1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa phật giáo và tín ngưỡng dân gian việt nam (qua nghiên cứu một số ngôi chùa đồng bằng bắc bộ)

7 1,8K 12
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối quan hệ giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian Việt Nam (Qua nghiên cứu một số ngôi chùa đồng bằng Bắc Bộ)
Tác giả Đặng Minh Châu
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thỳy Võn
Trường học Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
Chuyên ngành Tôn giáo học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 311,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối quan hệ giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian Việt Nam Qua nghiên cứu một số ngôi chùa đồng bằng Bắc Bộ Đặng Minh Châu Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Luận văn ThS.. Vì

Trang 1

Mối quan hệ giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian Việt Nam (Qua nghiên cứu một số ngôi

chùa đồng bằng Bắc Bộ)

Đặng Minh Châu

Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Luận văn ThS ngành: Tôn giáo học; Mã số: 60 22 90 Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thúy Vân

Năm bảo vệ: 2010

Abstract Hệ thống hoá một số nội dung lý luận cơ bản về Phật giáo và tín ngưỡng

dân gian Việt Nam, mối quan hệ giữa chúng Tìm hiểu sự thể hiện mối quan hệ giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian qua một số ngôi chùa tiêu biểu ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Phân tích những xu hướng biến đổi và kiến nghị một số giải pháp nhằm phát huy những giá trị văn hoá của mối quan hệ giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân

gian ở vùng đồng bằng Bắc Bộ nước ta hiện nay

Keywords Tôn giáo học; Phật giáo; Tín ngưỡng dân gian; Việt Nam

Content

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Phật giáo du nhập vào đất Việt từ khá sớm và đã nhanh chóng hoà nhập với tín ngưỡng bản địa để trở thành một tôn giáo mang sắc thái Việt Trong quá trình tồn tại và phát triển, Phật giáo đã có những đóng góp đáng kể vào đời sống chính trị - xã hội và văn hóa tinh thần của người dân Việt Nam, tạo nên những nột kiến trúc, nghệ thuật độc đáo, góp phần làm phong phú thêm kho tàng di sản văn hóa Việt Nam

Trước khi đạo Phật du nhập vào Việt Nam thì người Việt Nam đã có tín ngưỡng dân gian truyền thống của mình Mỗi cộng đồng dân cư, mỗi làng, xã đều có những loại hình tín ngưỡng dân gian riêng, mang bản sắc đặc trưng của cộng đồng mình Dân gian xưa có câu:

“Trống làng nào, làng ấy đánh

Thánh làng nào, làng ấy thờ”

Nhưng khi đạo Phật vào Việt Nam thì người Việt đã tiếp nhận đạo Phật trong sự hòa quyện với văn hóa dân gian bản địa, các ngôi chùa ở làng quê cũng đã xuất hiện và không những thể hiện cái tinh thần duy nhất của Phật giáo là trông thấy rõ cái khổ ở trần gian và tìm cách giải thoát ra khỏi vòng luân hồi sinh tử mà còn nổi rõ căn tính bản địa với tục thờ cúng trong chùa, thể hiện nguyện vọng, ước mơ của người lao động

Hơn 2000 năm có mặt trên đất Việt, Phật giáo đã để lại nhiều dấu ấn vật chất, mà trong

đó, tiêu biểu hơn cả là những ngôi chùa Nếu ở một số quốc gia khác cùng chịu ảnh hưởng của Phật giáo, phần nhiều chùa thường chỉ thờ thuần Phật, thì ở Việt Nam, do đạo Phật được bản địa hóa khá mạnh, nên trên thực tế, đã xuất hiện và tồn tại nhiều loại chùa khác nhau như: chùa thờ thuần Phật, chùa vừa thờ Thần vừa thờ Phật, chùa thờ Phật kiêm thờ Thánh, chùa cùng thờ

Trang 2

Phật và thờ Mẫu… do sự dung hợp này mà các thần linh bản địa đều có vị trí trong chùa như Thần khuyến thiện, trừng ác, Thổ địa, Mẫu

