1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

NỢ XẤU TỪ CÁC KHU VỰC KINH TẾTHỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCHNGND.PGS.TS. Tô Ngọc HưngGiám đốc Học viện Ngân hàng

21 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 485,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chế; môi trường kinh doanh xấu đi làm suy giảm chất lượng tín dụng; các doanh nghiệp Việt Nam phụ thuộc nhiều vào các khoản tín dụng từ hệ thống ngân hàng… Nhìn rộng ra thì nợ xấu của hệ

Trang 1

NỢ XẤU TỪ CÁC KHU VỰC KINH TẾ

nợ xấu hiện nay vẫn đang được xã hội quan tâm Rõ ràng, muốn xử

lý được nợ xấu một cách triệt để thì cần phải hiểu được cơ cấu nợ xấu bởi vì bản chất nợ xấu khác nhau lại cần đến các biện pháp xử lý khác nhau Nghiên cứu này tập trung vào (1) tổng quan thực trạng nợ xấu hiện nay; (2) đánh giá nợ xấu từ các khu vực kinh tế và phân tích các nguyên nhân; (3) một số khuyến nghị chính sách đối với xử lý nợ xấu

từ các khu vực kinh tế

I TÌNH HÌNH NỢ XẤU CỦA HỆ THỐNG NHTM 2012 VÀ 2 THÁNG ĐẦU NĂM 2013

Nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng được tích tụ từ nhiều năm trước, gia tăng rất nhanh và bộc lộ rõ nét nhất trong năm 2012 cả về con

số tương đối và tuyệt đối Mặc dù theo báo cáo mới đây của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), con số này đã giảm từ mức 8,82% vào cuối tháng 9/2012 xuống còn 6% vào tháng 2/2013 Mức giảm này được NHNN đánh giá là do các NHTM đã tăng cường trích lập dự phòng rủi ro theo quy định, thu hồi và xử lý nợ xấu Tuy vậy, con số này vẫn được xem

là cao bởi vì theo ước tính thì nó chiếm khoảng gần 6%GDP và vẫn có nguy cơ gia tăng Hơn nữa, trong vòng 5 tháng, tỷ lệ nợ xấu đã giảm rất nhanh như công bố cũng là vấn đề cần xem xét

Trang 2

Thứ nhất, theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN về phân loại nợ, trích

lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng, rất nhiều khoản trước đây không phải là nợ xấu sẽ được tính vào nợ xấu Ví dụ, “nợ được bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng (TCTD) hoặc công ty con của TCTD hoặc tiền vay được sử dụng để góp vốn vào một tổ chức tín dụng khác” được xếp vào nợ xấu nhóm 3” v.v Việc đưa ra tiêu chuẩn mới về phân loại nợ xấu để từng bước áp dụng thông lệ quốc tế sẽ làm cho tổng giá trị nợ xấu cao hơn so với cách phân loại trước đây

Thứ hai, theo đánh giá của NHNN, việc nợ xấu giảm chủ yếu do

NHTM tăng cường “trích lập” dự phòng là chưa hoàn toàn chính xác Trích lập dự phòng của ngân hàng chỉ là một nghiệp vụ của công tác

kế toán theo nguyên tắc thận trọng Chỉ khi ngân hàng dùng dự phòng rủi ro để xóa nợ thì nợ xấu mới thực sự được xóa khỏi bảng cân đối của ngân hàng, khi đó giá trị nợ xấu mới giảm

Thứ ba, giả sử các ngân hàng sử dụng dự phòng rủi ro để xóa nợ

xấu thì để nợ xấu giảm đi hơn 2% trong tình hình dư nợ tín dụng giảm so với cuối năm 2012 và với cách phân loại nợ mới theo thông tư 02/2013, cần đến con số trích lập dự phòng trên 80.000 tỷ đồng.201 Trong khi đó cũng theo NHNN, dự phòng rủi ro mà các ngân hàng đã trích đến tháng 2/2013 mới chỉ khoảng 78.000 tỷ đồng Như vậy, các ngân hàng phải dùng ít nhất toàn bộ số dự phòng đã trích này để xử lý nợ xấu

