1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa đức tin và lý trí trong triết học tây âu trung cổ

10 3K 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mối quan hệ giữa đức tin và lý trí trong triết học Tây Âu Trung cổ
Tác giả Nguyễn Thị Vân Hà
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Thanh Huyền
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Tôn giáo học
Thể loại Luận văn ThS.
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 350,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích quan niệm của các nhà triết học tiêu biểu trong triết học Tây Âu trung cổ về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí.. Nguyễn Anh Tuấn; “Nhập môn triết học phương Tây” 2005 của tác

Trang 1

Mối quan hệ giữa đức tin và lý trí trong triết

học Tây Âu Trung cổ Nguyễn Thị Vân Hà

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Luận văn ThS ngành: Tôn giáo học; Mã số: 60 22 90 Người hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Thanh Huyền

Năm bảo vệ: 2012

Abstract Nghiên cứu điều kiện, tiền đề ra đời và thực chất mối quan hệ giữa đức tin

và lý trí trong triết học Tây Âu trung cổ Phân tích quan niệm của các nhà triết học tiêu biểu trong triết học Tây Âu trung cổ về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí Đánh giá quan niệm của các nhà triết học Tây Âu trung cổ về mối quan hệ giữa đức tin và

lý trí

Keywords Tôn giáo học; Đức tin; Lý trí; Triết học Tây Âu Trung cổ

Content

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong một thời gian dài, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, khi nhắc đến triết học Tây Âu trung cổ, người ta thường quan niệm: đây là thời kỳ tăm tối, không để lại gì nhiều cho lịch sử nhân loại về khoa học cũng như triết học Các nhà nghiên cứu, hoặc do thù nghịch, hoặc dửng dưng với tôn giáo đều không thích tìm hiểu về triết học trung cổ Trong thời gian gần đây, đã có một số công trình quan tâm tới triết học thời kỳ này, song nhìn chung còn ít, đặc biệt, vấn đề quan hệ giữa đức tin và lý trí trong thời kỳ này chưa được nghiên cứu một cách hệ thống

Xã hội thời kỳ trung cổ ở Tây Âu là thời kỳ mà về mặt đời sống tinh thần chịu sự chi phối của tôn giáo và thần học Vấn đề mối quan hệ giữa triết học và thần học, đức tin (niềm tin tôn giáo) và lý trí nổi lên như những vấn đề trọng tâm nhất trong các học thuyết triết học

Đồng thời, việc các nhà triết học Tây Âu trung cổ dùng triết học để diễn giải học thuyết Cơ đốc giáo là yếu tố quyết định trong công cuộc Cơ đốc hóa tư tưởng, là cơ sở lý luận cho đạo Cơ đốc

Trên thực tế, cuộc tranh luận về quan hệ giữa đức tin và lý trí (giữa tôn giáo và khoa học) đã diễn ra trong suốt chiều dài phát triển lịch sử triết học và vẫn tồn tại đến tận ngày nay

Có quan điểm cho rằng cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, vai trò của tôn giáo sẽ ngày càng suy giảm, thậm chí mất đi

Ngày nay, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, nhưng đức tin của con người cũng ngày càng gia tăng, vai trò của tôn giáo và khoa học đối với đời sống lại được đặt ra như một trong những vấn đề cấp bách nhất Việc nghiên cứu quan niệm của các nhà triết học Tây Âu trung cổ về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí sẽ giúp cho chúng ta có cái nhìn khách quan, phong phú hơn về vấn đề này

Trang 2

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn “Mối quan hệ giữa đức tin và lý trí

trong triết học Tây Âu trung cổ” làm đề tài nghiên cứu của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Mối quan hệ giữa đức tin và lý trí là một trong những vấn đề nổi bật, xuyên suốt quá trình phát triển của triết học Tây Âu trung cổ Ở nước ta, tuy chưa có một công trình chuyên biệt về vấn đề này, nhưng khi bàn đến triết học Tây Âu trung cổ, dù ít hay nhiều, các học giả đều đề cập đến mối quan hệ giữa đức tin và lý trí Có thể kể đến các công trình sau:

