Mối quan hệ giữa truyền thuyết dân gian và lễ hội về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc Hà Xuân Hương Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Khoa Văn học Chuy
Trang 1Mối quan hệ giữa truyền thuyết dân gian và lễ hội về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày
ở vùng Đông Bắc
Hà Xuân Hương
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Khoa Văn học
Chuyên ngành: Văn học dân gian; Mã số: 60.22.36
Người hướng dẫn: GS TS Nguyễn Xuân Kính
Năm bảo vệ: 2012
Abstract Khái quát về dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc Nghiên cứu truyền thuyết dân
gian và lễ hội về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở Đông Bắc Phân tích vai trò qua lại và sự biến đổi của mối quan hệ giữa truyền thuyết dân gian và lễ hội về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc
Keywords Văn hóa dân gian; Truyền thuyết dân gian; Lễ hội; Dân tộc Tày; Anh hùng
và lễ hội của người Việt Vấn đề đó ít và hầu như chưa được quan tâm thỏa đáng ở phạm
vi văn học dân gian và lễ hội của các dân tộc thiểu số, trong đó có dân tộc Tày
Người Tày có số dân đông nhất trong số các dân tộc thiểu số ở nước ta, cư trú chủ yếu ở các tỉnh vùng Đông Bắc Dân tộc Tày được coi là chủ thể văn hóa ở vùng Đông Bắc
Trang 2Dân tộc Tày có đời sống văn hóa vô cùng đặc sắc, trong đó phải kể đến các truyền thuyết dân gian và lễ hội về người anh hùng lịch sử Vậy, có mối quan hệ nào giữa hai thành phần văn hóa này không? Đó là vấn đề mà chúng tôi quan tâm
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi tiến hành tìm hiểu mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội về các anh hùng lịch sử của người Tày ở vùng Đông Bắc
Năm 1971, trong cuốn Truyền thống anh hùng dân tộc trong loại hình tự
sự dân gian do Viện Văn học tổ chức biên soạn, GS Kiều Thu Hoạch công bố bài viết
“Truyền thuyết anh hùng trong thời kì phong kiến” Tác giả có nhận xét: “Một đặc điểm của truyền thuyết anh hùng chống xâm lược của ta là thường gắn liền với các cuộc hội mùa và nghi lễ tế thần ở các đình chùa, đền miếu [17; tr 63]
Năm 1973, nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Xương đăng bài “Tìm hiểu quan hệ giữa thần thoại, truyền thuyết và diễn xướng phong tục” trên Tạp chí Văn học Trong bài viết này, tác giả quan niệm diễn xướng là một bộ phận của hội làng Quan hệ giữa thần thoại, truyền thuyết và diễn xướng giống như quan hệ giữa tích và trò Tác giả đã phân loại các hình thức diễn xướng tín ngưỡng đa dạng thành ba nhóm chính: diễn xướng canh tác sản xuất và tín ngưỡng phồn thực, diễn xướng sinh hoạt văn hóa phong tục, diễn xướng lịch sử Cuối cùng, tác giả khẳng định: “Diễn xướng tín ngưỡng hội làng còn
là một phương tiện bảo lưu thần thoại, truyền thuyết có hiệu lực” [45; tr 107]
Năm 1996, trong công trình Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và hội
lễ về các anh hùng, TS Lê Văn Kì đã chỉ ra rằng trong quá trình lịch sử của dân tộc,
nhiều hội lễ cầu mùa của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước đã dần được bổ sung thêm lớp ý nghĩa ca ngợi các anh hùng chống ngoại xâm “Truyền thuyết và hội lễ cùng phản
Trang 3ánh nhiều nhân vật, nhiều sự kiện lịch sử” [11; tr 70] Trong việc phản ánh người anh hùng, mỗi thành phần văn hóa này lại có ưu thế riêng
Như thế, mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội nói chung đã có khá nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Đặc biệt, mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và hội lễ
