Do vậy ngoài việc sử dụng các bàitập có sẵn trong sách giáo khoa, sách bài tập, trong quá trình dạy học, người giáo viênHóa học đôi khi cần xây dựng một hệ thống bài tập để phù hợp với t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI
KHOA SƯ PHẠM KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Nguyễn Việt Hùng
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP DẠY HỌC
CHƯƠNG II – CACBOHIDRAT
HÓA HỌC 12, BAN CƠ BẢN
Giáo viên hướng dẫn: Lê Thanh Hùng
Bài tập lớn
Năm 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI KHOA SƯ PHẠM KHOA HỌC TỰ NHIÊN
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP DẠY HỌC
CHƯƠNG II – CACBOHIDRAT HÓA HỌC 12, BAN CƠ BẢN
Giáo viên hướng dẫn: Lê Thanh Hùng Sinh viên thực hiện: Nguyễn Việt Hùng MSSV: 1171020021
Lớp: Đại học sư phạm Hóa K7
Bài tập lớn
Trang 3Năm 2021
Trang 4là nền tảng cho quá trình thực hiện đề tài này mà còn là hành trang quý báu để em bướcvào đời một cách vững chắc và tự tin.
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến ThS Lê Thanh Hùng đã hướng dẫn, giúp
đỡ tận tình và luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi để em thực hiện tốt đề tài này
Em cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, tất cả các bạn bè đã ủng hộ, giúp đỡ, quantâm động viên để em trong thời gian học tập để em có thể hoàn thành đề tài một cáchtốt nhất
Cuối cùng em kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệpcao quý
Xin chân thành cảm ơn
Trang 5MỤC LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong bộ môn hóa học, sử dụng bài tập trong dạy học là một trong những phươngpháp dạy học tích cực Phương pháp này mang lại hiệu quả trong việc phát huy tínhtích cực của học sinh, chủ động, sáng tạo của học sinh, bồi dưỡng phương pháp tự học,năng lực nhận thức, năng lực tư duy của học sinh Do vậy ngoài việc sử dụng các bàitập có sẵn trong sách giáo khoa, sách bài tập, trong quá trình dạy học, người giáo viênHóa học đôi khi cần xây dựng một hệ thống bài tập để phù hợp với từng đối tượng họcsinh: yếu, trung bình, khá, giỏi Từ đó kích thích niềm say mê học tập bộ môn Hóa họccủa các em Đồng thời, khuyến khích các em học tập phát huy năng lực tự học, tự tìmtòi, nghiên cứu; vận dụng linh hoạt kiến thức đã học vào các tình huống nhằm khắc sâukiến thức
Trong chương trình Hóa học 12, “Chương II – Cacbohidrat” chiếm thời lượng ít,
do đó việc nắm vững lí thuyết và áp dụng vào bài tập đối với học sinh là rất khó khăn.Không ít HS gặp lúng túng, sai sót trong việc làm bài tập Cacbohidrat là những hợpchất gần gũi với đời sống nhưng lại có cấu tạo phân tử phức tạp với nhiều nhóm chứcnên cũng có nhiều khó khăn cho học sinh trong việc ghi nhớ kiến thức lí thuyết và ápdụng vào bài tập
Nếu các giờ dạy vẫn được tiến hành đồng loạt, áp dụng chung các mức độ bài tậpcho mọi học sinh thì sẽ không phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo của học sinhkhá, giỏi, trong khi đó những học sinh yếu sẽ gặp khó khăn trong công tác học tập vàhình thành các kĩ năng cơ bản Nhằm khắc phục những thiếu sót của việc dạy học đồngloạt mang tính truyền thống, đồng thời mang lại hứng thú cho học sinh trong quá trìnhhọc tập, nâng cao chất lượng dạy và học ở chương II – Cacbohidrat, tôi quyết định
chọn đề tài “Xây dựng hệ thống bài tập dạy học chương II – Cacbohidrat, Hóa học
12, ban cơ bản”.
2 Đối tượng nghiên cứu – phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống bài tập dạy học chương II – Cacbohidrat.
- Phạm vi nghiên cứu: Hóa học hữu cơ trong chương trình phổ thông.