Là một nước nông nghiệp nên tín ngưỡng dân gian đã được “Phật hóa” và “hóa Phật” ngay ở giai đoạn đầu tiên và trong suốt quá trình tồn tại, đó là tôn thờ những hiện tượng thiên nhiên như: mây, mưa, sấm, chớp nên người ta cũng lấy ngay các vị thần đặt tên cho chùa, thành: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện hay điện Mẫu cũng được tồn tại và phát triển ngay trong phạm vi nhà chùa Cũng do thích ứng với tín ngưỡng bản địa mà ngay trong chùa cũng thờ vong linh người đã khuất, các tượng Thành Hoàng hoặc anh hùng dân tộc hay như Đức Thánh Trần ở nhà hậu đường Sự ra đời và phát triển của những dạng chùa này không chỉ đánh dấu sự phát triển của nghệ thuật kiến trúc dân gian Việt, mà còn phản ánh những chuyển biến về mặt tư tưởng của người dân và đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của họ trong những giai đoạn lịch sử nhất định Người dân đi chùa lễ Phật lại vừa cúng Mẫu, cúng Thánh Và như vậy, đạo Phật dân gian đã hình thành trong dân chúng bắt nguồn từ đạo Phật chính thống, nhưng đã gạt bỏ phần triết lý xa xôi, khó hiểu trở về với cuộc sống trần thế hàng ngày Kết hợp với tín ngưỡng bản địa, đạo Phật và tín ngưỡng dân gian đã thẩm thấu vào nhau mang sắc thái văn hóa Phật giáo Việt Nam – nặng tư tưởng nhập thế, xử thế, tạo cho Phật giáo gắn bó với dân tộc, góp phần tạo nên những thành quả dựng nước và giữ nước của dân tộc mà Phật giáo Việt Nam có câu:

“Dù xây chín cấp Phù đồ

Không bằng làm phúc cứu cho một người”

Vì vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian Việt Nam được thể hiện qua những ngôi chùa đem lại cho ta hiểu rõ các lớp văn hóa bồi tụ, lắng đọng trong thần tích và lễ hội liên quan tới các nhân vật được phối thờ cùng các nhân vật của Phật giáo, trong cùng một không gian kiến trúc Đó cũng chính là nét độc đáo riêng có của Phật giáo Việt Nam

Hơn nữa, nghiên cứu mối quan hệ giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian Việt Nam còn nhằm khẳng định căn tính đặc thù của Phật giáo Việt Nam, khẳng định giá trị văn hóa, lịch sử của những ngôi chùa Việt, giữ gìn và phát huy truyền thống, bản sắc dân tộc, góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, hội nhập

và phát triển

Đồng Bằng Bắc Bộ là vùng đất mang dấu ấn tiêu biểu cho đời sống văn hóa, tinh thần

và tâm linh của người Việt, là trung tâm văn hóa, điểm hội tụ tinh hoa của bốn phương, mọi miền đất nước Đặc điểm lớn nhất của văn hóa tâm linh đồng bằng Bắc Bộ là sự dung hợp hài hòa giữa Phật giáo và các tôn giáo (Đạo giáo, Nho giáo), tín ngưỡng, phong tục của người Việt, đặc biệt hơn cả là tín ngưỡng dân gian Điều này được biểu hiện rõ nhất qua nghi lễ, giáo lý và kiến trúc nghệ thuật của các chùa vùng đồng bằng Bắc Bộ Vì thế, việc nghiên cứu

sự kết hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian thể hiện qua các ngôi chùa vùng đồng bằng Bắc Bộ có ý nghĩa quan trọng, góp phần vào việc bảo tồn và giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc

Vì các lý do trên, tôi chọn đề tài: “Mối quan hệ giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân

gian Việt Nam (qua nghiên cứu một số ngôi chùa ở vùng đồng bằng Bắc Bộ)” làm công

trình nghiên cứu của mình

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Có thể điểm qua tình hình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu

của luận văn như sau:

2.1 Những công trình nghiên cứu về Phật giáo

Nghiên cứu về Phật giáo ở nước ta lâu nay không chỉ giành được sự quan tâm của các nhà tu hành, mà còn được đông đảo các học giả ở các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau như: Triết học, Sử học, Tôn giáo học, Thẩm mỹ, giáo lý v.v trong và ngoài nước tập trung nghiên

cứu Có thể điểm qua một số công trình tiêu biểu trong lĩnh vực này: Lê Mạnh Thát với “Lịch

Trang 3

sử Phật giáo Việt Nam tập I, II, III”; Nguyễn Duy Hinh với “Tư tưởng Phật giáo Việt Nam”;

