Lợi thế cạnh tranh bền vững được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau từ mô hình năm lực lượng cạnh tranh của Porter 1985, lý thuyết nguồn lực của Wernerfelt 1984 đến năng lực động của
Trang 1Tài sản thương hiệu điểm đến: Góc nhìn từ cơ sở lý luận
Some of the authors of this publication are also working on these related projects:
FACTORS AFFECTING THE INTENTION OF CHOOSING A TRAVEL DESTINATION View project
UDN project View project
Nguyen Phuc Nguyen
The University of Danang
39PUBLICATIONS 83CITATIONS
SEE PROFILE
Tran Vinh The University of Danang
22PUBLICATIONS 165CITATIONS
SEE PROFILE
Trang 2XÂY DỰNG LỢI THẾ CẠNH TRANH BỀN VỮNG: NGHIÊN CỨU
TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH
BUILDING SUSTAINABLE COMPETITIVE ADVANTAGE: AN EMPIRICAL STUDY IN
THE TOURISM SECTOR
Từ khóa: lợi thế cạnh tranh bền vững; chiến lược; đổi mới; chuỗi cung ứng; du lịch
Keywords: sustainable competitive advantage; strategy; innovation; supply chain; tourism
1 Giới Thiệu
Dưới áp lực của toàn cầu hoá và hội
nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp
đương đầu với áp lực cạnh tranh gay gắt Vì
thế các doanh nghiệp phải đổi mới và thực
hiện các chiến lược, phương thức nhằm nâng
cao khả năng cạnh tranh để đáp ứng tốt nhất
khách hàng (Drobis, 1991) Trong bối cảnh
đó, việc phát hiện, xây dựng lợi thế cạnh
tranh bền vững là nhân tố then chốt quyết
định sự thành bại của tổ chức Tuy nhiên, lợi
thế cạnh tranh của doanh hiện nay rất khó
bền vững do các đối thủ cạnh tranh có thể bắt
chước công nghệ, sản phẩm…trong điều kiện
môi trường công nghệ thay đổi nhanh chóng
Vì thế nâng cao năng lực cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp là một trong những giải pháp quan trọng góp phần tạo chỗ đứng vững chắc cho doanh nghiệp trên thị trường Mặt khác, theo báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu, năm 2015, Việt Nam có thứ hạng 56/140 nền kinh tế, đạt 4,3/7 điểm, tăng
12 bậc so với năm 2014 và là thứ hạng cao nhất của Việt Nam giai đoạn 2006-2015.Trong ASEAN, ngoại trừ Singapore, Nguyễn Phúc Nguyên, TS., Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng
Trang 3Malaysia, Thái Lan và Brunei có điểm số đạt
trên 4,5, thứ hạng năm 2015 của Việt Nam
chỉ cao hơn các nước còn lại trong ASEAN-4
(gồm: Lào, Myanmar, Campuchia, Việt
Nam) Vì vậy, để gia tăng năng lực cạnh
tranh quốc gia, các doanh nghiệp phải tạo lập
và phát triển năng lực cạnh tranh bền vững
Lợi thế cạnh tranh bền vững được
nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau từ
mô hình năm lực lượng cạnh tranh của Porter
(1985), lý thuyết nguồn lực của Wernerfelt
(1984) đến năng lực động của Teece & cộng
sự (1997)…Tuy nhiên, các nghiên cứu này
chưa đề cập rõ cách thức xây dựng năng lực
cạnh tranh bền vững dưới góc độ doanh
nghiệp Bài báo này chú trọng nghiên cứu các
yếu tố cấu thành lợi thế cạnh tranh bền vững
Nghiên cứu thực nghiệm tại các doanh nghiệp
du lịch ở miền Trung sẽ kiểm chứng các thành
phần cốt lõi của lợi thế cạnh tranh bền vững
của doanh nghiệp Bài báo cũng đề xuất
những gợi ý trong việc tạo lập, duy trì và phát
triển năng lực cạnh tranh bền vững nhằm ứng
phó tốt hơn với môi trường biến động
2 Nền tảng lý thuyết
2.1 Lợi thế cạnh tranh bền vững
Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh
là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và
dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả
thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc
tế Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần
được gắn kết với việc thực hiện mục tiêu và
theo đuổi các giá trị chủ yếu của doanh
nghiệp (Buckley, 1988) Năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở
rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh
nghiệp Hơn nữa, lợi thế cạnh tranh bền vững
là “lợi thế có khả năng bền vững” (Grant,
1991) bao gồm tập hợp của các yếu tố bên
trong cũng như bên ngoài của tổ chức theo
một quy trình động hơn là một định nghĩa cố
định bị khóa chặt với thời gian (Chaharbaghi
và Lynch, 1999) Lợi thế cạnh tranh bền vững mang lại sự bền vững lâu dài của chiến lược tạo ra và cung cấp giá trị mà không thể
bị sao chép và thực hiện bởi bất kì đối thủ cạnh tranh hiện tại nào
2.2 Nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh bền vững
Lợi thế cạnh tranh hình thành thông qua sự tương tác giữa doanh nghiệp và yếu tố môi trường bên ngoài (Lewis, 2000), chính vì thế lợi thế cạnh tranh bền vững dễ đạt được hơn trong các ngành công nghiệp vì các đối thủ có thể sẽ không có sự lựa chọn giống như
tổ chức đương nhiệm (Montgomery và Porter, 2009) Các học giả đã và đang tìm kiếm phương thức nhận diện, phân tích lợi thế cạnh tranh bền vững: tiếp cận cấu trúc dựa trên tổ chức công nghiệp (IO) (Porter,
1980, 1985); tiếp cận dựa trên nguồn lực (Barney, 1991 và 2001); tiếp cận dựa trên lý thuyết trò chơi (Caves, 1984; Ghemawat, 1991), và tiếp cận kinh tế của Schumpeter (Schumpeter, 1950; Foster và Kaplan, 2001); tiếp cận theo năng lực động (Teece và cộng
sự, 1997).Với cách tiếp cận cấu trúc, lợi thế cạnh tranh có được nhờ vào các quy định, rào càn việc việc việc gia nhập và rút lui khỏi ngành nhằm bảo vệ một tổ chức khỏi tác động cạnh tranh và mối đe dọa từ những đối thủ, doanh nghiệp thay thế Với cách tiếp cận nguồn lực Barney (1991) cho rằng để tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững, doanh nghiệp phải sở hữu và xây dựng các nguồn lực quý giá: giá trị, hiếm, khó thay thế và khó bị bắt chước hay còn gọi là VRIN Với cách tiếp cận năng lực động, Năng lực động nhấn mạnh vào việc theo đuổi liên tục sự cấu hình lại, đổi mới và tái tạo các nguồn lực, khả năng và năng lực cốt lõi để giải quyết các thay đổi môi trường của một công ty (Leonard, 1992) Collis (1994) đã chỉ rõ rằng năng lực động tỉ lệ thuận với sự thay đổi của các khả năng
Trang 43 Giả thuyết nghiên cứu
3.1 Quản trị chuỗi cung ứng hiệu quả
Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các
doanh nghiệp, bộ phận liên quan trực tiếp
hay gián tiếp tới việc đáp ứng nhu cầu của
khách hàng (Chopra và Meindl, 2012) Quản
trị chuỗi cung ứng (SCM) đang được xem là
chiến lược vận hành phổ biến nhất trong việc
nâng cao khả năng cạnh tranh của tổ chức
trong thế kỉ 21 (Gunasekaran và đồng
nghiệp, 2006) Khi doanh nghiệp quản trị
chuỗi cung ứng hiệu quả trên cơ sở cải tiến
quy trình, đáp ứng khách hàng tốt hơn sẽ góp
phần giảm thiểu chi phí, gia tăng khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp Với sự tập
trung lớn vào chuỗi sản xuất xoay quanh
khách hàng, SCM tạo ra giá trị cho những
sản phẩm dựa trên thời gian, cách thức,
quyền sở hữu và địa điểm (Ballou, 2004)
Hơn nữa, theo Montgomery và Porter (2009),
cách duy nhất để duy trì được lợi thế cạnh
tranh là cải thiện hiệu quả quản trị chuỗi
cung ứng Vì thế, tác giả cho rằng:
H1: Quản trị chuỗi cung ứng hiệu quả
có mối quan hệ tích cực đến khả năng cạnh
tranh bền vững của doanh nghiệp