3 Mục tiêu nghiên cứu
Thiết kế được hệ thống bài tập dạy học chương II – Cacbohidrat theo các cấp độ tưduy
4 Mục đích nghiên cứu
Nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn Hóa học chương trình phổ thông
Trang 75 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp đọc và nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp tiếp cận và thu thập thông tin
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
Trang 8CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BÀI TẬP HÓA HỌC
1.1 Khái niệm bài tập Hóa học
- Bài tập dạy học là hệ thống những câu hỏi, bài toán thuộc lĩnh vực hóa học đượcđưa ra trong quá trình dạy học của GV giúp cho HS vận dụng, củng cố những kiến thức
lí thuyết đã được học
1.2 Phân loại bài tập hóa học
- Hiện nay có nhiều cách phân loại bài tập khác nhau, vì vậy cần có cách nhìn tổng quát về các dạng bài tập dựa vào việc nắm chắc các cơ sở phân loại
1 Dựa vào nội dung toán học của bài tập:
- Bài tập định tính (không có tính toán)
- Bài tập định lượng (có tính toán)
2 Dựa vào hoạt động tư duy của học sinh khi giải bài tập:
- Bài tập lí thuyết (không có tiến hành thí nghiệm)
- Bài tập thực nghiệm (có tiến hành thí nghiệm)
3 Dựa vào nội dung hóa học của bài tập:
- Bài tập hóa đại cương
- Bài tập hóa vô cơ
- Bài tập hóa hữu cơ
4 Dựa vào nhiệm vụ đặt ra và yêu cầu của bài tập:
- Bài tập tìm nguyên tố chưa biết…
5 Dựa vào khối lượng kiến thức, mức độ đơn giản hay phức tạp của bài tập:
- Bài tập dạng cơ bản
Trang 9- Bài tập tổng hợp
6 Dựa vào cách thức tiến hành kiểm tra:
- Bài tập trắc nghiệm
- Bài tập tự luận
7 Dựa vào phương pháp giải bài tập:
- Bài tập tính theo công thức và phương trình
- Bài tập biện luận
- Bài tập dùng các giá trị trung bình…
8 Dựa vào mục đích sử dụng:
- Bài tập dùng kiểm tra đầu giờ
- Bài tập dùng củng cố kiến thức
- Bài tập dùng ôn luyện, tổng kết
- Bài tập dùng bồi dưỡng HS giỏi
- Bài tập dùng phụ đạo HS yếu
1.3 Những nguyên tắc khi xây dựng bài tập dạy học Hóa học
1.3.1 Hệ thống bài tập phải góp phần thực hiện mục tiêu môn học
Bài tập là một phương tiện để tổ chức các hoạt động của HS nhằm khắc sâu, vậndụng và phát triển hệ thống kiến thức lí thuyết đã học, hình thành và rèn luyện một số
kĩ năng cơ bản khi giải bài tập
Mục tiêu của môn Hóa học ở trường THPT là cung cấp cho HS hệ thống kiếnthức, kĩ năng phổ thông, cơ bản, thiết thực về hóa học và gắn với thực tiễn đời sống.Nội dung chủ yếu bao gồm các kiến thức về cấu tạo chất, sự biến đổi các chất, nhữngứng dụng và những tác hại của các chất trong đời sống, sản xuất và môi trường Nhữngnội dung này góp phần giúp HS có học vấn phổ thông tương đối toàn diện để có thểgiải quyết một số vấn đề hóa học liên quan đến đời sống sản xuất, mặt khác góp phầnphát triển tư duy sáng tạo cho HS
1.3.2 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính chính xác, khoa học
Khi xây dựng, nội dung của bài tập phải có sự chính xác về kiến thức hóa học,bài tập cho đủ dữ kiện, không được thiếu hay dư Các bài tập không được mắc sai lầmtrong diễn đạt, thiếu tính logic, chặt chẽ Vì vậy GV khi ra bài tập cần chú ý tính chínhxác và đảm bảo tính khoa học về ngôn ngữ hóa học
Trang 101.3.3 Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính hệ thống, tính đa dạng