Nguyễn Lang với “Việt Nam Phật giáo sử luận”, cùng nhiều nhà nghiên cứu có tên tuổi khác

như: Trần Trọng Kim, Nguyễn Tài Thư [41, 46], Hà Văn Tấn [30, 31], Nguyễn Hùng Hậu ; hoặc của các nhà sư như: Hoà thượng Thích Minh Châu, Thích Thanh Từ, Thích Đồng Bổn

[68]…

Trong các công trình trên, các tác giả đã tập trung làm rõ sự hình thành và phát triển của Phật giáo, những nội dung giáo lý, tư tưởng cơ bản của đạo Phật, đặc biệt là quá trình du

nhập, dung hội và những đặc điểm nổi bật của Phật giáo Việt Nam

2.2 Những công trình nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian

Có thể điểm qua một số công trình và tác giả tiêu biểu như: “Đạo Mẫu ở Việt Nam”,

“Tín ngưỡng và văn hoá tín ngưỡng ở Việt Nam” của Ngô Đức Thịnh [59 và 60], “Đạo Thánh ở Việt Nam” của Vũ Ngọc Khánh [23], “Tục thờ Mẫu và những truyền thống văn hoá dân gian ở Việt Nam” của Đinh Gia Khánh [22], “Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam” của

Nguyễn Minh San [28], hay “Thần, người và đất Việt của Tạ Chí Đại Trường[66],…

Trong các công trình trên, các tác giả đã phân tích được một số nét độc đáo của tín ngưỡng dân gian Việt Nam, những biểu hiện cụ thể của chúng trong đời sống người Việt cũng như cách tiếp cận việc nghiên cứu tín ngưỡng dân gian ở nước ta

2.3 Các công trình nghiên cứu về một số ngôi chùa

Về giá trị của loại di tích chùa tháp ở Việt Nam nói chung, vùng đồng bằng Bắc Bộ nói riêng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm Dù nhìn nhận, đánh giá từ nhiều góc độ khác nhau, song họ vẫn có điểm chung khi thống nhất cho rằng: chùa là nơi bảo tồn, lưu giữ những

giá trị văn hoá vật thể và phi vật thể tiêu biểu của người Việt qua các giai đoạn lịch sử

Đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu chuyên khảo và bài viết đơn lẻ giới thiệu về diễn trình phát triển của ngôi chùa Việt nói chung, về những đặc điểm chung của loại di tích chùa tháp ở Việt Nam hay về một giá trị kiến trúc, điêu khắc, lễ hội… tiêu biểu, độc đáo của một ngôi chùa nào đó (đặc biệt là những ngôi chùa ở miền Bắc Việt Nam) Có thể kể đến một

số tác phẩm tiêu biểu như: “Chùa Việt” của Trần Lâm Biền [5], “Chùa Việt Nam” của Hà Văn Tấn [49], hay “Sáng giá chùa xưa - Mỹ thuật Phật giáo” của Chu Quang Trứ [65]… Một số tác

giả khác lại đi vào nghiên cứu, giới thiệu từng ngôi chùa cụ thể, như Nguyễn Thế Long trong

cuốn Chùa Hà Nội [28] đã giới thiệu những nét cơ bản nhất về một số ngôi chùa ở Hà Nội (cũ),

trong đó có chùa Láng, chùa Vân Hồ, chùa Sét… Năm 1994, Sở Văn hoá - Thông tin Hà Nội

xuất bản cuốn Hà Nội, di tích và văn vật [45] trong đó có đề cập đến một số vấn đề cơ bản của

một ngôi chùa như tên gọi, địa điểm, niên đại xây dựng và sơ qua những giá trị, đặc điểm của

một số ngôi chùa “Hà Nội Danh lam cổ tự” của Thích Bảo Nghiêm [36], “Di tích Hà

Tây”[37] v.v Ngoài ra, một số luận văn, luận ỏn tiến sĩ cũng lựa chọn đề tài này để nghiờn

cứu như luận án “Di tích chùa Thầy (Hà Tây)” của Nguyễn Văn Tiến [64], luận án “Di tích

chùa Chùa Bối Khê (Hà Tây) ” [67] của Nguyễn Quốc Tuấn

Các công trình trên đã phần nào nờu được những nét cơ bản về đặc điểm cũng như sự phát triển của Chùa Việt Nam qua các thời kỳ kịch sử Với các công trình nghiên cứu về các ngôi chùa cụ thể cũng có sự phân tích về kiến trúc, điêu khắc, bố cục và các nghi lễ, lễ hội đặc trưng ở mỗi vùng mà ngôi chùa đó đại diện Có thể thấy, dù ít nhiều, các ngôi chùa ở vùng đồng bằng Bắc Bộ cũng đã được đề cập, tìm hiểu, nghiên cứu ở những mức độ và góc

