Mỗi tộc người vẫn giữ phong tục của riêng mình tạo nên một bức tranh văn hóa phong phú của vùng Gia Định xưa “Gia Định ở về phía nam nước Việt, khi mới khai thác, thì có lưu dân nước ta
Trang 11
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
NGƯỜI KHMER Ở XÃ AN BÌNH HUYỆN PHÚ GIÁO
Trang 22
1 Đặt vấn đề 3
2 Phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận 4
3 Nội dung 9
Kết luận 17
Tài liệu tham khảo 18
Trang 33
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cuối thế kỷ XVII, Bình Dương là một trong hai tổng thuộc dinh Phiên Trấn, huyện Tân Bình, ngoài lớp cư dân người Việt từ vùng Ngũ Quảng (nhiều nhất là Quảng Bình) vào khai phá vùng đất hoang vu này còn có các tộc người bản địa Mạ, Cơ ho, Stiêng
…cùng chung lưng đấu cật xây dựng vùng đất hoang vu này thành làng mạc và theo thời gian, thành phần tộc người đã có nhiều thay đổi Những tộc người bản địa dần dần chuyển lên sống ở vùng cao, do việc tách tỉnh Bình Dương và Bình Phước, nên địa bàn thuộc tỉnh Bình Dương ngày nay không còn những tộc người cư trú lâu đời, mà phần lớn những tộc người mới đến
Thế kỷ XIX, theo mô tả của Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí (hoàn
thành đời vua Gia Long) người Việt xen cư với các tộc người thiểu số (mà Trịnh Hoài Đức gọi khác với tên tộc người như ngày nay) Người Hoa, ông gọi là người Đường, các tộc người sống vùng cao ông gọi là Cao Miên và Đồ Bà Mỗi tộc người vẫn giữ phong tục của riêng mình tạo nên một bức tranh văn hóa phong phú của vùng Gia Định xưa “Gia Định ở về phía nam nước Việt, khi mới khai thác, thì có lưu dân nước ta cùng người
Đường (tục gọi người nhà Đại Thanh là Đường nhân, cũng như người dân tộc tứ di gọi người Trung Quốc là Hán nhân, người Hán đây không phải là Lưu Hán, người Đường đây không phải là Lý Đường Sách Quảng Đông tự nhận mình là người Đường của đời Đường Ngu chẳng qua chỉ là lời quá khoa trương) Người Tây Dương (các nước như Phú Lãng Sa, Hồng Mao, Mã Cao, đều gọi là Tây Dương) [3a] Cao Miên, Đồ Bà (người Sơn man, ở núi đảo theo đạo Bái Nhật (lạy mặt trời) ở trong 36 cửa bể Mãn Lạt Gia, đều gọi
là Đồ Bà), những người các nước ấy đến sinh sống chung nhau rất đông mà y phục đồ
dùng đều theo kiểu của dân tộc họ” (Trịnh Hoài Đức, 2008, tr.194)
Đến đầu thế kỷ XX theo công trình Monographie de la provine Thudaumot (1910)
thành phần cư dân Bình Dương có người Hoa, người Ấn, người Minh Hương, người Pnom (M’nông), người Lào, người Mọi (Stiêng), trong đó người Stiêng sống tách biệt trong rừng sâu Theo thống kê năm 1926, cư dân ở Thủ Dầu Một có các thành phần dân tộc “Người Việt gốc Nam Bộ là 105.968 người Người Việt gốc Bắc Bộ và Trung Bộ là 4.122 người Người Khmer là 2.469 người Người Stiêng là 11.945 người Người Chăm
Trang 4đê, người Tày, Nùng, Mường, Thái… sống rải rác tại các huyện Dầu Tiếng, Phú Giáo, Bến Cát tạo nên bức tranh đa dạng và phong phú về văn hóa và thành phần tộc người của tỉnh Bình Dương Việc nghiên cứu về các cộng đồng tộc người ấy góp phần làm rõ lịch sử