Trong quá trình xây dựng hệ thống bài tập, có những loại bài tập được đầu tưnhiều hơn, vì chúng góp phần quan trọng vào việc hình thành và rèn luyện những kỹnăng liên quan đến các hoạt động giáo dục… Giữa các bài tập trong hệ thống luôn cómối quan hệ chặt chẽ với nhau, bài tập trước là cơ sở, nền tảng để thực hiện bài tập sau
và bài tập sau là sự cụ thể hóa, phát triển và củng cố thêm cho bài tập trước Toàn bộ
hệ thống đều nhằm giúp HS nắm vững kiến thức và phát triển các kĩ năng cơ bản
Hệ thống bài tập còn phải được xây dựng một cách đa dạng, phong phú Sự đadạng của hệ thống bài tập giúp cho việc hình thành các kĩ năng cụ thể một cách có hiệuquả
1.3.4 Hệ thống bài tập phải có tính phân hóa và phù hợp với trình độ của học sinh
Bài tập phải được xây dựng nâng dần mức độ từ dễ đến khó, từ đơn giản đếnphức tạp theo các mức độ tư duy tăng dần Nếu bài tập quá dễ sẽ khiến HS ít độngnão và sinh ra chủ quan trong học tập Ngươc lại bài tập quá khó HS không làm được
sẽ khiến các em mất tự tin và sinh ra chán nản Đầu tiên, hệ thống bài tập phải baogồm những bài tập vận dụng theo mẫu đơn giản giúp HS nắm vững và khắc sâu kiếnthức, sau đó tăng dần độ khó với những bài tập vận dụng phức tạp hơn, cuối cùng lànhững bài tập đòi hỏi tính sáng tạo Ngoài ra các bài tập phải có đủ loại điển hình và
có tính mục đích rõ ràng Hệ thốn bài tập phải vừa sức, phù hợp với trình độ HS, gópphần tạo cơ hội cho mọi đối tượng HS đều được tham gia vào quá trình giải bài tập
Từ đó kích thích khả năng tư duy, sáng tạo và khơi gợi niềm đam mê học tập bộ mônhóa học ở HS
1.3.5 Hệ thống bài tập được sắp xếp theo các mức độ tư duy từ thấp đến cao
Để đảm bảo việc dạy học phù hợp và sát với từng đối tượng HS thì hệ thống bài tập xây dựng phải được sắp xếp theo các mức độ tư day từ thấp đến cao: biết, hiểu và vận dung
Trong đó:
- Biết: là mức độ, yêu cầu thấp nhất, thể hiện ở chỗ HS có khả năng nhớ lại kiến thưc
đó một cách máy móc và nhắc lại được
- Hiểu: là mức độ cao hơn biết nhưng là mức độ thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật, hiện tượng, liên quan đến ý nghĩa của các mối quan hệ giữa các khái niệm, thông tin
mà HS đã học hoặc đã biết Điều đó có thể được thể hiện bằng khả năng hiểu thấu được ý nghĩa kiến thức, giải thích được nội dung kiến thức, diễn đạt khái niệm theo
sự hiểu biết mới của mình
- Vận dụng là mức độ cao hơn mức độ thông hiểu ở trên, gồm có:
Trang 11+ Vận dung ở mức độ thấp: Khả năng sử dụng thông tin và biến đổi kiến thức từdạng này sang dạng khác, vạn dụng kiến thức trong tình huống mới, trong đời sống, trong thực tiễn.
+ Vận dụng ở mức độ cao: Sử dụng các kiến thức đã có, vận dụng kiến thức vàotình huống mới với cách giải quyết mới, linh hoạt, độc đáo, hữu hiệu
1.4 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập dạy học
1.4.1 Xác định mục đích của hệ thống bài tập
Mục đích xây dựng hệ thống bài tâp dạy học Hóa học nhằm phân loại HS theomức độ tư duy, giúp cho GV trong quá trình dạy học có thể có những phương phápgiảng dạy phù hợp với từng đối tượng HS Qua đó góp phần nâng cao chất lượng dạy
và học bộ môn Hóa học ở trường Phổ thông
1.4.2 Xác định nội dung của hệ thống bài tập
Nội dung của hệ thốn bài tập phải bao quát được kiến thức của chương II
“Cacbohidrat” Để ra một hệ thống bài tập hóa học thỏa mãn mục tiêu của chương, GV phải trả lời các câu hỏi sau:
1 Bài tập giải quyết vấn đề gì?
2 Nó nằm ở phần nào trong bài học?
3 Cần ra loại bài tập gì?
4 Có liên hệ với những kiến thức cũ và mới không?
5 Có phù hợp với trình độ của HS không?
6 Có thỏa mãn phương pháp của GV không?
7 Có phù hợp với chuẩn kiến thức, kĩ năng và chương trình giáo dục hiện hành hay không?
1.4.3 Thu thập tài liệu để soạn bài tập
- Thu thập thông tin từ sách giáo khoa, sách bài tập và các tài liệu liên quan đến
hệ thống bài tập cần xây dựng (sách tham khảo, báo, tạp chí, chuyên đề, luận văn )
- Tìm hiểu, nghiên cứu thực tế những nội dung hóa học có liên quan đến dời sống
1.4.4 Biên soạn các bài tập mới
a) Xây dựng bài tập dựa vào bài tập hóa học đã có
Dựa trên những bài tập hóa học đã có sẵn mà xây dựng các bài tập mới là một trong những cách xây dựng đơn giản nhất và dễ thực hiện nhất Có một số cách sử dụng để biên soạn bài tập như sau:
• Phương pháp tương tự:
- Thay đổi số liệu đã cho trong bài tập hóa học
- Thay đổi các chất trong bài tập hóa học
Trang 12- Thay đổi các quan hệ trong bài tập hóa học
- Tăng hoặc giảm số chất trong bài tập
- Thay đổi một trong những dữ kiện đã cho bằng dữ kiện gián tiếp
- Thay đổi câu hỏi của một bài tập bằng câu hỏi khó hơn
• Xây dựng bài tập hóa học mới ngược với bài tập đã giải
• Xây dựng bài tập mới bằng cách chuyển câu hỏi trắc nghiệm sang tự luận
b Xây dựng bài tập hoàn toàn mới
- Xây dựng bài tập chứa nội dung đã định trước
- Xây dựng bài tập mới bằng cách kết hợp các bài tập nhỏ lại với nhau
1.4.5 Tiến hành soạn thảo hệ thống bài tập
Gồm các bước sau:
- Soạn từng loại bài tập:
+ Bổ sung thêm các dạng bài tập còn thiếu hoặc những nội dung chưa có bài tập trong sách giáo khoa, sách bài tập
+ Chỉnh sửa các bài tập trong sách giáo khoa, sách bài tập không phù hợp như quá dễ, chưa chính xác…
- Xây dựng các phương pháp giải quyết bài tập
- Sắp xếp các bài tập thành các loại như đã xác định theo trình tự
1.4.6 Chỉnh sửa và bổ sung
Xem xét lại những chỗ còn thiếu hoặc sai sót để kịp thời chỉnh sửa hoặc bổ sung
để đảm bảo tính chính xác, logic của hệ thống bài tập
1.5 Ý nghĩa của việc xây dựng hệ thống bài tập dạy học
- Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS
- Giúp HS hiểu rõ và khắc sâu những kiến thức đã được học trong bài
- Hệ thống hóa các kiến thức đã học; một số đáng kể bài tập đòi hỏi HS phải vậndụng tổng hợp kiến thức của nhiều nội dung trong bài, trong chương Dạng bài tổnghợp học sinh phải huy động vốn hiểu biết trong chương trình, nhiều bộ môn
- Cung cấp thêm kiến thức mới, mở rộng hiểu biết của học sinh về các vấn đề thựctiễn đời sống và sản xuất hóa học
- Rèn luyện một số kỹ năng, kỹ xảo:
+ Sử dụng ngôn ngữ hóa học
Trang 13+ Lập công thức, cân bằng phương trình phản ứng
+ Tính theo công thức và phương trình
+ Các tính toán đại số: Quy tắc tam suất, giải phương trình và hệ phương trình…+ Kỹ năng giải từng loại bài tập khác nhau
- Phát triển tư duy : HS được rèn luyện các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp,