về các anh hùng đã được TS Lê Văn Kì khảo cứu một cách công phu, hệ thống
2.2 Nhóm công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa truyền thuyết dân gian Tày và lễ hội về các anh hùng lịch sử ở vùng Đông Bắc
Mối quan hệ giữa truyền thuyết dân gian và lễ hội về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc đã được một số tác giả quan tâm nghiên cứu Cụ thể, có thể kể đến các công trình như:
- Nguyễn Thị Hồng Nhung, 2007, Khảo sát nhóm truyền thuyết Nùng Trí Cao và
lễ hội đền Kì Sầm ở Hòa An - Cao Bằng, Luận văn thạc sĩ, Thư viện trường Đại học Sư
Ở cả ba công trình này, các tác giả mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu mối quan
hệ giữa truyền thuyết và lễ hội về từng vị anh hùng lịch sử cụ thể của dân tộc Tày ở từng địa phương cụ thể mà chưa đưa ra được những nhận định có tính quy luật về mối quan
hệ giữa truyền thuyết và lễ hội của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc nói chung
Như vậy, qua tổng thuật ý kiến của các nhà khoa học như trên, chúng tôi nhận thấy mối quan hệ giữa truyền thuyết dân gian và lễ hội về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc đã được quan tâm giới thiệu và nghiên cứu Tuy nhiên, sự nghiên cứu đó mới chỉ dừng ở mức độ cụ thể, chưa được khảo cứu một cách hệ thống và khoa học
Trang 43 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi nhằm mục đích nghiên cứu mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội về các anh hùng lịch sử của người Tày ở vùng Đông Bắc trên các phương diện: vai trò qua lại và sự biến đổi của mối quan hệ giữa hai vi hệ văn hóa này theo thời gian
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu mà đề tài hướng tới là mối quan hệ giữa truyền thuyết và lễ hội về các anh hùng lịch sử của người Tày ở vùng Đông Bắc
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi dành sự quan tâm cho đối tượng nghiên cứu ở:
- Truyền thuyết dân gian của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc
- Lễ hội về các anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc
Tuy nhiên, để có một cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về vấn đề nghiên cứu, khi
có điều kiện, chúng tôi sẽ liên hệ đến một số truyền thuyết và lễ hội khác của dân tộc Tày và của các dân tộc khác
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp điều tra xã hội học
5.2 Phương pháp hệ thống
5.3 Phương pháp loại hình
5.4 Phương pháp lịch sử văn hóa
5.5 Phương pháp phân tâm học
6 Đóng góp của đề tài
- Về mặt tư liệu: Tập hợp nguồn tư liệu về truyền thuyết và lễ hội về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc
- Về mặt nội dung: Góp phần làm rõ mối quan hệ giữa truyền thuyết dân gian và
lễ hội về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc ở các phương diện vai trò qua lại và sự biến đổi của mối quan hệ giữa hai vi hệ văn hóa này
Trang 57 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo và phụ lục, bản luận văn gồm
ba chương như sau:
Chương 1: Khái quát về dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc
Chương 2: Truyền thuyết dân gian và lễ hội về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở Đông Bắc
Chương 3: Vai trò qua lại và sự biến đổi của mối quan hệ giữa truyền thuyết dân
gian và lễ hội về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc
NỘI DUNG Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC TÀY Ở VÙNG ĐÔNG BẮC
1.1 Nguồn gốc lịch sử và quá trình hình thành