và đặc trưng văn hóa của tỉnh Bình Dương
Như vậy, từ đầu thế kỷ XX đến nay, người Khmer là một trong những cộng đồng tộc người thiểu số có số dân đông thứ hai (sau người Hoa) góp phần tạo nên bức tranh văn hóa Bình Dương đa tộc người nhưng hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về cộng đồng tộc người này (mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về người
Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long) Đó là lý do, chúng tôi nghiên cứu “Cộng đồng người Khmer ở Bình Dương”
Vấn đề đặt ra là cộng đồng người Khmer ở Bình Dương ngày nay đã định cư ở Bình Dương từ khi nào và văn hóa của họ có gì giống và khác so với văn hóa truyền thống của người Khmer ở bản quán (Trà Vinh, Sóc Trăng) là vấn đề cần được làm sáng tỏ
Do sống rải rác, xen cư cùng với người Việt và do tác động từ các chính sách của tỉnh làm biến đổi văn hóa truyền thống của tộc người này, họ phải đối diện với sự mâu thuẫn giữa việc bảo tồn văn hóa truyền thống và tiếp thu văn hóa hiện đại Liệu giữa các yếu tố văn hóa truyền thống của người Khmer có hòa chung một nhịp với quá trình hiện đại hóa xã hội theo chủ trương của tỉnh hay không là vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu
Việc tìm hiểu quá trình di cư, hình thành và phát triển cộng đồng người Khmer góp phần làm rõ lịch sử phát triển của tỉnh Bình Dương Và việc nhận diện văn hóa người Khmer, chỉ rõ những yếu tố tích cực, tiêu cực đối với sự phát triển chung của tỉnh đóng góp thêm cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đề xuất quan điểm, giải pháp nhằm phát huy các mặt tích cực, hạn chế các mặt tiêu cực của các yếu tố văn hóa này góp phần vào mục tiêu phát triển bền vững của tỉnh Bình Dương
Trang 55
Trong những năm qua đời sống xã hội của người Khmer đã có nhiều thay đổi, dẫn đến phương cách quản trị cộng đồng cũng thay đổi
2 PHƯƠNG PHÁP VÀ CÁCH TIẾP CẬN
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu điền dã dân tộc học bao gồm : phỏng vấn
sâu bán cấu trúc, thảo luận nhóm và quan sát tham dự
Thời gian từ tháng 6/2017 – 5/2018 với ba đợt khảo sát dựa vào lịch nghi lễ của
cộng đồng:
+ Tháng 3, Tết Chol Chnam Thmay
+ Cuối tháng 4 đầu tháng 5, bắt đầu mùa cạo mủ cao su nhiều gia đình tổ chức cúng rẫy
+ Tháng 8 cúng ông bà Sen Dolta
+ Tháng 12 sau mùa thu hoạch mủ sẽ có những nghi lễ cúng tạ ơn
Ngoài ra lẻ tẻ còn tham dự các nghi lễ cưới, lễ tang được tổ chức trong gia đình cũng là những dịp quan trọng cần tham dự để thu thập dữ liệu
Ngoài nguồn dữ liệu định tính, đề tài còn kế thừa kết quả khảo sát tổng thể (năm
2012 do bảo tàng tỉnh Bình Dương thực hiện) về các tộc người thiểu số ở tỉnh Bình Dương, trong đó có người Khmer để có số liệu tổng hợp về người Khmer Bình Dương mà trong phạm vi đề tài này không có điều kiện khảo sát toàn bộ (do giới kinh phí và thời gian)
Như vậy, đề tài này vừa là nghiên cứu trường hợp một cộng đồng người Khmer sống tập trung tại xã An Bình, vừa sử dụng kết quả khảo sát trên diện rộng tổng thể người Khmer ở Bình Dương để có được mô tả đầy đủ về người Khmer