độ khác nhau

2.4 Những công trình nghiên cứu về sự kết hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian Việt Nam

Vấn đề kết hợp, dung hội giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian cũng đã được nhắc tới

ở một số bài viết, vì từ lâu, do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhất là do đặc điểm tâm thức của người nông dân vùng đồng bằng Bắc Bộ, hầu như ít tôn giáo, tín ngưỡng nào có thể tồn tại độc lập, mà thường có sự dung hội với nhau Sự dung hội giữa tôn giáo và tín ngưỡng dân gian (đặc biệt là Phật giáo) là một vấn đề đã được hầu hết các nhà nghiên cứu đồng thuận và

Trang 4

khẳng định, nó cũng được nhắc nhiều trong những bài viết của họ; song, đặt thành một vấn đề nghiên cứu độc lập và cụ thể thì hầu như lại không nhiều nghiên cứu Theo những tài liệu hiện biết, chúng tôi mới chỉ thấy một công trình nghiên cứu của Tiến sĩ tôn giáo học Thích Đồng Bổn, nghiên cứu về “những tập tục dân gian chịu ảnh hưởng Phật giáo Đại Thừa” là chuyên nghiên cứu về mối quan hệ giữa Phật giáo (Đại thừa) và những tập tục (song chủ yếu

là ở vùng Nam Bộ) Trong một số bài viết của Trần Lâm Biền, Chu Quang Trứ, Hà Văn Tấn,

Nguyễn Quốc Tuấn… đều có nhắc tới sự dung hội/kết hợp này Như: “Qua bước đi của di

tích Hà Nam Ninh” của Trần Lâm Biền; “Về một vài yếu tố mang tính triết học của kiến trúc

cổ truyền Việt” của Trần Lâm Biền và Nguyễn Hồng Kiên cũng đã bước đầu phân tích sự kết

hợp này, nhưng mới chỉ dừng ở những phõn tớch rời rạc, cụ thể

Như vậy, dù đã nhiều công trình nghiên cứu đến các khía cạnh khác nhau của đề tài, tuy nhiên, nghiên cứu về sự kết hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng dân gian thể hiện qua một

số ngôi chùa vẫn còn khá lẻ tẻ và thiếu tính khái quát, hệ thống Chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách hệ thống sự kết hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian Việt Nam thể hiện ở các ngôi chùa ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, từ đó có những đánh giá một cách khách quan và khoa học về vai trò, vị thế của Phật giáo trong đời sống văn hoá - xã hội Việt Nam nói chung và tín ngưỡng dân gian Việt nam nói riêng từ góc nhìn của khoa học Tôn giáo Đây cũng là mục đích chính mà luận văn hướng tới trong quá trình nghiên cứu

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Trên cơ sở hệ thống hoá một số nội dung lý luận về mối quan hệ giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam, luận văn tập trung phân tích sự thể hiện mối quan hệ này qua một số ngôi chùa tiêu biểu ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, từ đó chỉ ra xu hướng biến đổi và đề xuất một số kiến nghị nhằm phát huy những giá trị văn hoá của mối quan hệ giữa Phật giáo

và tín ngưỡng dân gian ở vùng đồng bằng Bắc Bộ nước ta hiện nay

3.2 Nhiệm vụ

- Hệ thống hoá một số nội dung lý luận cơ bản về Phật giáo và tín ngưỡng dân gian Việt Nam, mối quan hệ giữa chúng

- Tìm hiểu sự thể hiện mối quan hệ giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian qua một số ngôi chùa tiêu biểu ở vùng đồng bằng Bắc Bộ