“Lịch sử triết học và các luận đề’’ (2004) của tác giả Sumel Enoch Stump; “Các trường phái triết học trên thế giới’’ (2005) của David E Cooper; “Các phạm trù văn hoá trung cổ” (1998) của A J A Gurevich; “Triết học thượng cổ Tây phương ảnh hưởng trên Kito giáo” (2010), tác giả Piô Phan Văn Tình; “Các nhà tư tưởng lớn của Kito giáo” (2010) của Hans Kung; “Lịch sử triết học, tập 1: Triết học Tây Âu trung cổ” (1991) của J Hirschberger (dịch giả: Nguyễn Quang Hưng, Nguyễn Chí Hiếu); “Đại cương lịch sử triết học phương

Tây’’ (2006), TS Đỗ Minh Hợp, TS Nguyễn Thanh và TS Nguyễn Anh Tuấn; “Nhập môn triết học phương Tây” (2005) của tác giả Lê Văn Thiện; “Triết học trung cổ Tây Âu” (2003)

của Doãn Chính và Đinh Ngọc Thạch…

Nhìn chung, trong các công trình nghiên cứu trên đây, chưa có một công trình chuyên biệt nào về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí trong triết học Tây Âu trung cổ mà vấn đề này chỉ được đề cập một cách gián tiếp và khái quát thông qua việc phân tích quan niệm của các nhà triết học nói chung Để có cái nhìn khách quan và đánh giá đúng giá trị của triết học Tây

Âu trung cổ, đặc biệt là quan niệm của các nhà triết học về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí,

chúng tôi thấy cần phải có những công trình nghiên cứu chuyên sâu hơn nữa về vấn đề này

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích: Làm rõ quan niệm của các nhà triết học Tây Âu trung cổ về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí; từ đó đưa ra nhận định về giá trị và hạn chế của quan niệm này

- Để đạt mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:

+ Phân tích điều kiện, tiền đề ra đời và thực chất mối quan hệ giữa đức tin và lý trí trong triết học Tây Âu trung cổ

+ Phân tích quan niệm của các nhà triết học tiêu biểu trong triết học Tây Âu trung cổ

về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí

+ Đánh giá quan niệm của các nhà triết học Tây Âu trung cổ về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Quan niệm của các nhà triết học Tây Âu trung cổ về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu quan niệm của các triết gia tiêu biểu của triết học trung cổ Tây Âu: Tertullien, Augustino, Anselm von Canterbury, Thomas Aquino

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo và về lịch sử triết học

- Phương pháp nghiên cứu: Trong luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp chủ yếu sau: Phân tích, tổng hợp, thống nhất lôgic và lịch sử, trừu tượng hoá, khái quát hoá

6 Ý nghĩa của luận văn

- Luận văn nghiên cứu chuyên sâu quan niệm của các nhà triết học tiêu biểu thời kỳ Tây Âu trung cổ về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí, từ đó góp phần đánh giá khách quan hơn về triết học trung cổ trong sự phát triển của lịch sử triết học phương Tây, cũng như vai trò của các nhà triết học, thần học thời kỳ này đối với sự hình thành quan điểm Kito giáo

- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên và học viên cao học ngành triết học, tôn giáo học

Trang 3

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 03 chương với 07 tiết

Chương 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN RA ĐỜI VÀ THỰC CHẤT VẤN ĐỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỨC TIN VÀ LÝ TRÍ TRONG TRIẾT HỌC TÂY ÂU TRUNG CỔ 1.1 Điều kiện, tiền đề ra đời quan niệm của các nhà triết học trung cổ Tây Âu về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí

1.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội cho sự ra đời quan niệm của các nhà triết học Tây

Âu trung cổ về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí

Thời kỳ trung cổ ở Tây Âu được đánh dấu bằng thời điểm sụp đổ của tây bộ đế quốc

La Mã năm 476 và kết thúc khi xuất hiện các hình thức ban đầu của chủ nghĩa tư bản (thế kỷ XV) Một loạt nhà nước phong kiến vốn là các tỉnh thành của đế quốc La Mã đã hình thành như Anh, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Đức… Quá trình hình thành chế độ phong kiến ở Tây Âu được biểu hiện ở ba mặt chủ yếu: sự lãnh địa hoá toàn bộ ruộng đất trong xã hội, quá trình nông nô hoá giai cấp nông dân và trang viên hoá nền kinh tế

Về đời sống xã hội, cùng với sự thống trị của quý tộc phong kiến, giới tăng lữ, Giáo hội cũng trở thành một lực lượng đầy quyền uy, nắm trong tay cả thần quyền, quyền lực về kinh tế và quyền lực về chính trị