201 Theo NHNN, tính đến tháng 9/ 2012, tỷ lệ nợ xấu 8,82%, dư nợ tín dụng là 2.915.596 nghìn

tỷ đồng, do đó giá trị nợ xấu là 257.000 tỷ đồng Đến tháng 2/2013, tỷ lệ nợ xấu là 6%, giá trị

nợ xấu khoảng 174.000 tỷ đồng Như vậy sau 5 tháng, giá trị nợ xấu giảm khoảng 83.000 tỷ đồng (257.000 - 174.000 tỷ đồng).

Trang 3

Hình 1 Giá trị nợ xấu (1.000 tỷ đồng) và tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống

giai đoạn 2004-2/2013

Nguồn: NHNN, tính toán của tác giả.

Hình 2 Tỷ lệ Nợ xấu/GDP giai đoạn 2004 - 9/2012

Nguồn: NHNN, tính toán của tác giả.

Bên cạnh đó, việc đánh giá con số nợ xấu của hệ thống NHTM Việt Nam vẫn chưa có sự thống nhất Nợ xấu thực ra là vấn đề bình thường trong hoạt động ngân hàng Tuy nhiên, quy mô nợ xấu cần được xác

Trang 4

định chính xác để từ đó áp dụng biện pháp xử lý phù hợp Nợ xấu của

hệ thống ngân hàng Việt Nam có xu hướng tăng bắt đầu từ năm 2007 và đặc biệt được quan tâm chú ý từ cuối năm 2011 vì tốc độ tăng rất nhanh Theo số liệu chính thức của NHNN, tính tới thời điểm 30/9/2012 nợ xấu toàn ngành ở mức 8,82% tổng dư nợ tín dụng (2.915.596 nghìn tỷ đồng) tương đương 257.164 tỷ đồng, cao hơn nhiều con số báo cáo của các TCTD là 4,93% Gần đây nhất cơ quan này thông báo tỷ lệ nợ xấu giảm còn 6% tính đến cuối tháng 2/2013 Tuy vậy, theo các chuyên gia phân tích của Fitch Ratings, con số này vào 9/2012 khoảng 15% Trong khi

đó, theo một báo cáo trên tờ Wall Street Journal tháng 9/2012, Barclays, tập đoàn ngân hàng lớn của nước Anh, cho rằng tỷ lệ nợ xấu của Việt Nam đã lên tới 20% Ngay sau đó trái phiếu phát hành bằng nội tệ và ngoại tệ của Việt Nam đã bị Moody’s hạ bậc tín nhiệm từ B1 xuống mức B2 do liên quan đến các vấn đề về nợ xấu

Hình 3 Tỷ lệ nợ xấu theo đánh giá của các tổ chức

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Về nguyên nhân của nợ xấu đã được nhiều nghiên cứu chỉ ra Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh lại rằng nợ xấu không phải mới phát sinh mà thực chất đã được tích tụ từ nhiều năm trước đây và khi tình hình kinh doanh xấu đi thì tình trạng nợ xấu mới thể hiện rõ nét Có thể kể ra một

số nguyên nhân chính như: chu kỳ tín dụng tăng trưởng nóng trong thời gian dài với sự cho vay ồ ạt, dễ dãi và thiếu thận trọng của các NHTM; năng lực thanh tra, giám sát của NHNN trong một thời gian dài còn hạn