- Phân tích những xu hướng biến đổi và kiến nghị một số giải pháp nhằm phát huy những giá trị văn hoá của mối quan hệ giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian ở vùng đồng bằng Bắc Bộ nước ta hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Mối quan hệ giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian Việt Nam (qua nghiên cứu một số ngôi chùa vùng đồng bằng Bắc Bộ)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu mối quan hệ giữa Phật giáo (Phật giáo Bắc tông) và tín ngưỡng dân gian Việt Nam (tín ngưỡng dân gian người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ) qua một số ngôi chùa tiêu biểu ở vùng đồng bằng Bắc Bộ như chùa Dâu, chùa Keo, chựa Dạm, chựa Thầy, chùa Lý Quốc Sư, hệ thống chựa Tứ Phỏp… trên một số lĩnh vực như: giỏo lý, nghi lễ, kiến trỳc nghệ thuật

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên những quan điểm của triết học Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh;

Đảng Cộng sản Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trang 5

Luận văn sử dụng một số phương phỏp cơ bản của phộp biện chứng duy vật như: phõn tớch, tổng hợp, khỏi quỏt hoỏ, so sỏnh; và một số phương phỏp của cỏc khoa học khỏc như điều tra, khảo sỏt, điền dó v.v

6 Kết quả nghiờn cứu và đúng gúp của luận văn

- Hệ thống hoỏ một số nội dung lý luận cơ bản về mối quan hệ giữa Phật giỏo và tớn ngưỡng dõn gian ở Việt Nam

- Chỉ ra mối quan hệ giữa Phật giỏo và tớn ngưỡng dõn gian qua một số ngụi chựa tiờu biểu ở vựng đồng bằng Bắc Bộ

7 í nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

7.1 í nghĩa lý luận

Gúp phần làm rừ hơn giỏ trị bản sắc văn hoỏ dõn tộc của những ngụi chựa cổ truyền qua việc tỡm hiểu sự kết hợp giữa Phật giỏo và tớn ngưỡng dõn gian biểu hiện trong cỏc lĩnh vực như: nghi lễ, nghệ thuật kiến trỳc, Kết quả của luận văn đặt ra vấn đề đối với cỏc nhà quản

lý tụn giỏo, quản lý văn hoỏ đối với việc bảo tồn, kế thừa và phỏt huy những giỏ trị văn húa của người Việt trong sự nghiệp bảo tồn nền văn húa truyền thống và xõy dựng đời sống văn húa đương đại

7.2 í nghĩa thực tiễn

Luận văn cú thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cụng tỏc nghiờn cứu, giảng dạy và học tập về tụn giỏo

8 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chớnh của luận văn được

bố cục thành 2 chương, 7 tiết Ngoài ra, trong luận văn cũn cú phần Phụ lục ảnh minh họa

References

1 Đào Duy Anh (1950), Từ điển Việt – Hỏn, Nxb Minh Tõn, Hà Nội

2 Đào Duy Anh (2006), Việt Nam Văn húa sử cương, Nxb Văn húa Thụng tin, Hà Nội

3 Đặng Văn Bài (2008), Nhận diện để phát huy giá trị di sản văn hoá Phật giáo Việt