Dân tộc Tày là một cộng đồng tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái Thời Chu Tần, các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái và nhiều dân tộc khác nữa ở miền nam Trung Quốc và miền bắc Việt Nam được gọi chung là Bách Việt Bách Việt gồm nhiều nhóm: Đông Việt, Mân Việt, Nam Việt, Lạc Việt, Điền Việt… Đến những thiên kỉ cuối cùng trước công nguyên, miền Nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam đã
là địa bàn cư trú của người Tây Âu, Lạc Việt Người Tây Âu – Lạc Việt chính là tổ tiên của người Thái ở Vân Nam, người Choang ở Quảng Tây, người Lê ở đảo Hải Nam, người Chủng Chá, Bố Y ở Quý Châu, người Tày, Nùng, Kinh ở Việt Nam Như thế, người Tày cổ vốn là cư dân bản địa lâu đời, xuất hiện ở vùng Đông Bắc Việt Nam từ rất sớm, thuộc ngành Tày – Thái phía đông
Người Tày ở vùng Đông Bắc Việt Nam hiện nay chủ yếu là sự kết hợp của ba nhóm Tày bản địa, Tày gốc Kinh và Tày gốc Nùng Xét từ nguồn gốc, dễ nhận thấy đặc điểm nổi bật trong văn hóa của người Tày ở vùng Đông Bắc là sự giao thoa của các yếu
tố văn hóa Kinh – Tày – Nùng Điểm khác biệt của người Tày Đông Bắc với người Tày
ở các khu vực khác là sự tiếp thu yếu tố Kinh trong văn hóa của họ
Về tên gọi, tộc danh Tày đã xuất hiện từ lâu đời.Tày được dùng làm tên gọi chính thức cho dân tộc Tày ở Việt Nam từ sau năm 1945 Ngoài ra, dân tộc Tày còn có tên gọi khác là Thổ
Trang 6Dân tộc Tày có số dân đông nhất trong số các dân tộc thiểu số ở nước ta Người Tày có địa bàn cư trú ở hầu khắp các địa phương trong cả nước nhưng chủ yếu ở vùng Đông Bắc Việt Nam, tập trung đông nhất ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang,
Hà Giang, Bắc Kạn, Thái Nguyên
1.2 Địa bàn cư trú và truyền thống đấu tranh
Người Tày cư trú chủ yếu ở vùng Đông Bắc Đây là vùng có vị trí chiến lược quan trọng trong việc củng cố an ninh quốc phòng của Việt Nam Vùng dân tộc Tày trước đây là địa bàn chính chống xâm lăng dưới nhiều triều đại phong kiến Nhiều lần các thế lực xâm lược phương Bắc đã thâm nhập vùng này trước tiên Là chủ nhân sớm nhất của vùng Đông Bắc, người Tày giữ vai trò quan trọng trong đấu tranh chống ngoại xâm Lịch sử ghi nhận nhiều trận đánh lớn giữa nước ta và quân xâm lược tại nơi đây như các trận Như Nguyệt, trận Bạch Đằng, trận Chi Lăng trong các cuộc kháng chiến chống quân Tống thời nhà Lí, chống quân Nguyên Mông thời nhà Trần, chống quân Minh thời nhà Lê… Trong các cuộc kháng chiến ấy, dân tộc Tày đã sản sinh nhiều người con anh hùng như Nùng Trí Cao, Dương Tự Minh, Thân Cảnh Phúc, Lưu Nhân Chú, Nông Đắc Thái… Đồng bào Tày dưới sự chỉ huy của các thủ lĩnh địa phương đã sát cánh bên các dân tộc anh em để chung tay xây dựng nước Việt Nam thống nhất
ở giữa đồng Tên làng của người Tày thường gắn với một câu chuyện cổ nhất định, tạo nên những huyền thoại hợp lí
Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn có bộ sườn làm theo kiểu vì kèo bốn, năm, sáu hoặc bảy hàng cột Ngoài ra, người Tày còn ở nhà đất Ở một số vùng giáp biên giới, người Tày ở nhà phòng thủ Ngày nay, ngôi nhà sàn được dựng theo
Trang 7hướng thông thoáng và tiết kiệm gỗ hơn Ở nhiều nơi, đồng bào chuyển sang làm nhà đất hoặc nhà xây giống như người miền xuôi
1.3.1.2 Ẩm thực
Người Tày sống chủ yếu dựa vào nền nông nghiệp trồng trọt lúa nước, rau xanh, cây ăn quả, cây thuốc, chăn nuôi gia súc, gia cầm và săn bắn những sản vật của núi rừng Nền kinh tế này là cơ sở cho văn hóa ẩm thực của người Tày Nguồn lương thực, thực phẩm chính của người Tày là những sản phẩm thu được từ hoạt động sản xuất ở vùng có rừng, sông, suối, đồi núi bao quanh Kĩ thuật chế biến thức thức ăn dựa trên kinh nghiệm là chính Ngoài ra, trong quá trình cộng cư, người Tày có tiếp thu kĩ thuật chế biến của các tộc người lân cận nhưng Kinh, Nùng, Dao