3.2 Khả năng đổi mới
Porter (1985) cho rằng một tổ chức tạo
ra sự khác biệt với các đối thủ thông qua việc
sáng tạo sản phẩm hiếm có và có giá trị với
người mua và sự khác biệt này bắt nguồn từ
bất kỳ giai đoạn nào của chuỗi cung ứng
Nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh nằm ở khả
năng của một tổ chức để khác biệt hóa sản
phẩm hoặc dịch vụ toàn diện hoặc từng phần,
thông qua kĩ năng của nhân viên, của những
quá trình và công nghệ, và phương pháp sản
xuất tiêu chuẩn (Hayes và Wheelwright,
1984; Kotha và Orne, 1989) Sự đổi mới của
tổ chức ám chỉ rộng hơn đến sự đáp ứng và
khuếch tán của sự sản sinh nội lực hoặc thiết
bị đã mua, hệ thống, chính sách, chương trình, qui trình, sản phẩm hoặc dịch vụ những thứ tương đối mới với tổ chức (Damanpour, 1991) Trong việc đổi mới, sáng tạo là nguồn lực quan trọng trong việc tạo dựng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp Khả năng mang lại sự đổi mới được xem như là là một trong những yếu tố quyết định sự tồn tại và thành công của tổ chức (Nguyễn Trần Sỹ, 2013) Lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp phụ thuộc lớn vào khả năng phát triển kiến thức, sáng tạo quá trình và khai thác khối kiến thức này một cách hiệu quả (Fabrizio, 2009) Với khả năng này sẽ giúp doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh trong dài hạn hơn so với các đối thủ Vì thế, theo tác giả:
H2: Khả năng đổi mới có mối quan hệ
tích cực đến khả năng cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp
3.3 Khả năng nhạy bén với thị trường
Năng lực nhạy bén với thị trường về
cơ bản đó chính là khả năng tìm kiếm thông tin, xử lý để dự đoán sự thay đổi của thị trường từ đó đưa ra các định hướng cho doanh nghiệp (Day, 1994) Khả năng này giúp tổ chức phát hiện những cơ hội cũng như rào cản kinh doanh trên cơ sở am hiểu khách hàng cũng như đối thủ cạnh tranh (Keh và cộng sự, 2007) Nhạy bén với thị trường yêu cầu các nhà quản lý, những người làm công tác thị trường và cả bộ phận thiết kế…phải thường xuyên đổi mới, trải nghiệm
để ứng phó với thị trường Khả năng này sẽ khác biệt tùy vào doanh nghiệp và đặc biệt là định hướng kinh doanh từ chủ doanh nghiệp Yếu tố này thỏa mãn những yêu cầu của VRIN Vì thế, tác giả cho rằng:
H3: Khả năng nhạy bén với thị trường
tác động tích cực đến khả năng cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp
Trang 53.4 Dẫn đạo chi phí
Mỗi một doanh nghiệp khác nhau trên
cơ sở nền tảng và nét khác biệt của mình sẽ
cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho khách
hàng với chi phí khác nhau Porter (1985)
cho rằng dẫn đạo chi phí là phương thức cạnh
tranh bền vững đặc biệt trong lĩnh vực công
nghệ Khi doanh nghiệp cải thiện quy trình
cũng như hợp tác với các đối tác trong chuỗi
cung cấp sẽ giúp cho chuỗi cung ứng gia tăng
hiệu quả, từ đó nâng cao rào cản thâm nhập
ngành của mạng lưới Hơn nữa, để gia tăng
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị, doanh nghiệp không chỉ phải phát huy năng lực sáng tạo trong việc cung ứng sản phẩm và dịch vụ khác biệt mà phải còn kết nối với các doanh nghiệp khác trong chuỗi (Nguyễn Phúc Nguyên & Lê Thế Giới, 2013) Điều này sẽ tạo ra khả năng cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp Vì thế,
H4: Sự dẫn đạo chi phí tác động tích
cực đến khả năng cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp
Hình 1 Mô hình nghiên cứu đề xuất
4 Phương pháp nghiên cứu và phân tích
dữ liệu
4.1 Thang đo