Qua những đặc điểm kinh tế - xã hội, chúng ta có thể nhận ra rằng nhà thờ đạo Kito là một tổ chức tập quyền hùng mạnh, thống trị châu Âu cả về tinh thần và chính trị Trong xã hội đó, khoa học và triết học không thể tìm cho mình một con đường đi độc lập, việc nghiên cứu khoa học và triết học chủ yếu tập trung trong các tu viện và trường học của nhà thờ [80, tr 215] Do đó, tín điều nhà thờ là điểm xuất phát của mọi tư duy, và thế giới quan thời kỳ trung

cổ là thế giới quan thần học bao trùm lên tất cả các lĩnh vực khác Trong thời kỳ đó, mối quan

hệ giữa đức tin và lý trí trở thành vấn đề trọng tâm của các học thuyết triết học cũng như thần học

1.1.2 Tiền đề tư tưởng của quan niệm của các nhà triết học Tây Âu trung cổ về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí

1.1.2.1 Một số học thuyết triết học cổ đại

Triết học Tây Âu trung cổ kế thừa Plato trong học thuyết về ý niệm, học thuyết về linh hồn để xây dựng quan niệm về Thượng đế, quan niệm về hai thế giới Các nhà triết học Tây Âu trung cổ (đặc biệt là các nhà triết học kinh viện) tiếp thu, kế thừa tư tưởng Aristotle trong học thuyết về bốn nguyên nhân và học thuyết về Thượng đế, kết hợp những học thuyết đó với các quan điểm thần học Thiên Chúa giáo, vận dụng phù hợp với hoàn cảnh lịch sử đương thời Quan niệm về thần thánh và quan niệm về đạo đức của chủ nghĩa Khắc kỷ cũng có ảnh hưởng lớn đến quan niệm của các nhà triết học Tây Âu trung cổ Ngoài ra, Philon được coi là nhà triết học tiêu biểu cho sự dung hòa Kinh thánh Do Thái giáo và truyền thống Hy Lạp, La

Mã, những quan niệm của ông trở thành cơ sở đầu tiên của giáo phụ học trung cổ, đặc biệt là quan niệm về logos Cùng với Philon, Chủ nghĩa Plato mới là cầu nối đa thần giáo với nhất thần giáo, cổ đại với trung cổ Thực chất của chủ nghĩa Plato mới là chiết trung triết học, kết hợp chủ nghĩa duy tâm khách quan với chủ nghĩa Khắc kỷ, chủ nghĩa Pitago và phái tiêu dao Aristotle Trong đó, Plotin được coi là cây cầu nối quyết định giữa triết học cổ đại và Augustino, đồng thời những quan điểm của ông cũng nhận được nhiều sự quan tâm của các

1.1.2.2 Kinh Thánh

Kinh thánh (bao gồm Cựu ước và Tân ước) là một trong những tác phẩm lớn (với 73 cuốn sách lớn nhỏ), có giá trị to lớn về mọi mặt, đặc biệt là về triết học, thần học Nội dung xuyên suốt của Kinh thánh là câu chuyện về lịch sử cứu độ với tư tưởng trung tâm là “di huấn” (giao ước) của Thiên Chúa với loài người và việc thực hiện di huấn đó Kinh thánh đòi hỏi niềm tin tuyệt đối của

Trang 4

con người vào Thiên Chúa thông qua mặc khải, tức với sự ra đời của Kinh thánh, trọng tâm nhận thức đã được chuyển sang niềm tin, tạo ra bộ mặt mới khác với thời kỳ cổ đại

1.2 Thực chất vấn đề mối quan hệ giữa đức tin và lý trí trong triết học Tây Âu trung cổ

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1.1 Đức tin

đức tin là niềm tin vào một đấng siêu nhiên là có thật, hằng hữu và vĩnh cửu; nó không thể không có, không thể và không cần tìm thấy từ phép suy diễn logic hoặc từ các số liệu khoa học [27, tr 453]

1.2.1.2 Lý trí

Theo cuốn “Từ điển triết học”, lý trí được hiểu là phương thức suy lý đúng đắn, trình bày những tư tưởng của mình một cách nhất quán; còn lý tính là phương thức tìm ra những nguyên nhân và bản chất của các hiện tượng, xem xét chúng một cách toàn diện, vạch rõ sự

thống nhất của các mặt đối lập [73, tr 344]

