĩ năng thành thạo trong việc giải toán thì chúng ta không chỉ hướng dẫn học sinh trong giờ toán mà một yếu tố không kém phần quan trong đó là luyện kĩ năng nói trong giờ Tiếng việt

Chúng ta đã biết học sinh lớp 3, đặc biệt là một số em học lực trung bình, yếu còn thụ động, rụt rè trong giao tiếp Chính vì vậy , để các em mạnh dạn tự tin khi phát biểu, trả lời tôi luôn luôn gần gũi, khuyến khích các em giao tiếp, tổ chức các trò chơi học tập, được trao đổi, luyện nói nhiều trong các giờ Tiếng Việt giúp các

em có vốn từ phong phú; trong các tiết học các em có thể nhận xét và trả lời tự nhiên, nhanh nhẹn mà không rụt rè, tự ti Bên cạnh đó, tôi chú ý nhiều đến kĩ năng đọc cho học sinh: Đọc nhanh, đúng, tốc độ, ngắt nghỉ đúng chỗ giúp học sinh có kĩ năng nghe, hiểu được những yêu cầu mà các bài tập nêu ra

*Tóm lại: Để giúp học sinh giải toán có lời văn thành thạo, tôi luôn luôn

chú ý rèn luyện kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho các học sinh trong các giờ học Tiếng Việt, bởi vì học sinh đọc thông, viết thạo là yếu tố “đòn bẩy” giúp học sinh hiểu rõ đề và tìm cách giải toán một cách thành thạo

4 Ôn tập kĩ năng giải toán đơn các em đã học ở lớp lớp một, hai và kĩ năng giải toán đơn ở lớp 3

Việc giải các bài toán hợp được quy về việc giải nhiều bài toán đơn Vì thế, không nên coi nhẹ các bài toán đơn, cho rằng chúng quá dễ, chẳng có gì mà phải chú ý Thực ra không phải vậy, trong môn Toán tiểu học các bài toán đơn có ý nghĩa cực kì quan trọng Nhiều khái niệm toán học quan trọng được hình thành qua việc giải các bài toán đơn cụ thể Chỉ có trên cơ sở nắm chắc cách giải các bài toán đơn học sinh mới thực sự hiểu được ý nghĩa của các phép tính, đồng thời học sinh mới có thể giải được các bài toán hợp đa dạng sau này Giải toán không chỉ là nhớ mẫu rồi áp dụng, mà đòi hỏi phải nắm chắc khái niệm, nắm chắc ý nghĩa của phép

Trang 5

tính, đòi hỏi khả năng độc lập suy luận và kĩ năng tính toán thông thạo của học sinh

Để giúp học sinh giải các bài toán đơn và các bài toán hợp ở lớp 3 có hiệu quả, vào đầu năm học trong tuần ôn tập đầu năm, tôi chú ý ôn tập cho các em các bước giải toán đơn đã học ở lớp một, lớp hai để làm tiền đề cho việc giải các bài toán đơn và các bài toán hợp sau này Tôi hướng dẫn các em nắm vững 4 bước khi giải toán đơn như sau:

Bước 1: Dạy học sinh đọc và hiểu yêu cầu đề bài

Khả năng giải toán có lời văn liên quan đến khả năng đọc hiểu, vì vậy tôi cho học sinh đọc đề bài nhiều lần Đầu tiên tôi hướng dẫn học sinh đọc thật chậm, thật kĩ đề bài (từ đọc thành tiếng tới đọc thầm) gần như nhớ được các số liệu đề bài

đã cho, suy nghĩ về những điều đã cho của đề toán, chú ý tìm mối quan hệ giữa các

đã cho và cái phải tìm Chớ vội tính toán khi chưa đọc kĩ đề Ở bước này, tôi thường đưa ra hai câu hỏi để kiểm tra việc đọc hiểu của học sinh:

- Bài toán cho biết gì ?

- Bài toán hỏi gì ?

Nếu trong bài toán có từ nào mà học sinh chưa hiểu rõ thì tôi hướng dẫn cho học sinh hiểu được ý nghĩa của từ đó ở trong bài toán đang làm

Ví dụ : Lan hái được 24 bông hoa, Liên hái được nhiều hơn Lan 16 bông

hoa Hỏi Liên hái được bao nhiêu bông hoa?