Nghiên cứu sử dụng phương pháp
khảo sát để thu thập dữ liệu trên cơ sở các
câu hỏi được vận dụng từ các nghiên cứu
trước Bản câu hỏi sau khi xây dựng được sử
dụng để tiền kiểm định với 30 nhà quản lý
(đang theo học chương trình MBA tại các
trường đại học ở khu vực) Bản câu hỏi được
hiệu đính trên cơ sở phản hồi và góp ý Bản
câu hỏi cuối cùng sẽ được gửi cho các nhà quản lý ở khu vực du lịch trên cơ sở lựa chọn ngẫu nhiên từ “trang vàng Việt nam” với quy
mô mẫu là 600 doanh nghiệp (nhà hàng, khách sạn, resort, công ty lữ hành…) Trong
số 276 câu hỏi thu về có 14 bản câu hỏi chưa hoàn tất và tổng số 262 bảng hỏi sẽ được sử dụng để phân tích Nghiên cứu sử dụng thang
đo Likert năm mức độ với mức hoàn toàn không đồng ý đến hoàn toàn đồng ý Bộ thang đo của nghiên cứu bao gồm 23 quan sát được tổng hợp như ở bảng 1 sau đây:
Quản trị chuỗi cung ứng hiệu quả
Khả năng nhạy bén với thị trường
Khả năng đổi mới
Lợi thế cạnh tranh bền vững
Dẫn đạo chi phí
Trang 6Bảng 1 Thang đo của các khái niệm trong mô hình
Nguồn: Tổng hợp của tác giả 4.1.1 Mô hình hồi quy
i i i i
i
SCA
4.1.2 Kiểm định chất lượng thang đo
Để kiểm định thang đo, nghiên cứu sử
dụng Cronbach alpha và loại các biến có hệ
số tương quan biến-tổng nhỏ hơn 0.3 Kết
quả Cronbach alpha của 5 thành phân loại 2
nhân tố thuộc thành phần quản trị chuỗi cung
ứng hiệu quả và khả năng nhạy bén với thị
trường Vì thế 21 nhân tố còn lại được sử
dụng trong mô hình cho nghiên cứu tiếp theo
Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) 4
biến độc lập của mô hình cho thấy, kiểm định
KMO đạt 0.865 và giá trị kiểm định ở mức ý
nghĩa <0.05 Hơn nữa, tổng phương sai trích
có khả năng giải thích mô hình từ phân tích
EFA với phép xoay Promax là 69.25% tổng
biến thiên của mẫu khảo sát.Đối với nhân tố
năng lực cạnh tranh bền vững, chỉ số KMO là
hiệu chỉnh bằng 61,6% nghĩa là 61,6% sự
thay đổi của năng lực cạnh tranh động được
giải thích bởi 4 biến độc lập của mô hình Hệ
số Durbin Watson của mô hình là 1.92 chứng
tỏ mô hình không có hiện tượng tự tương
quan (Thọ, 2011) Hơn nữa, các hệ số VIF
của tất cả các biến độc lập trong mô hình có
giá trị từ 1,23 đến 3,16, gợi ý rằng mô hình
không có hiện tượng đa cộng tuyến (Cohen
và cộng sự, 2003)
Để kiểm tra các sự phù hợp của quan
hệ cấu trúc giữa các thành phần trong mô hình cũng như xác định độ giá trị hội tụ và phân biệt trong mô hình nghiên cứu, tác giả
sử dụng kỹ thuật phân tích CFA bằng phần mềm LISREL 8.80 Chỉ số khi bình phương
129
5.0 (Schumacker & Lomax, 2004) cho nên các cấu trúc đều đạt được giá trị hội tụ Kết quả cũng chỉ ra rằng bình phương hệ số tương quan của các cặp nhân tố nhỏ hơn trung bình phương sai trích của mỗi cặp nhân
tố tương ứng nên các đo lường trong mô hình đạt được độ giá trị phân biệt (Fornell & Lacker, 1981) Hơn nữa, để kiểm chứng mô hình tổng thể, tác giả sử dụng các chỉ số CFI, RMSEA
và NFI và NNFI Kết quả từ phân tích cho thấy CFI=0.96; RMSEA=0.05; NFI=0.94; NNFI=0.94 Theo Hair & cộng sự (2010), các chỉ số của mô hình đều đáp ứng yêu cầu chứng tỏ mô hình đáng tin cậy Vì vậy các biến, cấu trúc trong mô hình đáp ứng yêu cầu
về các tiêu chí thống kê nên được sử dụng để kiểm định các giá thuyết của mô hình nghiên cứu
Trang 7Bảng 2 Kết quả phân tích kiểm định giá trị hội tụ của mô hình
Nguồn: Khảo sát của tác giả
4.2 Kết quả phân tích
Để kiểm chứng mô hình đề xuất, tác
giả sử dụng mô hình hồi quy OLS bằng phần
mềm STATA 13 để phân tích tác động của
các biến số đến khả năng cạnh tranh bền