so sánh, quy nạp, diễn dịch…
- Giúp GV đánh giá được kiến thức và kỹ năng của HS HS cũng tự kiển tra biếtđược những lỗ hổng kiến thức để kịp thời bổ sung
- Rèn cho HS tính kiên trì, chịu khó, cẩn thận, chính xác, khoa học… Làm cho các
em yêu thích bộ môn, say mê khoa học (những bài tập gây hứng thú nhận thức)
Trang 14CHƯƠNG 2 HỆ THỐNG BÀI TẬP DẠY HỌC CHƯƠNG II – CACBOHIDRAT 2.1 Tóm tắt kiến thức lí thuyết trong chương
- Cacbohidrat là các hợp chất hữu cơ tạp chức có công thức chung là Cn(H2O)m và đượcchia thành ba nhóm chủ yếu sau:
+ Monosaccarit: gồm Glucozơ và Fructozơ (C6H12O6)
+ Đissaccarit: gồm Saccarozơ và Mantozơ (C12H22O11)
+ Polisaccarit: gồm tinh bột và Xenlulozơ (C6H10O5)n
CHOHCHO
- Trên thực tế Glucozơ tồn tại ở dạng vòng α, β
III Tính chất hóa học:
1 Tính chất hóa học của nhóm ancol đa chức:
- Tác dụng với Cu(OH)2 ở nhiệt độ thường tạo thành phức màu xanh đậm
2 Tính chất hóa học của nhóm Andehit:
- Tác dụng với dung dịch AgNO3/NH3 → 2Ag (Phản ứng tráng gương)
- Tác dụng với Cu(OH)2 ở nhiệt độ cao → kết tủa Đồng (I) Oxit màu đỏ gạch
- Tác dụng với H2 (Ni, to) → Sorbitol
- Làm mất màu nước Brom
Trang 15III Tính chất hóa học:
- Ở nhiệt độ thường, tác dụng với Cu(OH)2 tạo phức màu xanh đậm
- Tác dụng với H2 (Ni, to) tạo thành Sorbitol
- Trong môi trường Kiềm: Fructozơ có thể chuyển hóa thành Glucozơ nên mangtính chất của Glucozơ
+ Tác dụng với AgNO3/NH3 → 2Ag
+ Tác dụng với Cu(OH)2 ở nhiệt độ cao → kết tủa Đồng (I) Oxit màu đỏ gạch
*Cách phân biệt Glucozơ với Fructozơ: Sử dụng dung dịch nước Brom,
Glucozơ làm mất màu nước Brom còn Fructozơ thì không.
II Cấu trúc phân tử:
- Được cấu tạo từ 1 phân tử Glucozơ và 1 phân tử Fructozơ.
- Phản ứng thủy phân tạo thành 1 phân tử Glucozơ và một phân tử Fructozơ
- Không có phản ứng tráng gương và không tác dụng với Cu(OH)2 ở nhiệt độ cao
Trang 16II Tính chất hóa học:
- Tác dụng với dung dịch Cu(OH)2 → dung dịch phức màu xanh đậm
- Phản ứng thủy phân → 2 phân tử Glucozơ
- Tác dụng với dung dịch AgNO3/NH3 → 2Ag
- Tác dụng với dung dịch Cu(OH)2 → kết tủa Đồng (I) Hidroxit màu đỏ gạch
- Làm mất màu nước Brom
2.1.3 Polisaccarit
A TINH BỘT
I Tính chất vật lí:
- Có nhiều trong gạo, ngô, khoai, sắn, chuối xanh, táo…
- Chất rắn màu trắng, không tan trong nước lạnh Trong nước nóng trương
phồng lên gọi là hồ tinh bột
II Cấu trúc phân tử:
- Do các gốc α-Glucozơ liên kết với nhau
- Là hỗn hợp của Amilozơ và Amilopectin
+ Amilozơ là Polime mạch không nhánh, chiếm từ 20 – 30% Phân tử khối 200000
+ Amilopectin là Polime mạch phân nhánh chiếm 70 – 80% Phân tử khối
khoảng 1000000 – 2000000
III Tính chất hóa học:
- Phản ứng thủy phân tạo thành n phân tử Glucozơ
- Phản ứng màu với dung dịch Iod → màu xanh
IV Ứng dụng:
- Dùng làm thức ăn cho người và động vật
V Phản ứng tạo thành tinh bột từ quá trình quang hợp:
- Là thành phần chính tạo nên màng tế bào thực vật
- Trong bông vải chiếm đến 95 – 98%, trong gỗ chiếm 40 -45%
Chất diệp lục