Trang 5

chế; môi trường kinh doanh xấu đi làm suy giảm chất lượng tín dụng; các doanh nghiệp Việt Nam phụ thuộc nhiều vào các khoản tín dụng từ

hệ thống ngân hàng… Nhìn rộng ra thì nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam tăng cao phản ánh mô hình tăng trưởng không hợp lý và kém hiệu quả Khi mà tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào vốn trong khi quản lý không theo kịp thì hiệu quả của đồng vốn vay sẽ suy giảm, nhất

là khi đồng vốn đó lại được vay một cách ồ ạt và dễ dãi

II THỰC TRẠNG NỢ XẤU TỪ CÁC KHU VỰC KINH TẾ

VÀ NGUyÊN NHÂN

Cơ cấu nợ xấu cũng là một vấn đề đáng quan tâm nhưng cũng không có một thống kê chính thức nào cho việc này

1 Cơ cấu nợ xấu theo khu vực sở hữu

Hiện dư nợ của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đang chiếm tới 60% tín dụng của các ngân hàng và TCTD trong khi đó nợ xấu của khu vực này rất lớn chiếm khoảng 70% nợ xấu của toàn hệ thống Các tập đoàn kinh tế, tổng công ty chiếm 53% số nợ xấu Có thể kể một số nguyên nhân chính khiến tỷ trọng nợ xấu của DNNN lớn hơn rất nhiều doanh nghiệp khu vực khác như:

Một là, khu vực này được hưởng những ưu đãi về tín dụng nên các

DNNN có xu hướng sử dụng đòn bẩy tài chính nhiều hơn các DN khu vực khác Tuy tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của DNNN có xu hướng giảm trong những năm gần đây nhưng vẫn ở mức 2,52 lần vào năm

2009, cao hơn nhiều so với mức 1,78 lần của khu vực tư nhân và 1,39 lần của khu vực vốn FDI Các DNNN trung ương thậm chí có tỷ lệ này cao hơn, lên tới 3,53 lần

Hai là, sở hữu chéo, đầu tư ngoài ngành của các ngân hàng và các

tập đoàn kinh tế diễn ra phổ biến đã dẫn tới các khoản cho vay thiếu kiểm soát, đầu tư lòng vòng đã gây hậu quả tổn thất nghiêm trọng Theo một ấn phẩm do Dự án của Ủy ban Kinh tế xuất bản, sở hữu ngân hàng

cổ phần bởi các tập đoàn, tổng công ty nhà nước được phân loại là một trong 6 nhóm sở hữu chéo liên quan tới hệ thống các TCTD hiện nay Đây là một trong số các nhóm sở hữu chéo đang tạo ra những hệ lụy

Trang 6

tác động trực tiếp đến tính ổn định và lành mạnh của cả hệ thống ngân hàng, cụ thể làm gia tăng việc cho vay thiếu kiểm soát Có thể lý giải đơn giản điều này như sau: Đối với các doanh nghiệp là cổ đông lớn của ngân hàng, sở hữu chéo cho phép một doanh nghiệp có tỷ lệ cổ phần lớn trong các NHTM có thể gây áp lực (một cách hợp pháp như qua bỏ phiếu trong hội đồng quản trị với vị thế cổ đông chiến lược) để ngân hàng này cấp vốn đầu tư vào những dự án không đủ tiêu chuẩn của doanh nghiệp Mặc dù theo quy định thì các ngân hàng không được cho các cổ đông của mình vay vốn, nhưng các ngân hàng có thể lách quy định này bằng cách cho các công ty con của các doanh nghiệp vay vốn Mặt khác, không loại trừ trường hợp lãnh đạo của ngân hàng chi phối lạm dụng quyền lực buộc ngân hàng mà mình có thể chi phối cấp tín dụng để phục vụ lợi ích cá nhân.