vững của doanh nghiệp Nghiên cứu sử dụng
loại hình sở hữu là biến kiểm soát Bảng 3
thể hiện kết quả của mô hình hồi quy Kết
quả mô hình phản ảnh độ tương tích của dữ
liệu và mô hình có ý nghĩa thống kê.Tất cả
các giá thuyết trong mô hình đều chấp nhận dựa trên kết quả phân tích Điều này chứng minh rằng: quản trị chuỗi cung ứng hiệu quả, khả năng đổi mới, khả năng nhạy bén với thị trường và dẫn đạo chi phí là những thành tố quan trọng tạo nên lợi thế cạnh tranh bền vững của một doanh nghiệp Kết quả này là tương thích với các nghiên cứu trước của Bharadwaj và cộng sự (1993); Gunasekaran
và cộng sự (2006); Menguc và Auh (2006)
Bảng 3 Kết quả phân tích hồi quy
Mô hình 1 Mô hình 2 Biến Năng lực cạnh tranh bền vững Năng lực cạnh tranh bền vững
Trang 8Với kết quả này, chúng ta có thể nhận
thấy rằng lợi thế cạnh tranh bền vững của
một doanh nghiệp chịu tác động của cả yếu
tố chiến lược và năng lực cốt lõi Khả năng
sáng tạo, đổi mới; khả năng nhạy bén thị
trường kết hợp với chiến lược dẫn đạo chi
phí và khả năng quản trị chuỗi cung ứng hiệu
quả sẽ tạo nên lợi thế cạnh tranh bền vững
của doanh nghiệp Vì thế, lợi thế cạnh tranh
bền vững là có thể xây dựng, duy trì và phát
triển thông qua đổi mới, định hướng lại chiến
lược Kết quả này cũng chỉ ra rằng doanh
nghiệp phải liên tục thay đổi và định hình lại
trong môi trường cạnh tranh gay gắt vì các
đối thủ cạnh tranh có thể bắt chước, cấu hình
lại chiến lược cũng như nguồn lực Hơn nữa,
khi xem xét kỹ hệ cố beta, chúng ta phát hiện
ra rằng, trong ngành du lịch thì việc quản trị
chuỗi cung ứng hiệu quả trên cơ sở tích hợp
cả bên trong và tích hợp dọc chuỗi cung ứng
sẽ gia tăng đáng kể hiệu quả kinh doanh,
hình thành rào cản thâm nhập ngành và đây
chính là chìa khóa tạo ra lợi thế cạnh tranh
bền vững (Porter, 1985) Với đặc thù của các
doanh nghiệp trong lĩnh vực du lịch nơi mà
các doanh nghiệp phải tương tác với nhau
trong chuỗi giá trị nhằm cung cấp giá trị cao
nhất cho khách hàng thì khả năng quản trị
chuỗi cung ứng và khả năng đổi mới là vô
cùng quan trọng Mặt khác, kết quả phân tích
cũng chỉ ra rằng, các doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nhà nước
có tiềm năng về lợi thế cạnh tranh bền vững
hơn các công ty tư nhân Điều này có thể bắt
nguồn từ năng lực quản lý và đặc biệt là khả
năng nhạy bén thị trường, dẫn đạo chi phí khi
vận hành trong môi trường toàn cầu của các
công ty nước ngoài Kết quả cũng phản ánh
rằng các công ty nhà nước trên phương diện
nào đó đã và đang được nhà nước bảo hộ sẽ
làm gia tăng lợi thế cạnh tranh bền vững theo góc độ chi phí (Nguyen, 2011)
5 Kết luận
Dưới góc độ lý thuyết, nghiên cứu đã làm rõ các yếu tố cấu thành lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp Nghiên cứu này giúp chúng ta hiểu rõ hơn bản chất cạnh tranh trên cơ sở phân tích nguồn lực cũng như chiến lược của các tổ chức Nghiên cứu
đã khái quát và cung cấp một thang đo định lượng để đo lường lợi thế cạnh tranh bền vững Đây có thể được xem là nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam trong việc đánh giá và
đo lường lợi thế cạnh tranh bền vững Dưới góc độ thực tiễn, bài nghiên cứu cung cấp phương thức và hướng dẫn cho các nhà quản lý nhằm hoàn thiện các tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả hoạt động đặc biệt trong việc tạo lập, định hình và duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp Thực tế rằng một tổ chức có thể dẫn đầu tại một thời điểm và sụp đổ vì một lý do nhỏ trong thời điểm tiếp theo Vì thế, nguồn lực đặc biệt kết hợp với chuỗi hành động và quyết định sẽ tạo nên lợi thế cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp Hơn nữa, lợi thế cạnh tranh bền vững