Trong phạm vi đề tài này chúng tôi làm rõ khái niệm cộng đồng và vốn cộng đồng
a Cộng đồng
Thuật ngữ “cộng đồng” vốn bắt đầu từ gốc tiếng Latinh là “coummitas”, với nghĩa
là toàn bộ tín đồ của tôn giáo hay toàn bộ những người đi theo một thủ lĩnh nào đó, trong
tiếng Anh là community, tiếng Pháp là communité Theo Wikipedia, đến giữa thập niên 50
của thế kỷ XX đã có 54 định nghĩa khác nhau về cộng đồng Tuy tiếp cận và định nghĩa theo những cách khác nhau, nhưng nhìn chung giới nghiên cứu xã hội học phương Tây đều ghi nhận ảnh hưởng to lớn, có tính phương pháp luận của những luận điểm được nhà
Trang 66
xã hội học người Đức Ferdinand Toennies nêu ra trong công trình “Gemeinschaft und Gesellschaft” (Cộng đồng và hiệp hội – Leipzing, 1887) Theo Toennies “cộng đồng là một thực thể xã hội có độ gắn kết và bền vững hơn so với hiêp hội vì cộng đồng được đặc trưng bởi những đồng thuận với ý chí của các thành viên trong cộng đồng” (Ferdinand Toennies, 1887) Và cho đến nay, tuy cách tiếp cận và định nghĩa “cộng đồng” rất khác nhau, nhưng giới nghiên cứu xã hội học đều cho rằng cộng đồng trước hết là những nhóm
xã hội của con người có những tương tác với nhau và cùng chia sẻ những cái chung nào
đó, có thể là địa bàn cư trú, những giá trị chung, quy tắc ứng xử chung… tạo nên sự gắn kết xã hội
Dù tiếp cận từ những góc độ khác nhau, dựa trên những lý thuyết khoa học khác nhau nhưng tựu trung lại, cộng đồng có những đặc điểm sau:
- Cộng đồng phải là tập hợp của một số đông người
- Mỗi cộng đồng đều có những tiêu chí bên ngoài để nhận biết về cộng đồng và có những quy tắc chế định hoạt động và ứng xử chung của cộng đồng
Từ những nội hàm trên, Phạm Hồng Tùng đưa ra định nghĩa về cộng đồng “Cộng đồng là tập hợp người có sức bền cố kết nội tại cao, với những tiêu chí nhận biết và quy tắc hoạt động, ứng xử chung dựa trên sự đồng thuận về ý chí, tình cảm, niềm tin và ý thức cộng đồng, nhờ đó các thành viên của cộng đồng” (Phạm Hồng Tùng, 2009, tr.4).
Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê định nghĩa cộng đồng là “toàn thể những người sống thành một xã hội, nói chung có những điểm giống nhau gắn bó thành một khối Như cộng đồng ngôn ngữ, cộng đồng tộc người” (Hoàng Phê, 1996, tr.205) Hay “cộng đồng – một nhóm người sống trong một khu vực địa lý nhất định, một tập hợp từ tất cả các thành phần trong cộng đồng” (http://cec.vcn.bc.ca, Truy cập ngày 20-3-2016)
Trang 77
Và cũng theo Phạm Hồng Tùng cộng đồng tộc người là những tộc người có chung bản sắc văn hóa do có chung nguồn gốc sắc tộc, ngôn ngữ, y phục và tương đồng về phong tục, tập quán
b Vốn cộng đồng (community capital): Các nhà nghiên cứu sử dụng đến khái
niệm vốn cộng đồng khi tính đến vai trò của cộng đồng trong sự phát triển cộng đồng hay phát triển cộng đồng bền vững Sau đây chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu hai mô hình vốn cộng đồng được đề xuất bởi Maureen Hart và Mark Roseland, hai chuyên gia trong lĩnh vực đo lường sự bền vững