Ba là, áp lực cấp tín dụng cho DNNN từ các NHTM có vốn nhà

nước chi phối cao Cho đến nay, NHTM Nhà nước vẫn là người cho vay lớn nhất đối với DNNN vì các lý do khác nhau Một là, chúng có mối quan hệ truyền thống vì cùng thuộc quyền sở hữu nhà nước cho nên việc nhà nước hỗ trợ DNNN thông qua NHTM nhà nước là tất yếu Thứ hai, nhu cầu vay của DNNN thường rất lớn (ví dụ: các dự án trọng điểm quốc gia) trong khi chỉ NHTM nhà nước mới đủ nguồn lực để cho vay Điều này lâu dần đã dẫn đến “mối quan hệ thân thiết” giữa NHTM nhà nước

và DNNN hay nói cụ thể là “sự ưu ái” trong việc cấp tín dụng của NHTM nhà nước cho DNNN Do vậy, nhiều dự án kém hiệu quả cũng như một

số DNNN hoạt động yếu kém vẫn được vay vốn Bên cạnh đó thì việc sử dụng nguồn vốn không được kiểm soát một cách chặt chẽ nên gây tham

ô, lãng phí lớn nguồn vốn vay Trong bối cảnh chu kỳ kinh tế biến động bất thường, hậu quả tất yếu là nhiều doanh nghiệp, dự án không đủ khả năng để trả nợ góp phần gia tăng nợ xấu trong khu vực này

2 Cơ cấu nợ xấu theo ngành:

Theo một ấn phẩm do Dự án của Ủy ban Kinh tế xuất bản, tính đến 30/9/2012, nợ xấu ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng cao nhất với khoảng 22% với tỷ trọng dư nợ tín dụng là 29%, theo sau

là lĩnh vực bất động sản (BĐS) và hoạt động dịch vụ chiếm khoảng

Trang 7

19% nợ xấu, còn đối với lĩnh vực buôn bán, sửa chữa ô tô xe máy nợ xấu chiếm trên 18% Hiện nay vấn đề nợ xấu và giải quyết nợ xấu trong lĩnh vực bất động sản đang nhận được sự quan tâm đặc biệt, do dư nợ tín dụng liên quan đến bất động sản, kinh doanh bất động sản, vay đầu

tư sản xuất kinh doanh và thế chấp bằng bất động sản chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng dư nợ

Mặc dù dư nợ tín dụng lĩnh vực BĐS giảm mạnh từ 273.842 tỷ đồng tức 29,40% (năm 2010) xuống 193.345 tỷ đồng (năm 2011), chiếm 7,78% trong tổng dư nợ, và đến tháng 11/2012 tăng 3,6% so với cuối năm 2011 Tuy nhiên nợ xấu trong lĩnh vực này lại tăng mạnh từ 1,49% (năm 2010) lên 3,50% (năm 2011) và đến năm 2012 là 13,5% Tuy nhiên những con số này được cho là chưa thực sự phản ánh đúng thực tế bởi rất nhiều khả năng để tránh sự kiểm soát của cơ quan quản

lý cũng như có lợi hơn trong việc tính toán tỷ lệ an toàn vốn (CAR), tỷ

lệ nợ xấu và nhằm giảm dư nợ cho vay phi sản xuất (dưới 16%) theo quy định, một số TCTD đã cơ cấu lại các khoản nợ cho vay BĐS sang các hình thức khác như mua trái phiếu doanh nghiệp, ủy thác đầu tư, ký quỹ, đặt cọc, các khoản phải thu khác bên ngoài v.v Qua khảo sát của

Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, tỷ lệ dư nợ cho vay/đầu tư vào BĐS thực tế cao hơn số báo cáo và nợ xấu BĐS rất lớn Năm 2011, dư

nợ BĐS điều chỉnh cao gấp 1,8 lần số liệu báo cáo, và tỷ lệ nợ xấu BĐS điều chỉnh cao gấp 8,4 lần số liệu báo cáo

Hình 4 Cơ cấu nợ xấu theo ngành tại 30/9/2012

Nguồn: NHNN.

Trang 8

Hình 5 Cơ cấu dư nợ tín dụng phân theo ngành (tháng 11/2012)

Nguồn: NHNN.