sẽ không thể đạt được nếu chỉ dựa vào nguồn lực Một tài nguyên chỉ trở thành một lợi thế cạnh tranh khi nó được áp dụng cho một ngành hoặc phục vụ cho một thị trường Do
đó, một tổ chức phấn đấu đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững chỉ bằng phương thức triển khai các nguồn lực của mình, mà không quan tâm và cân nhắc đến đối thủ cạnh tranh
là một điểm thiếu sót quan trọng Nếu một công ty liên tục tập trung vào các yếu tố bên ngoài sẽ giúp cho công ty hướng đến việc khám phá và khai thác các nguồn lực độc đáo,
từ đó sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững
Trang 9TÀI LIỆU THAM KHẢO
Prentice Hall
[2] Barney, J (1991) Firm resources and sustained competitive advantage, Journal of Management, 17(1), 99-120
[3] Barney, J (2001) Is the resource-based view a useful perspective for strategic
management research? Yes, Academy of Management Review, 74, 27-132
[4] Bharadwaj, S.G., Varadarajan, P.J & Fahy, J (1993) Sustainable Competitive Advantage
in Service Industries: A Conceptual Model and Research Propositions, Journal of Marketing, 57, 83-99
[5] Buckley, P.J., Pass, C.L & Prescott, K (1988) Measure of international competitiveness: A
critical survey, Journal of Marketing Management, 4 (2), 175-200
[6] Caves, R.E (1984) Economic analysis and the quest for competitive advantage, American Economic Review, 74, 27-132
[7] Chaharbaghi, K & Lynch, R (1999) Sustainable competitive advantage: towards a
dynamic resource-based strategy Management Decision, 37(1), 45–50
[8] Chopra Sunil and MeindlPeter (2012) Supply Chain Management, 5th Edition Pearson [9] Cohen, J., Cohen, P., West, S G., & Aiken, L S (2003), Applied Multiple Regression/Correlation Analysis for the Behavioral Sciences, (3rd ed.), Lawrence
[12] Damanpour, F (1991) Organizational innovation: A meta-analysis of effects of
determinants and moderators, The Academy of Management Journal, 34(3), 555-590
[13] Day, G S & Nedungadi, P (1994) Managerial Representations of Competitive
Advantage, Journal of Marketing, 58, 31-44
[14] Deshpandé, R., Farley, J.U & Webster Jr., F.E (19931) Corporate culture, customer
orientation, and innovativeness in Japanese firms: A quadrad analysis, Journal of Marketing, 57 (1), 23-37
[15] Drobis, D R (1991) Competitive thinking for competitive advantage, Public Relations Quarterly, 36 (3), 9-12
[16] Fabrizio, K.R (2009) Absorptive capacity and the research for innovation, Research Policy, 38
(2), 255-267
[17] Fornell, C., & Larcker, D F (1981) Evaluating structural equation models with
unobservable variables and measurement error, Journal of Marketing Research, 48, 39–50 [18] Foster, R & Kaplan, S (2001) Creative destruction: Why companies that are built to last underperform the market – and how to successfully transform them Doubleday, New
York, NY
Trang 10[19] Ghemawat, P (1991) Commitment: The dynamics of strategy Free Press, New York, NY
[20] Grant, R.M (1991) The resource-based theory of competitive advantage: implications for
strategy formulation, California Management Review, 33 (3), 114-35
[21] Gunasekaran, A., Laib, K H., Cheng, E T C, (2006) Responsive supply chain: A competitive strategy in a networked economy, The International Journal of Management Science, 36, 549-564