Maureen Hart1 định nghĩa vốn cộng đồng bao gồm các loại vốn như vốn tự nhiên, con người, xã hội và vốn nhà cửa công trình (built capital)2 mà từ đó một cộng đồng nhận được các lợi ích và trên đó cộng đồng dựa vào để tiếp tục tồn tại (Hart, Maureen, 1999) Thuật ngữ “vốn” thường được sử dụng để đề cập đến tiền bạc và hàng hóa vật chất Tuy nhiên, khi tính đến các cơ sở cho sự phát triển bền vững, các cộng đồng có một số các loại
vốn khác nhau cần được xem xét Đó là vốn tự nhiên, con người, xã hội và vốn nhà cửa công trình Tất cả các loại vốn này cần thiết cho cộng đồng thực hiện các chức năng của
nó Các loại vốn này cần được quản lý, quan tâm, nuôi dưỡng và cải thiện qua thời gian Theo Maureen Hart, vốn cộng đồng có thể xem xét như một hình tam giác được minh họa như sau:
1Maureen Hart là tác giả của quyển sách Guide to Sustainable Community Indicators, được các tổ chức và cộng
đồng trên thế giới sử dụng để đo tiến trình hướng đến chất lượng môi trường của cuộc sống, xã hội và kinh tế lâu dài
2 Các công trình nhà cửa do con người tạo ra ngược với vốn tự nhiên
Trang 8Vốn tự nhiên: là tất cả các nguồn lực của tự nhiên như đất đai, không khí, nước,
các loại năng lượng và những khoáng sản trong lòng đất… Con người có thể khai thác và
sử dụng những tài nguyên này để thỏa mãn những nhu cầu đa dạng của mình Vốn tự nhiên có hai loại: hữu hạn và vô hạn, nhưng nếu con người khai thác bừa bãi thì không chỉ vốn hữu hạn mà vốn vô hạn cũng không tái tạo được
3 Mark Roseland, là chủ tịch tổ chức Centre for Sustainable Community Development Các nghiên cứu và mối quan tâm của Roseland bao gồm phát triển cộng đồng bền vững, tổ chức khu vực và tổ chức cộng đồng, lập thuyết và tổ chức thực hành Các công trình xuất bản của Roseland được nhiều bài viết trích dẫn Năm 2012, Roseland được nhận giải thưởng SFU Sustainability Network Award cho các nghiên cứu xuất sắc về phát triển bền vững
Trang 99
Vốn vật chất: (physical capital, built capital hay public capital) là tất cả tài sản vật
chất được tạo ra bởi bàn tay và trí óc của con người qua thời gian, phục vụ cho mục đích phát triển của con người như hệ thống giao thông, hệ thống liên lạc, hệ thống thủy lợi, hệ thống điện, hệ thống nước, cầu cống, bệnh viện, trường học, nhà cửa…
Vốn kinh tế: là cách thức con người khai thác sử dụng tài nguyên hiện tại, cách ứng
xử của chúng ta đối với môi trường tự nhiên, cách thức tổ chức và quản lý hoạt động sản xuất, trao đổi hàng hóa và hệ thống tài chính của cộng đồng
Vốn con người: là “kiến thức, kỹ năng, năng lực và những thuộc tính khác nằm
trong mỗi cá nhân nhằm dễ dàng tạo ra sự thịnh vượng cho con người, xã hội và kinh tế” (OECD 2001) Vốn con người được tạo ra một cách có ý thức thông qua giáo dục và đào tạo và được tạo ra vô ý thức thông qua kinh nghiệm
Vốn xã hội: Vốn xã hội là “các mối quan hệ, mạng lưới và những quy tắc tạo thuận