Hình 6 Dư nợ và nợ xấu cho vay BĐS

Nguồn: NHNN, UBGSTCQG.

Nguyên nhân của nợ xấu trong lĩnh vực BĐS bao gồm cả yếu tố

vĩ mô và vi mô Nguyên nhân mang tính vĩ mô gồm:

Thứ nhất, nền kinh tế Việt Nam đã phát triển không bền vững và

trở nên dễ bị tổn thương trước những cú sốc cả trong và ngoài nước sau khi hội nhập nền kinh tế thế giới Với mức tăng trưởng kinh tế cao và mức thu nhập tăng nhanh, nhiều cá nhân đã ồ ạt vay các TCTD để đầu

tư vào thị trường BĐS Mục đích bao gồm cả phục vụ sinh hoạt và đặc biệt là mục đích đầu cơ chiếm tỷ trọng rất lớn Tuy nhiên, chất lượng tín dụng ngày càng suy giảm mạnh mà chủ yếu là do sự yếu kém nội tại của

Trang 9

nền kinh tế sau một thời gian phát triển quá nóng Còn khu vực công nghiệp, động lực chính cho sự tăng trưởng cao trong giai đoạn trước đó,

đã phát triển chậm lại và được thay thế bằng khu vực dịch vụ (hình 7) Tốc độ tăng trưởng giảm dần, lạm phát biến động khó lường và có khả năng tăng cao, thêm vào đó ngân sách bị thâm hụt liên tục trong nhiều năm Điều này đã dẫn đến mức độ nợ công tăng cao; nhu cầu trong nước và xuất khẩu giảm; hàng tồn kho tăng nhanh… Bên cạnh đó, lãi suất và chi phí đầu vào cao, sử dụng vốn kém hiệu quả, trình độ quản lý thấp dẫn đến nhiều doanh nghiệp phá sản, sản xuất thu hẹp và tỷ lệ thất nghiệp tăng cao Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2012 chỉ đạt 5,03%, mức thấp nhất kể từ năm 1999 Suy thoái kinh tế đã làm giảm thu nhập đáng kể của người dân, ảnh hưởng đến khả năng tiếp tục đầu

tư vào thị trường bất động sản Điều này, đến lượt nó, ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng trả nợ, từ đó nợ quá hạn và nợ xấu xảy ra là không thể tránh khỏi

Hình 7 Đóng góp của từng ngành vào tăng trưởng GDP của Việt Nam

Nguồn: Tổng cục Thống kê.

Thứ hai, chính sách tiền tệ nới lỏng trong một thời gian dài Từ

2006 đến 2010, tín dụng là nguồn chính để tài trợ cho đầu tư của nền kinh tế, nhưng một phần lớn tín dụng tập trung vào các lĩnh vực phi sản xuất bao gồm cả thị trường BĐS, làm suy giảm chất lượng tín dụng và dẫn đến lạm phát cao Lạm phát tăng mạnh đã làm xói mòn sức mua của người tiêu dùng, người dân thắt chặt chi tiêu dẫn đến cầu nội địa suy giảm mạnh Cùng với đó, tác động của cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu

Trang 10

cũng khiến cầu nước ngoài suy giảm Tổng cầu giảm khiến lượng hàng tồn kho của các doanh nghiệp ngày càng tăng cao, doanh nghiệp không tiêu thụ được hàng hóa, không quay vòng được vốn, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh, khiến nhiều doanh nghiệp lâm vào tình trạng ngừng hoạt động, thậm chí phá sản, giải thể Ngoài ra, lạm phát biến động bất thường và mạnh làm cho môi trường kinh doanh trở nên bất định hơn, gây ảnh hưởng xấu đến kết quả tài chính và khả năng trả nợ ngân hàng của doanh nghiệp.