1.2.2 Thực chất vấn đề mối quan hệ giữa đức tin và lý trí trong triết học Tây Âu trung cổ

Vấn đề mối quan hệ giữa đức tin và lý trí chính là vấn đề tạo dựng những cách lý giải khác nhau về nội dung Kinh Thánh và nội dung tác phẩm của các linh mục, có tính đến những thành tựu của triết học cổ đại

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Thời kỳ trung cổ ở Tây Âu, nhà thờ Cơ đốc giáo nắm trong tay cả thế quyền và thần quyền, chi phối mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Thực chất của mối quan hệ giữa đức tin và lý trí trong thời kỳ Tây Âu trung cổ là mối quan hệ giữa chú giải Kinh Thánh và triết học cổ đại Trong đó, những thế hệ đầu tiên của triết học Cơ đốc giáo chỉ chấp nhận một phần tư tưởng của triết học cổ đại những yếu tố phù hợp, có lợi cho công việc truyền bá giáo lý mới

Nhờ công lao của các nhà triết học trung cổ, Kinh Thánh trở thành nguồn chất liệu tiềm tàng của triết học, chứ không chỉ dừng lại ở những câu chuyện huyền bí và cách ngôn Liên minh triết học - thần học tạo ra bản sắc riêng của ý thức thời kỳ trung cổ Trong liên minh ấy, đức tin định hướng lý trí

Chương 2: QUAN NIỆM CỦA CÁC GIÁO PHỤ VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỨC TIN

VÀ LÝ TRÍ 2.1 Quan niệm của Tertullien về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí

Khẳng định vị thế của đức tin, Tertullien đưa ra luận điểm nổi tiếng: “Tôi tin, vì điều

đó là phi lý” Ông đã tách rời, thậm chí đối lập đức tin với khoa học về đức tin Theo Tertullien, chú giải Kinh thánh chỉ là trò thông thái rởm, chỉ có người dị giáo mới dùng bởi nội dung Kinh thánh là chân lý hiển nhiên, không cần bàn cãi, và nếu như có gì đó vượt quá tầm hiểu biết của con người thì điều đó chứng tỏ nhận thức của con người có giới hạn Quan niệm này chi phối các quan niệm của ông về đạo đức, về sự phân chia xã hội

2.2 Quan niệm của Augustino về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí

Augustino đã đưa ra luận điểm nền tảng: “tin để hiểu”, tức đối với con người, đức tin là điều kiện tiên quyết, nhưng đó chưa phải là điều kiện đủ của nhận thức Con người không chỉ tin

mà còn phải suy nghĩ về những gì mình tin Tin còn đòi hỏi sự hiểu biết Đối với Augustino, “Đức tin Công giáo dạy rằng chỉ duy có Thiên Chúa là bản tính phi nguyên lý, nghĩa là sự thiện tối cao và bất biến… tiếp đến, đức tin dạy rằng, từ sự thiện tối cao bất biến này, vũ trụ và mọi sự tốt lành đã được sáng tạo, vì chúng đã tạo dựng từ hư không và do chúng biến dịch… Như vậy hoàn toàn không một bản tính nào mà lại không phải hoặc là chính Thiên Chúa hoặc do Người sáng tạo, đến nỗi không một hữu thể nào, xét theo bản tính mà lại không tốt lành” [69, tr 43]

Trang 5

Theo đó thì đối với con người, đức tin là điều kiện tiên quyết, nhưng chưa phải là điều kiện đủ của nhận thức Con người không chỉ tin mà còn phải suy nghĩ về những gì mình tin Tin còn đòi hỏi sự hiểu biết Nhưng dù lý trí con người có hoàn hảo đến đâu vẫn không thể thâu tóm thế giới vô hình, phạm vi thể hiện của nó hẹp hơn đức tin Ông đã chia đối tượng của đức tin ra ba nhóm: những khách thể hiển nhiên không cần sự xét đoán của lý trí; những khách thể mà để tin cần phải có luận cứ chứng minh và những khách thể cần phải tin Đối với tôn giáo, cụ thể là Kito giáo, tin là cơ sở của nhận thức: “Tin vào Thiên Chúa cần đi trước nhận thức Tin giúp con người hiểu sâu sắc hơn Không tin không hiểu” [16, tr 80] Và theo Augustino, chân lý khoa học cũng là một kiểu đức tin đặc biệt, nhưng ở đó đức tin không kiểm soát lý trí mà lý trí kiểm soát đức tin Quan niệm về sự thống nhất giữa lý trí và đức tin cho phép Augustino sử dụng các phương pháp triết học để lý giải vấn đề chân lý, nhất là chân lý của đức tin