Để giải được bài toán này, học sinh cần phải đọc nhiều lần (từ đọc thành tiếng tới đọc thầm) tìm được mối liên hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm Hướng dẫn học sinh suy nghĩ giải toán thông qua các câu hỏi gợi ý như:

+ Bài toán cho biết gì? (Lan hái 24 bông hoa)

+ Bài toán còn cho biết gì nữa? ( Liên hái nhiều hơn Lan 16 bông hoa)

+ Bài toán hỏi gì? (Liên hái được bao nhiêu bông hoa?)

Ở đây, tôi hướng dẫn học sinh chú ý đến điều kiện thứ hai : Liên hái nhiều hơn Lan 16 bông hoa Đây là điều kiện quan trọng để tìm ra phép tính của bài toán

Bước 2: Hướng dẫn học sinh phân tích đề toán loại bỏ những không cần

thiết và tóm tắt đề toán để chọn phép tính đúng Sau khi đã thực hiện tốt bước 1, tôi hướng dẫn học sinh cách loại bỏ những từ không cần thiết, chỉ để lại những điều kiện quan trọng bằng cách viết lại đề bài trên bảng phụ và gạch chân các điều kiện quan trọng Trong quá trình giảng, tôi nêu câu hỏi để học sinh biết đề bài yêu cầu làm gì, để học sinh xác định được đích đến Thiết lập mối quan hệ giữa cái đã cho

và cái phải tìm Để giúp học sinh hiểu rõ nội dung đề toán chắc chắn, cần cho học sinh hiểu rõ một số “từ chìa khoá” quan trọng nói lên những điều kiện toán học như: “ ít hơn”, “ nhiều hơn”, “tất cả”… cố gắng tóm tắt nội dung bài toán bằng cách dùng đồ dùng trực quan hoặc các mô hình, hình vẽ, sơ đồ, … để giải thích về các điều kiện của bài toán, về ý nghĩa của phép tính, về số phải tìm trong bài toán

dụ 1: Hà có 34 hòn bi, Hồng có nhiều hơn Hà 8 hòn bi Hỏi Hồng có mấy

hòn bi ? Tôi gach chân những điều kiện quan trọng (đã minh hoạ ở trên), hướng dẫn học sinh hiểu được ý nghĩa của phép tính bằng cách dựa vào điều kiện của bài toán

Tóm tắt bài toán:

Hà: 34 hòn bi

8 hòn bi

Hồng: ? hòn bi

Trang 6

Để giải thích cho học sinh rằng “Hồng nhiều hơn Hà 8 hòn bi” tức là: số hòn

bi của Hồng bằng số hòn bi của Hà, ngoài ra cò thêm 8 hòn bi nữa” Từ đó, muốn giải bài toán “Hà có 34 hòn bi, Hồng có nhiều hơn Hà 8 hòn bi Hỏi Hồng có mấy hòn bi?” cần phải thêm 8 vào 34; do đó phải dùng phép cộng: 34 + 8, để giải bài toán

Ví dụ 2: Hà có 24 hòn bi, Hà có ít hơn Hồng 7 hòn bi Hỏi Hồng có mấy

hòn bi? Tôi hướng dẫn học sinh hiểu được ý nghĩa của phép tính bằng cách dựa vào điều kiện của bài toán tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng: 24 hòn bi

Hà: 7 hòn bi

Hồng: ? hòn bi

Để giải thích cho học sinh rằng “Hà có 24 hòn bi ” tức là: Hồng có nhiều hơn Hà 7 hòn bi” Từ đó, muốn giải bài toán “Hà có 24 hòn bi, Hà có ít hơn Hồng

7 hòn bi Hỏi Hồng có mấy hòn bi?” ta phải “lấy 24 cộng thêm với 7” Mục đích tôi nêu hai thí dụ trên để cho thấy không nên chỉ dạy học sinh chú ý đến “từ chìa khoá” quan trọng là “ít hơn” thực hiện phép tính trừ, “nhiều hơn” thực hiện phép tính cộng, ‘tất cả” thực hiện phép tính cộng, …một cách máy móc, không chú ý hướng dẫn học sinh phân tích điều kiện của bài toán, mối quan hệ giữa điều kiện

và câu hỏi thì hoàn toàn sai lầm Làm như vậy vô tình dẫn đến việc học sinh học toán không đúng phương pháp, tìm không đúng phép tính, ảnh hưởng đến việc học toán có lời văn ở lớp ba và các lớp trên Tôi xin nêu một thí dụ khác:

Trong vườn có 12 cây chanh, mẹ trồng thêm 9 cây chanh nữa Hỏi trong vườn có tất cả bao nhiêu cây chanh ? Nếu chỉ hướng dẫn học sinh câu hỏi có từ chìa khoá “tất cả” thực hiện phép tính cộng thì tìm được phép tính đúng Nhưng đối với bài toán tôi nêu dưới đây :

Có một số`lít dầu đựng trong 9 can, mỗi can chứa 8l Hỏi có tất cả bao nhiêu lít dầu? Học sinh chỉ chú ý đến từ chìa khoá quan trọng “tất cả” thực hiện phép tính cộng thì hoàn toàn sai mà phải thực hiện phép tính nhân

Bước 3: Hướng dẫn học sinh đặt câu lời giải thích hợp

Các câu lời giải nhằm giải thích ý nghĩa cho kết quả phép tính tương ứng Tôi lưu ý học sinh là “nên dựa vào câu hỏi của bài toán mà đặt lời giải” Tuỳ từng đối tượng học sinh mà tôi lựa chọn các cách hướng dẫn sau:

Ví dụ: “Lớp 3A có 34 học sinh, lớp 3B nhiều hơn lớp 3A 2 học sinh Hỏi

lớp 3B có bao nhiêu học sinh ?”

Cách 1: (Được áp dụng nhiều nhất và dễ hiểu nhất): tôi hướng dẫn học sinh

sửa câu hỏi của bài toán một chút bằng cách bỏ bớt từ đầu “hỏi” và từ “mấy”, “bao nhiêu” thay bằng từ “số” rồi thêm từ “là” để có câu lời giải:

“Lớp 3B có số học sinh là:”

Cách 2: Tôi hướng dẫn học sinh thay từ “mấy”, “bao nhiêu” bằng từ “số” và

bỏ đi từ “hỏi” để được câu lời giải như sau :

“Số học sinh lớp Ba2 có là:”

Tóm lại: Tuỳ từng đối tượng, từng trình độ học sinh mà hướng dẫn các em

cách lựa chọn, đặt câu lời giải cho phù hợp Trong một bài toán, học sinh có thể có nhiều cách đặt khác nhau như 2 cách trên

Bước 4: Trình bày bài giải:

Thực hiện các phép tính theo trình tự đã thiết lập để viết bài giải Như chúng

Trang 7

ta đã biết, các dạng toán có lời văn học sinh đã phải tự viết câu lời giải, phép tính, đáp số Chính vì vậy, việc hướng dẫn học sinh trình bày bài giải sao cho khoa học, đẹp mắt cũng là yêu cầu lớn trong quá trình dạy học Tôi hướng dẫn các em lại cách trình bày một bài giải đã học ở lớp hai theo hướng dẫn, quy định

Thí dụ: Chị đọc 38 trang sách, chị đọc em đọc 21 trang sách Hỏi chị và em

đọc được bao nhiêu trang sách?

Tóm tắt : 38 trang

Chị: …trang ?

Em: 21 trang

Bài giải

Số trang sách em và chị đọc được là:

38 + 21 = 59 ( trang)

Đáp số: 59 trang sách

Các bài toán đơn ở lớp ba như :

- Tìm một trong các phần bằng nhau của một số

- Gấp một số lên nhiều lân

- Giảm đi một số lần

- So sánh số lớn gấp mấy lần số bé

- So sánh số bé bằng một phần mấy số lớn

Tôi hướng dẫn học sinh thực hiện như các bước giải toán có lời văn theo 4 bước mà tôi đã hướng dẫn, ôn tập cho các em vào đầu năm học

Ví dụ: Khi dạy bài : “Tìm một trong các phần bằng nhau của một số”

Xét bài toán: “Chị có 12 cái kẹo, chị cho em 13 số kẹo đó Hỏi chị cho em mấy cái kẹo?” tôi hướng dẫn học sinh giải toán theo 4 bước và thao tác trên đồ dùng

trực quan như sau:

Bước 1: Dạy học sinh đọc và hiểu yêu cầu đề bài

Để giải được bài toán này, học sinh cần phải đọc nhiều lần (từ đọc thành tiếng tới đọc thầm) tìm được mối liên hệ giữa cái đã cho và cái phải tìm Hướng dẫn học sinh suy nghĩ giải toán bằng cách chuyển đàm thoại : thầy hỏi, trò trả lời sang hình thức thông qua các câu hỏi gợi ý và yêu cầu cả lớp sử dụng viết chì gạch chân cái đã cho và cái phải tìm để đảm bảo rằng tất cả các em đều hoạt động, em nào không hực hiện tôi nhắc nhở:

+ Bài toán cho biết gì? ( học sinh gạch chân: Chị có 12 cái kẹo)

+ Bài toán còn cho biết gì nữa? (học sinh gạch chân: chị cho em 13 số kẹo đó)

+ Bài toán hỏi gì? (học sinh gạch chân: Chị cho em mấy cái kẹo? )

Ở đây, tôi hướng dẫn học sinh chú ý đến điều kiện thứ hai : chị cho em 13số

kẹo đó Đây là điều kiện quan trọng để tìm ra phép tính của bài toán

Bước 2: Hướng dẫn học sinh phân tích đề toán loại bỏ những không cần

thiết và tóm tắt đề toán để chọn phép tính đúng

Tôi hướng dẫn học sinh tóm tắt nội dung bài toán bằng cách yêu cầu cả lớp thao tác trên đồ dùng trực quan nhằm giúp các em hiểu ý nghĩa của bài toán, đồng thời khi được làm việc trên đồ dùng trực quan các em sẽ nhớ lâu hơn:

- Giáo viên: Làm thế nào để tìm13 của 12 cái kẹo? Tôi yêu cầu cả lớp thực hiện

Trang 8

- Học sinh: Lấy 12 cái kẹo chia thành 3 phần bằng nhau.

- Giáo viên: Mỗi phần đó là bao nhiêu số kẹo ? Hãy viết vào bảng con

- Học sinh: Viết 13 số kẹo

- Giáo viên : tóm tắt đề toán bằng sơ đồ minh họa như trong sách giáo khoa:

12 cái kẹo? cái kẹo để giải thích về các điều kiện của bài toán, về ý nghĩa của phép tính, về số phải tìm trong bài toán

- Giáo viên : 12 cái kẹo chia thành 3 phần bằng nhau Vậy muốn tìm 13 số kẹo thì làm như thế nào ? Hãy viết phép tính vào bảng con

- Học sinh : Lấy 12 : 3 = 4 (cái kẹo)

Bước 3: Hướng dẫn học sinh đặt câu lời giải thích hợp

Khi học sinh viết phép tính xong, tôi yêu cầu học sinh dựa vào câu hỏi của bài toán để viết câu lời giải của phép tính Nhờ ôn tập, củng cố cách đặt lời giải của phép tính, nên tất cả học sinh đều viết đúng câu lời giải:

“Chị cho em số cái kẹo là:”

Hoặc : “ Số cái kẹo chị cho em là:”

Bước 4: Trình bày bài giải:

Không cần hướng dẫn, học sinh lớp tôi trình bày tóm tắt, biết cách trình bày bài giải đúng, đẹp:

Tóm tắt: 12 cái kẹo

? cái kẹo

Bài giải

Chị cho em số cái kẹo là:

12 : 3 = 4 (cái kẹo)

Đáp số : 4 cái kẹo

5 Phương pháp chung giải các bài toán hợp bằng hai phép tính ở lớp 3

Giải toán là hoạt động trí tuệ khó khăn, phức tạp, hình thành kĩ năng giải toán khó hơn nhiều so với kĩ xảo tính, vì các bài toán là sự kết hợp đa dạng nhiều khái niệm, nhiều quan hệ toán học, nhất là các bài toán hợp Giải toán không chỉ là nhớ mẫu rồi áp dụng, mà đòi hỏi nắm chắc khái niệm, quan hệ toán học, nắm chắc

ý nghĩa các phép tính, đòi hỏi kĩ năng độc lập suy luận và kĩ năng tính toán thông thạo của học sinh Nhờ ôn tập cách giải một bài toán đơn ở lớp một, lớp hai vào đầu năm học và học đúng phương pháp cách giải các bài toán đơn ở lớp ba nên học sinh tôi đã nắm vững các giải các bài toán đơn theo 4 bước tạo tiền đề cho việc giải các bài toán hợp ở lớp 3 Tuy nhiên, để việc giải các bài toán hợp ở lớp 3 có hiệu quả cao, tôi hướng dẫn học sinh giải theo 5 bước Phương pháp giải các bài toán hợp có điểm giống với giải các bài toán đơn ở lớp một và lớp hai và ở lớp ba đầu năm học, nhưng các bước có một số điểm khác Để giúp học sinh thực hiện hoạt động trên có kết quả, cần làm cho các em nắm được các bước khi giải toán, như sau :