Trước kia, ở một số nơi, người Tày có thói quen ăn nếp là chính Trong các ngày
lễ tết, người Tày thường làm nhiều loại xôi, bánh trái làm từ gạo nếp
Hầu hết thịt gia súc thu được từ nghề chăn nuôi và săn bắn đều được đồng bào Tày đem nướng, sấy khô hoặc ướp muối, ngâm rượu Đến khi cần sử dung, đồng bào mới đem những thực phẩm đã sấy hoặc ngâm đó ra chế biến thành món ăn
Về đồ uống, người Tày uống nước đun sôi với lá hoặc vỏ cây rừng Nhưng khi đi rừng, lên nương, người dân thường uống nước khe, nước suối Người Tày hay uống rượu Rượu của người Tày được làm từ các sản phẩm của nghề nông và núi rừng như: rượu nếp, rượu ngô men lá, rượu vạng, rượu tông, rượu mật mía…
1.3.2 Văn hóa tinh thần
1.3.2.1 Tín ngưỡng dân gian
Người Tày quan niệm thế giới đa tầng và vạn vật hữu linh Tín ngưỡng dân gian của người Tày bao gồm các tín ngưỡng dân gian bản địa và các tín ngưỡng du nhập từ bên ngoài vào
Các tín ngưỡng dân gian bản địa của người Tày về cơ bản cũng giống tín ngưỡng của người Kinh, thể hiện tư duy của người dân làm nông nghiệp lúa nước
Các tín ngưỡng du nhập từ bên ngoài vào văn hóa Tày gồm có các yếu tố Đạo giáo và Phật giáo Các yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo này dau khi du nhập đã được bản địa hóa Điều đó đã taọ nên sự đa dạng và phức tạp trong đối tượng thờ cúng của người Tày
Trang 8Tín ngưỡng dân gian của người Tày thể hiện rất rõ sự giao lưu văn hóa Kinh – Tày – Nùng Những tín ngưỡng này có ảnh hưởng nhất định tới việc sáng tạo các tác
phẩm văn học dân gian và hình thành các lễ hội dân gian của người Tày
1.3.2.2 Lễ tết
Hàng năm, người Tày có nhiều dịp lễ tết với những ý nghĩa khác nhau Các dịp tết của người Tày cơ bản trùng với các dịp tết của người Kinh Sự khác nhau về tết của hai dân tộc này chủ yếu ở quy mô và cách thức tổ chức Ngoài các dịp tết, đời sống văn hóa tinh thần của người Tày phong phú với những lễ hội cổ truyền và những trò chơi dân gian, những điệu hát then, sli, lượn độc đáo thể hiện trong các lễ hội ấy Đặc sắc nhất phải kể đến lễ hội Lồng tồng, lễ hội Nàng Hai…
1.3.2.3 Văn học dân gian
Trong quá trình phát triển của lịch sử, người Tày đã sáng tạo và bảo lưu được vốn văn học dân gian khá đa dạng và phong phú, góp phần tạo nên diện mạo, sắc thái độc đáo về văn hóa của dân tộc mình Văn học dân gian Tày thể hiện sự giao lưu văn hóa giữa các sắc tộc vùng núi rừng Đông Bắc, đặc biệt là sự giao thoa văn hóa Kinh – Tày – Nùng thể hiện qua sự xuất hiện của các type, motif và các hình tượng; đồng thời vẫn thể hiện được tinh thần, bản sắc dân tộc Chủ đề tư tưởng lớn của văn học dân gian Tày là người lao động chăm chỉ, hiển lành phải chiến thắng thiên nhiên, thắng các loài dã thú
và những con người độc ác để xây dựng một cuộc sống ấm no, hạnh phúc; kẻ gian ác, giai cấp bóc lột nham hiểm sẽ bị trừng phạt ở ngay thế gian này hay ở cõi trời, ở âm phủ
Văn học dân gian Tày có số lượng lớn tác phẩm thuộc hầu hết các thể loại như trong văn học dân gian người Việt: thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, ca dao – dân ca… Bên cạnh đó, văn học dân gian Tày còn đặc biệt nổi bật ở một số thể loại như truyện thơ, dân ca (sli, lượn, then…)
Tiểu kết