Nam, Tạp chớ Nghiờn cứu Tụn giỏo, (số 05), tr.16-22

4 Ban quản lý di tớch và danh thắng Hà Nội (2000), Di tớch lịch sử - văn húa Hà Nội,

Nxb Chớnh trị Quốc gia, Hà Nội

5 Trần Lõm Biền (1996), Chựa Việt, Nxb Văn húa Thụng tin, Hà Nội

6 Trần Lõm Biền (2000), Một con đường tiếp cận lịch sử, Nxb Văn húa dõn tộc, Hà

Nội

7 L Cadiere (1992), Instructions pratiques puor des missionnaires Anthroposs Hob

Croyances et pratieques religieuses des Vietnamiens III, Nxb EFEO Paris, France

8 L Cadiere (1997), Về văn húa và tớn ngưỡng truyền thống người Việt, Nxb Văn húa

Thụng tin, Hà Nội

9 Đoàn Trung Cũn (2001), Lịch sử nhà Phật, Nxb Tụn giỏo, Hà Nội

10 Nguyễn Bỏ Chớ (1949), Chựa Một Cột - Dõn Việt Nam, Nxb Viễn Đụng Bỏc Cổ, Hà

Nội

11 Đại việt sử ký toàn thư (2006), Tập 1, Nxb Khoa học Xó hội, Hà Nội

12 Đại việt sử ký toàn thư (2006), Tập 2, Nxb Khoa học Xó hội, Hà Nội

13 Quang Đạm (1991), Nho giỏo xưa và nay, Nxb Khoa học Xó hội, Hà Nội

14 Khai Đăng (2009), Tỡm hiểu cỏc ngày lễ ở Việt Nam, Nxb Văn húa Thụng tin, Hà

Nội

15 Giỏo Hội Phật giỏo Việt Nam (1990), Thiền uyển tập anh, Nxb Khoa học Xó hội, Hà

Nội

16 Mai Thanh Hải (2002), Từ điển tụn giỏo, Nxb, Từ điển Bỏch Khoa, Hà Nội

Trang 6

17 Hoàng Xuân Hãn (1966), Lý Thường Kiệt, quyển 2, Nxb Tu viện Vạn Hạnh, Sài

Gòn

18 Phạm Đình Hổ (1983), Vũ Trung Tùy Bút, Nxb Hà Nội

19 Nguyễn Đức Hiền (1986), Truyện Trạng Quỳnh, Nxb Hải Phòng

20 Nguyễn Duy Hinh (2003), Người Việt Nam với Đạo giáo, Nxb Khoa học Xã hội, Hà

Nội

21 Nguyễn Duy Hinh (1990), Tư tưởng Phật giáo Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà

Nội

22 Đinh Gia Khánh (1992), “Tục thờ Mẫu và những truyền thống văn hóa dân gian ở

Việt Nam”, Tạp chí Văn học, (số 5), tr 5-13

23 Vũ Ngọc Khánh (2001), Đạo Thánh ở Việt Nam, Nxb.Văn hóa dân tộc, Hà Nội

24 Trần Trọng Kim (1942), Phật lục, Nxb Lê Thăng, Hà Nội

25 Nguyễn Lang (2000), Việt Nam Phật giáo sử luận, 2 tập, Nxb Văn học, Hà Nội

26 Trần Lâm – Hồng Kiên (2005), Một con đường tiếp cận di sản văn hóa, Nxb Cục di

sản văn hóa, Hà Nội

27 Vũ Tự Lập (chủ biên - 1991), Văn hóa và cư dân vùng đồng bằng sông Hồng, Nxb

Khoa học Xã hội, Hà Nội

28 Nguyễn Thế Long (1997), Chùa Hà Nội, Nxb Hà Nội

29 C.Mác - Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

30 C.Mác - Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

31 Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

32 Henri Maspero, Lê Diễn dịch (2000), Đạo giáo và các tôn giáo Trung Quốc, Nxb

Khoa học Xã hội, Hà Nội

33 Phan Ngọc (2001), Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội

34 Phan Ngọc (2005), Một nhận thức mới về văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông

tin, Hà Nội

35 Chân Nguyên – Nguyễn Tường Bách (1999), Từ điển Phật học, Nxb Thuận Hoá,

Huế

36 Thích Bảo Nghiêm (2003), Hà Nội Danh Lam cổ tự, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà

Nội

37 Nhiều tác giả (1999), Di tích Hà Tây, Nxb Sở Văn hóa Thông tin, Hà Tây

38 Nhiều tác giả (2000), Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà

Nội

39 Nguyễn Quân- Phan Cầm Thượng (1989), Mỹ thuật của người Việt, Nxb Mỹ Thuật,

Hà Nội

40 Giang Quân - Phan Tất Liêm (1986), Dấu tích kinh thành, Nxb Hải Phòng

41 Quốc sử quán triều Nguyễn (1992), Đại Nam nhất thống chí, Tập IV, Nxb Thuận

Hoá, Huế

42 Ngô Huy Quỳnh (1986), Tìm hiểu kiến trúc Việt Nam, Nxb Xây dựng, Hà Nội

43 Vũ Quỳnh – Kiều Phú (1960), Lĩnh Nam chích quái, Nxb Văn hóa, Hà Nội

44 Nguyễn Minh San (1998), Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt nam, Nxb Văn hoá dân

tộc, Hà Nội

45 Sở văn hóa thông tin Hà Nội (1994), Hà Nội di tích và văn vật, Nxb Hà Nội

46 Vũ Thanh Sơn (2002), Thần linh đất Việt, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội

47 Lê Văn Siêu (2006), Việt Nam văn minh sử, Nxb Văn hóa, Hà Nội

48 Hà Văn Tấn (1992), Ghi chú thêm về tín ngưỡng Đế Thích (Indra) ở Việt Nam, Tạp

chí Nghiên cứu Phật học, (số 5)