Bước 1: Tìm hiểu kĩ đề bài

Trước hết cần đọc cẩn thận đề toán, suy nghĩ về những điều đã cho của đề

toán, đặc biệt chú ý đến câu hỏi của bài toán Chớ vội tính toán khi chưa đọc kĩ đề

Ở bước này tôi thường đưa hai câu hỏi : Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi cái gì ? Thực hiện quy trình như giải các bài toán đơn

Trang 9

Bước 2 : Tóm tắt đề toán

Thiết lập mối quan hệ giữa các số đã cho và cái phải tìm, cố gắng tóm tắt nội dung bài toán bằng cách dùng ngôn ngữ, kí hiệu ngắn gọn để ghi tóm tắt các điều kiện, hoặc minh họa các điều kiện này bằng sơ đồ, hình vẽ

Bước 3: Lập kế hoạch giải toán

Suy nghĩ xem để trả lời câu hỏi của bài toán, cần biết gì, phải thực hiện phép tính gì ? Suy nghĩ xem từ các số đã cho và điều kiện của bài toán, có thể biết gì, có thể tính gì, phép tính đó có thể giúp trả lời câu hỏi của bài toán không ? Ở bước này, đòi hỏi học sinh cần phải có kĩ năng phân tích, tổng hợp để thiết lập trình tự giải toán có kết quả chính xác Đây là bước khó khăn đối với các em Để giúp các

em thực hiện có hiệu quả bước này, tôi suy nghĩ và tìm ra cách hướng dẫn học sinh thực hiện tốt việc lập kế hoạch giải toán ở phần ví dụ dẫn chứng

Bước 4: Thực hiện kế hoạch giải

Thực hiện các phép tính theo trình tự đã thiết lập để viết bài giải mà các em

đã được hướng dẫn, ôn tập trong giải toán đơn ở đầu năm

Bước 5: Kiểm tra lời giải, đánh giá cách giải, tìm cách giải mới (nếu có)

Sau khi làm bài xong, cần kiểm tra mỗi bước giải cần xem đã tính đúng chưa, viết câu lời giải đã hợp lí chưa ? Giải xong bài toán phải thử xem đáp số tìm

ra có trả lời đúng câu hỏi của bài toán, có phù hợp với điều kiện của bài toán không

? Cách giải này hay chưa? Còn cách giải nào khác hay hơn không? (nếu có)

Sau đây là ví dụ minh họa hướng dẫn học sinh giải bài toán hợp theo 5 bước:

Ví dụ 1:

Xét bài toán trang 50, sách giáo khoa: “Anh có 15 tấm bưu ảnh, em có ít hơn

em 7 tấm bưu ảnh Hỏi cả hai anh em có bao nhiêu tấm bưu ảnh ? ”

Bước 1: Tìm hiểu kĩ đề bài

Cần cho học sinh đọc kĩ đề toán giúp học sinh hiểu chắc chắn một số từ khoá

quan trọng nói lên những tình huống toán học Nếu trong bài toán có từ nào mà học sinh chưa hiểu rõ thì tôi hướng dẫn cho học sinh hiểu được ý nghĩa và nội dung của

từ đó ở trong bài toán đang làm, sau đó giúp học sinh xác định cái đã cho, cái phải tìm bằng cách đăt câu hỏi đàm thoại: Bài toán cho gì? Bài toán hỏi gì?

Ở đây bài toán cho 2 điều:

1) Anh có 15 tấm bưu ảnh

2) Em có ít hơn em 7 tấm bưu ảnh

Bài toán hỏi : Hỏi cả hai anh em có bao nhiêu tấm bưu ảnh ?