Thêm vào đó, thị trường BĐS trầm lắng cũng là một nguyên nhân chính gây ra nợ xấu BĐS tăng cao Bản tin kinh tế vĩ mô do Dự án của

Ủy Ban Kinh tế xuất bản mới đây đã khẳng định “lĩnh vực BĐS là biểu hiện rõ nét nhất của nền kinh tế bong bóng được tạo ra do chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ được nới lỏng kéo dài, dẫn đến đầu cơ tài sản diễn ra trên diện rộng trong toàn bộ nền kinh tế ở cả khu vực doanh nghiệp cũng như người dân” Những năm trước đây khi dòng vốn ngoại

đổ vào lớn cũng như tín dụng khá dễ dãi, thị trường BĐS của Việt Nam

có bước phát triển khá nóng Tuy nhiên do tác động khủng hoảng tài chính cùng với chính sách hạn chế tín dụng cho các lĩnh vực phi sản xuất, các dòng vốn chảy vào lĩnh vực bất động sản (bao gồm cả tín dụng bất động sản và FDI) đều suy giảm mạnh khiến giao dịch trên thị trường này khá ít ỏi bất chấp giá mặt hàng này đã giảm tương đối mạnh, số lượng hàng tồn bất động sản ngày càng lớn Nhiều dự án bị tạm ngưng

do thiếu vốn, thị trường ảm đạm kéo dài khiến nhiều doanh nghiệp BĐS rơi vào tình trạng thua lỗ, không có tiền trả nợ ngân hàng, dẫn đến nguy

cơ nợ bất động sản trở thành nợ xấu

Thứ ba, lãi suất cao do mất cân đối giữa tiết kiệm và đầu tư (hình

8) Tỷ lệ tiết kiệm của nền kinh tế đã giảm từ năm 2008 bởi vì tốc độ tăng trưởng chi tiêu bình quân nhanh hơn so với tốc độ tăng trưởng thu nhập trung bình Sự mất cân đối giữa tiết kiệm và đầu tư liên tục tăng

đã gây áp lực lên lãi suất của nền kinh tế Thêm nữa việc lãi suất tăng cũng là do sự mất cân bằng trong cơ cấu vốn của nền kinh tế nói chung

và của hệ thống các tổ chức tín dụng nói riêng

Trang 11

Nguồn vốn huy động của hệ thống TCTD chủ yếu là tiền gửi dưới

12 tháng, hoặc thậm chí chủ yếu là từ 3 đến 6 tháng Khó khăn trong việc huy động vốn khiến các ngân hàng cạnh tranh về lãi suất để thu hút tiền gửi, do đó, đẩy lãi suất cao hơn so với mục tiêu của NHNN Lãi suất cho vay BĐS đã tăng rất cao thậm chí có thời kỳ lên tới 25% đến 30% do không bị quy định trần lãi suất như đối với các khoản vay cho các mục đích sản xuất, kinh doanh Điều này có tác động tiêu cực đến khả năng trả lãi của khách hàng

Hình 8 Tỷ lệ đầu tư và tiết kiệm (%GDP)

Nguồn: IMF, World Economic Outlook.

Ngoài ra, còn phải kể đến thực trạng nhiều doanh nghiệp vay ngắn hạn ngân hàng để tiến hành đầu tư vào các lĩnh vực có mức độ rủi ro cao như BĐS Nguồn cung tín dụng trung và dài hạn chiếm tỷ lệ thấp, trong khi lãi suất cho vay ngắn hạn luôn biến động mạnh và có xu hướng tăng cao, nên khi ngân hàng xiết cho vay thì sẽ tác động đến nhu cầu đầu tư vào BĐS của doanh nghiệp và công chúng, đến khả năng đáp ứng tiến

độ của chủ đầu tư và nhà thầu và kết quả tất yếu ảnh hướng tiêu cực đến khả năng trả nợ vay của doanh nghiệp Khi thị trường BĐS lâm vào tình trạng đóng băng, thanh khoản sụt giảm thì doanh nghiệp không thể bán được bất động sản để trả nợ ngân hàng trong khi những khó khăn trong hoạt động kinh doanh chính khiến cho luồng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh không đủ để chi trả nợ