Xuất phát từ lập trường trên, quan niệm của Augustino về phân chia thế giới, về đạo đức học, học thuyết thần khải, tư tưởng về tồn tại, tư tưởng về “thuyết sáng tạo” đều thể hiện sự kết hợp giữa đức tin và lý trí, triết học cổ đại và Kinh thánh Nhưng trong sự kết hợp đó, Kinh thánh, đức tin luôn giữ vai trò chủ đạo

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Mặc dù trên cùng một lập trường nhưng quan điểm của các giáo phụ học, từ Tertullien đến Augustino có sự khác nhau Nếu Tertullien trực tiếp bày tỏ thái độ ác cảm đối

với lý trí thì đến Augustino, thái độ có vẻ ôn hòa hơn Song do lập trường thần học nên cuối

cùng sự ôn hoà của các nhà triết học - thần học lại nhằm mục đích khẳng định ưu thế tuyệt đối của đức tin, tôn giáo với đời sống xã hội

Chương 3: QUAN NIỆM CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC KINH VIỆN VỀ MỐI QUAN

HỆ GIỮA ĐỨC TIN VÀ LÝ TRÍ 3.1 Quan niệm của Anselm von Canterbury về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí

Với công thức “đức tin tìm kiếm lý trí”, Anselm đã nhìn thấy một sự hòa điệu căn bản giữa nhận thức do đức tin và nhận thức do lý trí Lý trí giúp đức tin thêm sáng tỏ, đức tin không những không hạ thấp lý trí mà còn hướng dẫn và cung cấp cho nó chất liệu để suy tư, giúp lý trí được mở rộng và kiện toàn hơn “tôi tin để được am hiểu”.- nội dung chủ yếu trong học thuyết của Anselm là quan niệm về Đấng Thần – Nhân Khi lập luận chỉ có Đấng Thần – Nhân mới có thể đền bù thỏa đáng cho tội lỗi của loài người, mục đích của Anselm là trình

bày Đức Kito như “một giáo lý có thể có cơ sở lý tính” [51, 159] Từ quan niệm về Đấng

Thần – Nhân, ông luận chứng cho sự tồn tại của Thượng đế và đưa ra quan niệm về chân lý Theo ông, Đấng vừa là Thiên Chúa, vừa là con người đã thiết lập các giao ước mới, xác nhận giao ước cũ nên sự tồn tại của Người cũng như các giao ước của Người là chân thật Những luận chứng của Anselm về sự tồn tại của Thượng đế có ảnh hưởng lớn tới thời kỳ kinh viện trung cổ cũng như thời cận đại

3.2 Quan niệm của Thomas Aquino về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí

Công lao lớn nhất của Thomas là ông đã tổng hợp những hiểu biết của triết học cổ đại và thần học Kito giáo thành một hệ thống tư tưởng có quy mô Giống với Augustino và thánh Anselm, Thomas Aquino cố gắng dung hòa niềm tin Kito giáo và triết học cổ đại, sự hiểu biết

về Thiên Chúa theo Thánh Kinh và theo các học thuyết Plato mới, Aristotle… Ông hiểu thần học như một sự suy tư có phương pháp về niềm tin Kito giáo, không chấp nhận bất cứ sự mâu thuẫn nào giữa đức tin và lý trí Theo Aquino, mặc dù giữa triết học và thần học, lý trí và đức tin có ranh giới: đối tượng của triết học là nghiên cứu chân lý của lý trí; đối tượng của thần học là nghiên cứu chân lý của đức tin, nhưng lại có điểm chung với nhau: cùng một khách thể

là Thượng đế, đó là khách thể cuối cùng hay nguồn gốc của mọi chân lý Thượng đế là chân

lý của mọi chân lý Do đó, Thomas Aquino khẳng định không thể có mâu thuẫn về mặt nguyên tắc giữa chân lý của triết học và chân lý của thần học, hay không có sự đối lập giữa chân lý đúng đắn và đức tin