49 Hà Văn Tấn (1993), Chùa Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội

50 Hà Văn Tấn (1997), “Về ba yếu tố Thiền, Tịnh, Mật”, Nxb Đại học Quốc gia, Hà

Nội

Trang 7

51 Lê Tắc (1973), An Nam chí lược, Nxb La Bối, Sài Gòn

52 Thích Viên Thành (1995), “Phật học của thiền sư Từ Đạo Hạnh”, Tạp chí Mỹ thuật

thời nay, (số 7 – 8)

53 Lê Mạnh Thát (1999), Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh, Nxb TP Hồ Chí Minh

54 Lê Mạnh Thát (1999), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Nxb Thuận Hoá, Huế

55 Lê Mạnh Thát (2001), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 2, Nxb TP Hồ Chí Minh,

TP Hồ Chí Minh

56 Lê Mạnh Thát (2002), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 3, Nxb TP Hồ Chí Minh,

TP Hồ Chí Minh

57 Trần Ngọc Thêm (2000), Cơ sở văn hoá Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội

58 Trương Thìn (2008), Nghi lễ thờ cúng truyền thống của người Việt, Nxb Hồng Đức,

Hà Nội

59 Ngô Đức Thịnh (chủ biên) (1993),Văn hoá vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam,

Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội

60 Ngô Đức Thịnh (chủ biên, 2001), Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam,

Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội

61 Ngô Đức Thịnh (chủ biên, 2002), Đạo Mẫu ở Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà

Nội

62 Nguyễn Đăng Thục (1996), Thiền học Việt Nam, Nxb Thuận Hóa, Huế

63 Nguyễn Tài Thư (chủ biên,1993), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội,

Hà Nội

64 Nguyễn Văn Tiến (2001), Di tích chùa Thầy (Hà Tây) Luận văn Tiến sĩ Lịch sử,

chuyên ngành Khảo cổ học

65 Chu Quang Trứ (2001), Sáng giá chùa xưa Mỹ thuật Phật giáo, Nxb Mỹ thuật, Hà

Nội

66 Tạ Chí Đại Trường (2005), Thần, người và đất Việt, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà

Nội

67 Nguyễn Quốc Tuấn (2001), Di tích chùa Bối Khê (Hà Tây), Luận án Tiến sĩ Lịch sử,

chuyên Ngành Khảo cổ học, Tư liệu lưu trữ tại Thư viện Quốc gia, Hà Nội

68 Thích Thanh Từ (2004), Thiền sư Việt Nam, Nxb Thành hội Phật giáo TP Hồ Chí

Minh

69 Từ điển nghiệp vụ công an (dự thảo - 1977), Nxb Bộ Nội vụ - Viện Khoa học công

an, Hà Nội

70 Từ điển tiếng việt (1996), Nxb Đà Nẵng

71 Viện Khoa học xã hội Việt Nam – Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo (2004), Về tôn giáo

và tôn giáo ở Việt Nam (sách tham khảo), Nxb Sự thật, Hà Nội

72 Viện Triết học ( 1988), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội

73 Viện văn hóa dân gian (1992), Lễ hội cổ truyền, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội

74 Viện Văn học (biên soạn - 1977), Thơ văn Lý Trần, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà

Nội

75 Hồ Sỹ Vịnh – Phượng Vũ (chủ biên, 1995), Lễ hội cổ truyền Hà Tây, Sở Văn hóa

thông tin, Hà Tây

76 Lê Trung Vũ (chủ biên -1992), Lễ hội cổ truyền, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội

77 Lý Tế Xuyên (1960), Việt điện u linh (Trịnh Đình Rư dịch theo bản A.751 của Thư

viện Khoa học), Nxb Văn hóa, Hà Nội

78 Bernard Frank (1990), Les deva de la tradition bould hique et la socie'te' japouaise/'

exemple d'/ndra/Taishaku-ten In Buoddhismes et Scie'te' Asiatiques, Harmattan,

Paris

79 Henri Zimmer (1951), Thần thoại và tượng trưng trong nghệ thuật và văn minh Ấn

Độ, Nxb Payot, Paris

Ngày đăng: 17/01/2014, 14:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w