Các nguyên nhân vi mô bắt nguồn từ chính thị trường BĐS và hệ thống ngân hàng, bao gồm:

Ngày đăng: 30/10/2021, 07:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2. Tỷ lệ Nợ xấu/GDP giai đoạn 2004- 9/2012 - NỢ XẤU TỪ CÁC KHU VỰC KINH TẾTHỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCHNGND.PGS.TS. Tô Ngọc HưngGiám đốc Học viện Ngân hàng
Hình 2. Tỷ lệ Nợ xấu/GDP giai đoạn 2004- 9/2012 (Trang 3)
Hình 1. Giá trị nợ xấu (1.000 tỷ đồng) và tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống giai đoạn 2004-2/2013 - NỢ XẤU TỪ CÁC KHU VỰC KINH TẾTHỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCHNGND.PGS.TS. Tô Ngọc HưngGiám đốc Học viện Ngân hàng
Hình 1. Giá trị nợ xấu (1.000 tỷ đồng) và tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống giai đoạn 2004-2/2013 (Trang 3)
Hình 3. Tỷ lệ nợ xấu theo đánh giá của các tổ chức - NỢ XẤU TỪ CÁC KHU VỰC KINH TẾTHỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCHNGND.PGS.TS. Tô Ngọc HưngGiám đốc Học viện Ngân hàng
Hình 3. Tỷ lệ nợ xấu theo đánh giá của các tổ chức (Trang 4)
Hình 4. Cơ cấu nợ xấu theo ngành tại 30/9/2012 - NỢ XẤU TỪ CÁC KHU VỰC KINH TẾTHỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCHNGND.PGS.TS. Tô Ngọc HưngGiám đốc Học viện Ngân hàng
Hình 4. Cơ cấu nợ xấu theo ngành tại 30/9/2012 (Trang 7)
Hình 5. Cơ cấu dư nợ tín dụng phân theo ngành (tháng 11/2012) - NỢ XẤU TỪ CÁC KHU VỰC KINH TẾTHỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCHNGND.PGS.TS. Tô Ngọc HưngGiám đốc Học viện Ngân hàng
Hình 5. Cơ cấu dư nợ tín dụng phân theo ngành (tháng 11/2012) (Trang 8)
Hình 6. Dư nợ và nợ xấu cho vay BĐS - NỢ XẤU TỪ CÁC KHU VỰC KINH TẾTHỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCHNGND.PGS.TS. Tô Ngọc HưngGiám đốc Học viện Ngân hàng
Hình 6. Dư nợ và nợ xấu cho vay BĐS (Trang 8)
Hình 7. Đóng góp của từng ngành vào tăng trưởng GDP của Việt Nam. - NỢ XẤU TỪ CÁC KHU VỰC KINH TẾTHỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCHNGND.PGS.TS. Tô Ngọc HưngGiám đốc Học viện Ngân hàng
Hình 7. Đóng góp của từng ngành vào tăng trưởng GDP của Việt Nam (Trang 9)
Hình 8. Tỷ lệ đầu tư và tiết kiệm (%GDP) - NỢ XẤU TỪ CÁC KHU VỰC KINH TẾTHỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCHNGND.PGS.TS. Tô Ngọc HưngGiám đốc Học viện Ngân hàng
Hình 8. Tỷ lệ đầu tư và tiết kiệm (%GDP) (Trang 11)
Bảng 2. Giá trị TSBĐ - NỢ XẤU TỪ CÁC KHU VỰC KINH TẾTHỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCHNGND.PGS.TS. Tô Ngọc HưngGiám đốc Học viện Ngân hàng
Bảng 2. Giá trị TSBĐ (Trang 18)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w