Là một dân tộc bản địa, có lịch sử cư trú lâu đời ở vùng Đông Bắc nước ta, dân tộc Tày đã đoàn kết cùng dân tộc Kinh và các dân tộc anh em khác trong công cuộc mở nước và giữ nước Từ rất sớm, người Tày đã khẳng định được bản sắc văn hóa của dân
Trang 9tộc mình Đặc điểm cơ bản của nền văn hóa Tày là sự giao thoa của các yếu tố văn hóa Tày – Nùng – Kinh, thể hiện rõ trên cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần
Chương 2: TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN VÀ LỄ HỘI VỀ NGƯỜI ANH HÙNG
LỊCH SỬ Ở VÙNG ĐÔNG BẮC 2.1 Truyền thuyết dân gian về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc
2.1.1 Tình hình sưu tầm, biên soạn và nghiên cứu truyền thuyết dân gian Tày 2.1.1.1 Tình hình sưu tầm, biên soạn
Dân tộc Tày có số lượng truyền thuyết khá phong phú và ít nhiều đã được quan tâm sưu tầm Truyền thuyết của dân tộc Tày được tập trung trong các sách sưu tầm truyện cổ khá dày dặn Đó có thể là tập sách về truyện cổ các dân tộc ít người Việt Nam, hoặc tập sách về truyện cổ của từng địa phương khác nhau Việc sưu tầm, biên soạn truyền thuyết Tày có bốn hạn chế lớn:
Thứ nhất, các truyền thuyết của dân tộc Tày lại được sưu tầm khá muộn (khoảng giữa thế kỉ XX) so với truyền thuyết của dân tộc Kinh
Thứ hai, truyền thuyết dân gian Tày chưa được các tác giả sưu tầm, biên soạn phân loại ở cấp độ thể loại một cách rõ ràng Truyền thuyết còn bị xếp chung với thần thoại, truyện cổ tích hoặc bị gọi chung với các thể loại tự sự dân gian khác bằng danh từ
“truyện cổ”
Thứ ba, khi tập hợp truyền thuyết Tày vào các tập sách truyện cổ, một số tác giả
đã có sự nhầm lẫn giữa truyền thuyết Tày với truyền thuyết của các dân tộc khác
Thứ tư, những truyền thuyết dân gian Tày được tập hợp vào các công trình sưu tầm, biên soạn hầu hết mới chỉ có bản dịch ra tiếng Việt Do vậy, chúng chưa thật đảm bảo tính chính xác khoa học của tác phẩm sưu tầm Hiện nay, mới chỉ có duy nhất công
trình Tổng tập văn học dân gian các dân tộc thiểu số (Tập 16 – Truyện cổ tích, Truyền thuyết) [41] là có bản dịch song ngữ Tuy nhiên, số lượng truyền thuyết dân gian Tày
được tập hợp vào đây lại chiếm số lượng quá khiêm tốn (năm truyện)
Trang 102.1.1.2 Tình hình nghiên cứu
Do việc sưu tầm, biên soạn truyền thuyết dân gian Tày chưa được quan tâm, chú
ý thỏa đáng nên việc nghiên cứu truyền thuyết cũng còn nhiều hạn chế Đến nay, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về truyền thuyết Tày Truyền thuyết Tày mới chỉ được tác giả của các bài báo, luận văn thạc sĩ nghiên cứu về một số vấn đề, ở một vài trường hợp cụ thể
2.1.2 Đặc điểm của truyền thuyết dân gian Tày về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc
2.1.2.1 Đặc điểm nội dung
Truyền thuyết dân tộc Tày thường quan tâm tới đề tài lịch sử cộng đồng, gắn với cảm hứng lí giải lịch sử Cụ thể, trong kho tàng truyền thuyết Tày, số lượng truyền thuyết về các anh hùng lịch sử chiếm tới 70% Điều đó cho thấy truyền thống tinh thần,
tư tưởng nổi bật của người Tày là ngợi ca, tôn vinh các nhân vật anh hùng Đồng thời,
sự phát triển mạnh mẽ của truyền thuyết còn là minh chứng cho ý chí kiên cường của dân tộc Tày trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước
Truyền thuyết về các anh hùng lịch sử của người Tày gắn bó chặt chẽ với lịch sử đất nước Việt Nam, chủ yếu là thời Lí, Trần và Lê sơ Ở những giai đoạn lịch sử này, dân tộc Tày đã sản sinh ra nhiều người con anh hùng đứng lên chống giặc ngoại xâm