[22] Hair, J F., Anderson, R E., Babin, B J & Black, W C (2010) Multivariate data analysis 7th ed NJ: Prentice-Hall
[23] Hayes, R H & Wheelwright, S C (1984) Restoring our competitive edge: competing through manufacturing NY: Wiley & Sons
[24] Huỳnh Thanh Nhã & La Hồng Liên (2015), ‘Các nhân tố nội tại ảnh hưởng đến năng
lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh tế tư nhân tại Thành phố Cần Thơ’, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, 36, 72-80
[25] Keh, H.T., Nguyen Thi Tuyet Mai, & Hwei, P.Ng (2007) The effects of entrepreneurial
orientation and marketing information on the performance of SMEs, Journal of Business Venturing 22 (4), 592-611
[26] Kotha, S & Orne, D (1989) Generic manufacturing strategies: a conceptual synthesis,
Strategic Management Journal, 10(3), 211-231
[27] Leonard, B.D (1992) Core capabilities and core rigidities: a paradox in managing new product
development, Strategic Management Journal, 13 (S1), 111-125
[28] Li, Da-yuan, & Liu, Juan (2014) Dynamic capabilities, environmental dynamism, and
competitive advantage: Evidence from China, Journal of Business Research, 67 (1),
2793-2799
[29] Lewis, M A., (2000) Lean production and sustainable competitive advantage,
International Journal of Operations &Production Management, 20(8), 959-978
[30] Menguc, B & Auh, S (2006) Creating a firm-level dynamic capability through
capitalizing on market orientation and innovativeness Journal of the Academy of Marketing Science, 34(1), 63–73
[31] Montgomery, C.A., & Porter, M.E (2009) Strategy: Seeking and Securing Competitive Advantage The Harvard Business Review, Boston, M.A
[32] Nguyễn Đình Thọ (2011) Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh, Nhà xuất
bản Lao động, Hà Nội
[33] Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang (2009), Một số yếu tố tạo thành năng lực động
doanh nghiệp và giải pháp nuôi dưỡng, Kỷ yếu Hôi thảo Năng lực cạnh tranh động của doanh nghiệp, Viện nghiên cứu kinh tế phát triển, Hồ Chí Minh tháng 4-2009 Trang 1-21
[34] Nguyen Phuc Nguyen (2011) Applying theory of reasoned action to explain inter-firm
Management & Information Systems, 15 (3), 61-81.
[35] Nguyễn Phúc Nguyên & Lê Thế Giới (2013) Phát triển bền vững du lịch duyên hải miền
Trung theo cách tiếp cận chuỗi giá trị, Tạp chí Phát triển Kinh tế, 277, 2-11
Trang 11[36] Nguyễn Trần Sỹ (2013) Năng lực động- hướng tiếp cận mới để tạo ra lợi thế cạnh tranh cho
doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam, Tạp chí Phát triển và Hội nhập, 12 (22), 15-20
[37] Porter, M.E (1980) Competitive Strategy Free Press, New York, NY
[38] Porter, M E (1985) Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance New York: The Free Press
[39] Schumacker, R E., & Lomax, R G (2004) A beginner's guide to structural equation modeling, Second edition Mahwah, NJ: Lawrence Erlbaum Associates
[40] Schumpeter, J.A (1950) Capitalism, Socialism and Democracy Harper and Row, New
York, NY
[41] Teece, D.J., Pisano, G & Shuen, A (1997) Dynamic Capabilities and Strategic
Management Strategic Management Journal, 18(7), 509-533
[42] Wernerfelt, B (1984) The resource-based view of the firm, Strategic Management Journal, 5
(2), 171-180
[43] Zhou, K.Z & Li, C.B (2010) How strategic orientations influence the building of dynamic
capability in emerging economics, Journal of Business Research, 63 (3), 224-231