lợi cho hành động tập thể” (OECD 2001) hoặc là tri thức, sự hiểu biết, và những khuôn mẫu tương tác chung mà một nhóm người đem vào trong bất cứ hoạt động sản xuất nào (Coleman 1988; Putman 1993) Vốn xã hội đề cập đến các tổ chức, cấu trúc và các quan
hệ xã hội mà con người tự tạo nên độc lập với nhà nước và tập đoàn lớn Nó góp phần tạo
ra cơ cấu xã hội mạnh hơn, mạng lưới thông tin, sự tin tưởng, sự đoàn kết giữa các cá nhân trong cộng đồng (Jacobs 1961; Coleman 1990; Woolcock 2001)
Vốn văn hóa: Vốn văn hóa là sản phẩm của kinh nghiệm chung thông qua truyền
thống, tập quán, giá trị, di sản, bản sắc và lịch sử Mặc dù vốn văn hóa thường được gộp chung vào vốn xã hội nhưng đối với sự phong phú và đa dạng của mỗi cộng đồng đặc biệt
là các cộng đồng có lịch sử lâu đời và những bản sắc văn hóa riêng, Roseland cho rằng nên tách vốn văn hóa thành một loại riêng
2 NỘI DUNG
Không gian và mô hình cư trú của người Khmer thay đổi theo thời gian với bốn mốc chính: trước thời Pháp thuộc, thời Pháp thuộc, thời chính quyền Việt Nam Cộng Hòa
và từ sau năm 1975 đến nay
Trước thời kỳ Pháp thuộc, người Khmer thường chọn những khu rừng chồi, rừng le,
dọc theo các con suối để làm nhà ở vì đây là những nơi đất đai màu mỡ, dễ khai phá (rừng
Trang 1010
chồi) có nước sinh hoạt và canh tác Kỹ thuật canh tác còn thô sơ, hoàn toàn phụ thuộc vào thời tiết và độ màu mỡ tự nhiên của đất nên mỗi năm chỉ trồng một vụ Năm đầu tiên
và năm thứ hai sau khi phát hoang đất còn màu mỡ, người dân thường tỉa lúa Từ năm thứ
ba trở đi đất bạc màu người ta trồng bắp hay trồng đậu Sau ba, bốn vụ, đất hết độ màu
mỡ người ta sẽ bỏ khu đất ấy tìm đến khu đất mới Cứ như thế, sau nhiều năm bỏ hoang, khu đất cũ được phục hồi độ màu mỡ (là khi cây phủ kín) người ta quay trở lại phát hoang rồi canh tác Thời kỳ này, đất rộng người thưa, người Khmer chia đất đai theo bốn chức năng : đất canh tác, đất ở, đất cấm (nơi đầu nguồn, rừng già), đất nghĩa trang dành cho "tổ tiên" Đất ở cũng nằm trong rừng Vì sống trong rừng còn đầy thú dữ, con người không thể làm nhà đất mà phải làm nhà trên cao
Ông Kim N mô tả cách làm nhà của người Khmer thuở còn sống trong rừng “ngày xưa sống trong rừng thú dữ nhiều lắm, con người phải làm nhà ở giữa những bụi tre to, gốc tre là cột nhà sàn, những cây tre ngoài bìa là hàng rào bảo vệ ngôi nhà” Công việc làm nhà được mô tả chi tiết như sau:
Khi đến nơi ở mới, người đứng đầu trong dòng họ sẽ chọn những bụi tre thật to, dùng dao chặt ngang những cây tre ở giữa bụi cho bằng, lấy phần thân trên, đập dập đan thành tấm liếp làm sàn nhà Sàn nhà có độ cao khoảng 2m là những gốc tre nên rất chắc chắn Phía trên lợp bằng lá trung quân có sẵn trong rừng (được kết lại thành từng mảng) Những cây tre bên ngoài được chừa lại làm hàng rào Như vậy, người Khmer có cách làm nhà rất khoa học, tận dụng được cây lá có sẵn trong rừng, tạo được nơi trú mưa, trú nắng, tránh được thú dữ, khí lạnh từ hơi đất bốc lên Ngôi nhà có cấu tạo như một “cái hang” trên cao, chắn chắc và an toàn
Môi trường sống của người Khmer xa xưa là hòa vào rừng, dựa vào rừng nên họ rất