Bên cạnh ý nghĩa suy tôn các anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc, truyền thuyết còn có thêm ý nghĩa giải thích các địa danh như ngọn núi, cánh đồng, tên bản làng Điều này đặc biệt rõ trong các chuỗi truyền thuyết về Nùng Trí Cao, Dương
Tự Minh, Lưu Nhân Chú…
2.1.2.2 Đặc điểm nghệ thuật
Trong truyền thuyết dân gian Tày, các nhân vật anh hùng được kể đều có tên tuổi, lai lịch rõ ràng, gắn với địa phương, thời đại nhất định Song, đó không hẳn là sự thật lịch sử đích thực Sự hư cấu lịch sử đóng vai trò bối cảnh trần tục cho sự thể hiện quan điểm của nhân dân về lịch sử và nhằm tạo niềm tin cho người nghe đối với nội dung truyện
Trang 11Truyền thuyết dân gian Tày thường chú ý nhiều hơn đến những nhân vật có xuất thân nông dân hoặc gần dân Vì thế, bên cạnh các nhân vật được nhắc tới cả trong chính
sử và truyền thuyết như Thục Phán, Nùng Trí Cao, Dương Tự Minh, Bế Khắc Thiệu… còn có những nhân vật không được sử sách ghi lại nhiều nhưng trong truyền thuyết, các nhân vật ấy lại có vị trí quan trọng, chẳng hạn như bà A Nồng, phó tướng quân Nông Đắc Thái…; có những nhân vật không được chính sử ngợi ca nhiều như Nùng Tồn Phúc, Nùng Trí Cao, A Nồng… thì truyền thuyết lại ngợi ca, tôn vinh họ Sở dĩ có điều đó là bởi tư tưởng, hành động của các nhân vật anh hùng này có thể bị coi là phi chính thống đối với nhà nước phong kiến bấy giờ nhưng nó lại phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của chính dân tộc mà anh hùng đó xuất thân
Sự tôn vinh và ngợi ca các nhân vật anh hùng lịch sử trong truyền thuyết dân gian Tày được thể hiện bằng nhiều cách: đặt nhân vật anh hùng vào một không gian, thời gian mang tính lịch sử để đưa nhân vật từ tầm địa phương lên tầm quốc gia và thuyết phục lòng tin của người nghe; sử dụng các motif, các yếu tố hư cấu của những thể loại khác như thần thoại, truyện cổ tích và của truyền thuyết các dân tộc khác để đưa nhân vật vào những không gian riêng, mang sắc màu kì ảo; nêu ra những sắc phong của triều đình phong kiến đối với nhân vật và những di tích, lễ hội thờ cúng nhân vật anh hùng
đó Có thể nói, trong truyền thuyết Tày, tác giả dân gian đã khéo sắp đặt các yếu tố hư
và thực, khiến cho người nghe cảm nhận rất rõ tính chất lịch sử của truyền thuyết mà vẫn hiểu đó không phải sự phản ánh lịch sử đơn giản Đó chỉ là một cách để nhân dân thể hiện sự lí giải lịch sử và lòng tôn vinh các anh hùng dân tộc
Tuy số lượng tác phẩm khiêm tốn hơn nhiều so với kho tàng truyền thuyết của người Kinh nhưng truyền thuyết dân gian Tày cũng có kiểu dựng truyện theo kết cấu chuỗi Trong đó, đáng chú ý là các chuỗi truyền thuyết về các nhân vật anh hùng Nùng Trí Cao, Dương Tự Minh, Lưu Nhân Chú… Số lượng truyền thuyết tương đối lớn trong một chuỗi truyền thuyết về người anh hùng Tày cũng phản ánh các vị anh hùng này được nhân dân yêu quý không kém gì các vị vua hiền, tướng tài trong lịch sử Việt Nam
Truyền thuyết về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc chịu ảnh hưởng của lối biên soạn thần tích của người Việt Các truyền thuyết được ghi chép
Trang 12nhiều nhất trong sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn [43], các
sách địa phương chí, thần tích ở các đền, miếu và gia phả của các dòng họ Do chịu ảnh hưởng của lối biên soạn thần tích của người Việt nên truyền thuyết về các anh hùng lịch
sử của người Tày có cốt truyện tương đối ổn định
Qua phân tích các đặc điểm thi pháp của truyền thuyết dân gian Tày về các anh hùng lịch sử như trên, chúng tôi nhận thấy năng lực sáng tạo truyền thuyết của người Tày trong lịch sử đã đạt đến trình độ cao có tính đặc thù