Ở đây tôi hướng dẫn học sinh chú ý đến điều kiện thứ hai : Em có ít hơn em

7 tấm bưu ảnh để tìm số tấm bưu ảnh của em Ngoài ra, để kiểm soát được học sinh

có làm việc hay không sau khi 1,2 em đọc đề toán tôi chuyển cách đàm thoại thông thường thầy hỏi – trò trả lời sang hình thức lệnh làm việc để kiểm soát việc hiểu yêu cầu đề bài của tất cả các học sinh Nếu em nào không làm việc, tôi sẽ phát hiện ngay Tôi yêu cầu tất học sinh lấy bút chì gạch chân cái đã cho và cái phải tìm

Bước 2: Tóm tắt đề toán

Tôi luôn chú ý đến việc hướng dẫn học sinh tóm tắt đề toán Tóm tắt đề toán

có ý nghĩa rất quan trọng giúp học sinh nhìn vào tóm tắt có hiểu được nội dung bài toán, loại bỏ những từ ngữ không liên quan, dựa vào tóm tắt, hướng dẫn học sinh tìm ra cách giải:

Trang 10

15 tấm bưu ảnh

Anh:

Em: 7 tấm bưu ảnh ? tấm bưu ảnh

Học sinh có thể vẽ hình như trên để mô tả nội dung bài toán

Ở đây, đoạn thẳng thứ nhất chỉ số tấm bưu ảnh anh có

Để mô tả điều kiện thứ hai ta vẽ đoạn thẳng thứ hai ngắn hơn đoạn thẳng thứ nhất để chỉ số tấm bưu ảnh của em Đoạn thẳng thứ nhất hơn đoạn thẳng thứ hai cho biết em ít hơn anh 7 tấm bưu ảnh

Để mô tả câu hỏi của bài toán, ta vẽ dấu móc ôm lấy cả hai đoạn thẳng

“anh” và “em” kèm theo “dấu ?” ngụ ý phải tìm xem cả hai anh em có tất cả bao nhiêu tấm bưu ảnh ?

Tuy nhiên, không phải bài toán nào cũng tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng Tùy vào nội dung bài toán mà các em có thể tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng, bằng hình

vẽ tượng trưng, bằng ngôn ngữ, kí hiệu ngắn gọn, với mục đích là làm sao học sinh

có thể nhìn tóm tắt mà nhắc lại đúng đề toán là được Tùy theo trình độ học sinh thấp hay cao mà dùng cách tóm tắt mang nhiều hay ít tính trực quan Tôi luôn quan tâm đến việc dựa vào tóm tắt đề toán để hướng dẫn học sinh suy nghĩ tìm cách giải

Ví dụ : Đối với bài toán “Anh có 15 tấm bưu ảnh, em có ít hơn em 7 tấm

bưu ảnh Hỏi cả hai anh em có bao nhiêu tấm bưu ảnh ? ”

Tôi có thể hướng dẫn học sinh tóm tắt bằng ngôn ngữ, kí hiệu ngắn gọn như sau:

Anh: 15 tấm bưu ảnh

Em: ít hơn anh 7 tấm bưu ảnh

Cả hai anh em : ? tấm bưu ảnh

? tấm bưu ảnh

Anh : 15 tấm bưu ảnh

Em : ít hơn anh 7 tấm bưu ảnh

Bước 3: Lập kế hoạch giải toán

Suy nghĩ xem để trả lời câu hỏi của bài toán, cần biết gì, phải thực hiện phép tính gì ? Suy nghĩ xem từ các số đã cho và điều kiện của bài toán, có thể biết gì, có thể tính gì, phép tính đó có thể giúp trả lời câu hỏi của bài toán không ?

Trên cơ sở đó, tôi hướng dẫn HS suy nghĩ để thiết lập trình tự giải bài toán

theo các bước như sau:

1) Bài toán hỏi gì ? (Hỏi cả hai anh em có bao nhiêu tấm bưu ảnh ?)

2) Muốn tìm cả hai anh em có bao nhiêu tấm bưu ảnh ta làm như thế nào ?

(Lấy số tấm bưu ảnh của anh cộng với số tấm bưu ảnh của em)

3) Số tấm bưu ảnh của anh biết chưa ? (Biết rồi)

4) Số tấm bưu ảnh của em biết chưa ? (Chưa biết)

5) Muốn tìm số tấm bưu ảnh của em, ta làm thế nào ? (Lấy số tấm bưu ảnh

của anh trừ số tấm bưu ảnh của em ít hơn anh)

Tôi thường hướng dẫn học sinh diễn tả quá trình suy nghĩ trên bằng sơ đồ: Hai anh em Suy nghĩ

Anh + Em

Giải

Anh - 7

Ngày đăng: 30/10/2021, 12:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w