có ý thức bảo vệ rừng, chỉ khai thác khu rừng chồi, tuyệt đối không khai thác rừng đầu nguồn để giữ nguồn nước và không bị nước lũ khi trời mưa to
Buổi đầu sống trong rừng, con người cần dựa vào nhau để tồn tại, đơn vị cư trú nhỏ nhất lúc bấy giờ là dòng họ, tức những người cùng huyết thống theo họ mẹ sẽ sống cùng nhau trên một mái nhà Cả làng chỉ có vài nóc nhà Họ cùng ăn, cùng làm chưa có tài sản riêng
Thời kỳ Pháp thuộc, từ năm 1936 khi chính quyền thuộc địa Pháp buộc phải vào
sống tập trung thành làng, nơi cư trú đã tách khỏi nơi rừng nhưng khoảng cách từ nhà ở
Trang 1111
đến nơi trồng trọt không xa lắm (khoảng 1 – 2 km) Thời kỳ này, người Khmer vẫn còn giữ tập quán sống trên những ngôi nhà sàn nhưng nhà sàn được làm bằng cây lá, không làm trên những bụi cây tre nữa
Khi ấy, già làng là người có vai trò quan trọng trong việc chọn nơi cư trú của dân làng Nơi được chọn có địa hình tương đối bằng phẳng, chỉ hơi cao để không ngập úng vào mùa mưa Theo trí nhớ của một người Khmer việc dựng lên một ngôi nhà sàn truyền thống phải thực hiện từng bước, không thể sai khác “Già làng cúng thần linh với bảy hạt gạo, ba lá trầu, ba cây nhang Sau khi đốt nhang thì để gạo, lá trầu trên lá chuối, úp chén lên Nếu sáng mai còn nguyên số lượng trong chén thì chọn nơi đó dựng nhà, nếu không phải thì tìm vị trí khác” Nguyên liệu làm nhà hoàn toàn từ tự nhiên, được lựa chọn chặt chẽ: "Cột nhà là những cây thân to, chắc, như: Đơm xư ca răm (cây da đá), đơm xơ lao (cây bằng lăng), đơm pơ chất (cây cà chất)… Gỗ dựng nhà phải được ngâm nước suối chống mọt 2-3 năm, khi dựng không đục, đóng đinh mà dùng pơ đau (mây) buộc lại Mái nhà lợp tơ reng (lá buông), pua (cỏ tranh) hoặc nứa già, chắc, khai thác từ ngày 16 âm lịch
để không bị mọt ăn" (Già làng Lâm Hớ)
Từng ngôi nhà sàn được dựng lên, cách nhau hàng trăm mét vẫn bảo đảm nguyên tắc cụm cư Điều này giúp mỗi gia đình nhìn thấy nhà của nhau trên đường đi khai hoang làm rẫy hằng ngày, nắm được tình hình cuộc sống của nhau và kịp thời tương trợ khi cần kíp Mỗi dòng họ vẫn sống cùng nhau trong ngôi nhà sàn cho đến trước khi chuyển cư xuống Phú Giáo
Chúng ta có thể hình dung ngôi nhà sàn truyền thống của người Khmer ở vùng cao (khác với nhà sàn của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long) qua những ngôi nhà còn sót lại ở Bình Phước hiện nay
Ngôi nhà sàn truyền thống người Khmer có ba gian, nhiều chức năng sử dụng: Trong cùng là góc chứa nông sản; hai bên là phòng của con cháu - hướng mặt trời lặn; gian giữa của ông bà - hướng mặt trời mọc, thể hiện sự tôn kính của các thành viên trong gia đình dành cho người lớn tuổi Dưới sàn là nơi chứa các vật dụng sinh hoạt và công cụ lao động, sản xuất… Điều đặc biệt, người Khmer không làm bếp trong nhà sàn như các dân tộc khác mà tách riêng bên ngoài để khói không làm đen nhà
Thời kỳ còn sống trong rừng và ở làng An Bình (trước năm 1959), người Khmer sống trong gia đình mở rộng gồm quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân Đàn ông cư