2.2 Lễ hội về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc
2.2.1 Tình hình giới thiệu và nghiên cứu lễ hội của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc
Lễ hội của người Tày ở vùng Đông Bắc khá đa dạng và phong phú Theo thống kê của chúng tôi từ các sách giới thiệu về lễ hội, dân tộc Tày ở Đông Bắc có gần 200 lễ hội cổ truyền lớn, nhỏ trải rộng khắp địa bàn vùng Đông Bắc trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông
Trong các sách có tính chất là từ điển lễ hội hay cẩm nang du lịch, các lễ hội của người Tày mới chỉ được giới thiệu khái quát về thời gian, địa điểm diễn ra lễ hội, đối tượng thờ cúng, các trò chơi
Nằm trong xu hướng bảo tồn và phát huy văn hóa lễ hội của các dân tộc thiểu
số, một số lễ hội của người Tày ở Đông Bắc đã được khảo sát, nghiên cứu sâu hơn như lễ hội Lồng tồng, lễ hội Nàng Hai, lễ hội đền Kì Sầm, lễ hội đền Từ Hả, lễ hội đền Đuổm… Tuy nhiên, số lượng lễ hội được nghiên cứu còn khá khiêm tốn Trên thực tế, hệ thống lễ hội của người Tày phong phú hơn thế rất nhiều Việc nghiên cứu, giới thiệu và phục dựng các lễ hội của người Tày ở Đông Bắc là việc làm hết sức cần thiết để góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc
2.2.2 Phân loại lễ hội của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc
Dựa vào chủ đề của lễ hội, có thể phân lễ hội của dân tộc Tày ở Đông Bắc ra thành ba nhóm chính như sau:
- Lễ hội nông nghiệp: tái hiện cuộc sống canh tác sản xuất nông nghiệp của người Tày
Trang 13- Lễ hội về các anh hùng lịch sử: tái hiện lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, gắn liền với các nhân vật anh hùng lịch sử là người Tày
- Lễ hội phong tục, tín ngưỡng: tái hiện đời sống tín ngưỡng của người Tày
2.2.3 Đặc điểm của lễ hội về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc
Hầu hết các lễ hội về người anh hùng lịch sử dân của dân tộc Tày ở Đông Bắc đều được tổ chức vào mùa xuân Ngoài ra, đồng bào Đông Bắc còn tổ chức lễ hội về người anh hùng lịch sử của dân tộc Tày vào mùa thu Điều này phản ánh tính chất nông nghiệp của lễ hội trước khi lễ hội được bồi đắp lớp ý nghĩa ca ngợi người anh hùng
Các lễ hội về người anh hùng lịch sử ở vùng Đông Bắc đều mang tính chất lễ hội nông nghiệp, quy mô hội làng Tính chất nông nghiệp và quy mô hội làng của lễ hội về người anh hùng lịch sử ở vùng Đông Bắc thể hiện không chỉ ở chỗ các lễ hội tập trung ở thôn bản, một số lễ hội được tổ chức cả vào mùa thu, mà còn trong quy cách thờ cúng, sinh hoạt lễ hội
Ở vùng Đông Bắc, người Tày đã xây dựng được những quần thể kiến trúc dành làm nơi thờ cúng mở lễ hội Đó là hệ thống các đình, đền, miếu ở các địa phương như Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Giang Các công trình kiến trúc đình, đền, miếu ở Đông Bắc tuy không đồ sộ, khang trang như các quần thể kiến trúc cùng loại ở miền xuôi, nhưng chúng cũng mang đầy đủ tính chất của các nơi thờ cúng thần thánh Mỗi lễ hội về người anh hùng lịch sử của người Tày ở Đông Bắc bao giờ cũng hướng tới một một đối tượng linh thiêng cần được suy tôn như những vị anh hùng chống ngoại xâm, bảo vệ làng bản, dân tộc… Điều cần lưu ý là những vị anh hùng lịch sử được thờ cúng đó đều là những người con của dân tộc Tày ở vùng đất Đông Bắc
Lễ hội gắn liền với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, với tư tưởng uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây Trong một số lễ hội, ở phần lễ có diễn ra các cảnh diễn xướng lại sự tích, công trạng của các anh hùng