Trang 6

Tuy nhiên, Thomas Aquino cũng phân biệt hai loại giáo lý đức tin: một loại lý trí có thể tiếp thu được, còn loại kia lý trí hoàn toàn không tiếp cận được và con người chỉ có thể dựa vào mặc khải Thiên Chúa mới tin được, không thể tìm ra bằng chứng cụ thể

Thomas Aquino ôn hoà trong giải quyết mối quan hệ giữa đức tin và lý trí nhưng sự

ôn hoà đó không phải nhằm đề cao lý trí mà nhằm đề cao đức tin Cả triết học và thần học đều bàn về Thiên Chúa, nhưng nhà triết học chỉ có thể suy luận rằng Thiên Chúa hiện hữu chứ không thể suy tư dựa trên các đối tượng của cảm giác để hiểu bản chất cốt yếu của Thiên Chúa, bởi nội dung giáo lý là do Thiên Chúa mặc khải và vượt quá khả năng tri thức của lý trí con người, không thể chứng minh hay bác bỏ bằng những lý do tất yếu Tương tự như các nhà triết học khác, sự ôn hòa này được thể hiện cụ thể trong quan niệm của Aquino về chứng minh sự tồn tại của Thượng đế, về thế giới, về con người, về đạo đức học

3.3 Đánh giá quan niệm của các nhà triết học Tây Âu trung cổ về mối quan hệ

giữa đức tin và lý trí

* Tích cực:

Quan niệm về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí của các nhà triết học trung cổ hàm chứa tinh thần nhân văn sâu sắc, bởi họ đề cao đức tin nhằm khắc phục chủ nghĩa duy lý thời

cổ đại, đề cao giá trị tinh thần của con người

Thông qua quan niệm về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí, quan niệm của các nhà triết học Tây Âu trung cổ mang những ý nghĩa đạo đức tích cực, thể hiện cụ thể trong quan niệm của các nhà triết học

Các nhà triết học Tây Âu trung cổ đề cao đức tin nhưng không hoàn toàn loại bỏ lý trí

Quan niệm của các nhà triết học Tây Âu trung cổ về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí

đã góp phần vào công cuộc Cơ đốc hóa tư tưởng, là cơ sở lý luận cho đạo Cơ Đốc

* Hạn chế:

Tuy triết học Tây Âu trung cổ có những cuộc tranh luận về mối quan hệ giữa đức tin

và lý trí nhưng những tranh luận đó không nhằm khám phá ra chân lý mới mà để minh họa cho những chân lý có sẵn

- Tuy có nhiều cách giải quyết khác nhau về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí, nhưng mục đích cuối cùng của các nhà triết học đều là bảo vệ đức tin, bảo vệ các tín điều của nhà thờ, triết học và các khoa học chỉ là “tôi tớ” của thần học

KẾT LUẬN

Đời sống văn hoá tinh thần các nước Tây Âu thời kỳ trung cổ, trong đó có triết học chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Kito giáo Mối quan hệ giữa đức tin và lý trí là vấn đề trọng tâm trong học thuyết của các nhà triết học Thực chất, mối quan hệ giữa đức tin và lý trí trong triết học Tây Âu trung cổ chính là cách giải quyết của các nhà triết học về mối quan hệ giữa Kinh Thánh và triết học cổ đại, là việc sử dụng các phương tiện của lý trí để xây dựng cách chứng minh cho chân lý sẽ dẫn tới đức tin Do đó, mối quan hệ này được biểu hiện trong hầu hết quan niệm của các nhà triết học về đạo đức, về con người, về cách chứng minh sự tồn tại của Thượng đế

Với quan niệm về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí, các nhà triết học Tây Âu trung

cổ đã có những đóng tích cực trong việc đề cao tinh thần nhân văn, đề cao giá trị đạo đức của con người, họ đề cao đức tin nhưng không hoàn toàn loại bỏ lý trí Quan niệm của các nhà triết học, thần học thời kỳ này chính là cơ sở cho quan niệm của các nhà thần học Kito giáo

Mặc dù chúng ta không thể phủ nhận tính chất duy tâm thần bí của triết học Tây Âu trung cổ, song khi xem xét một cách toàn diện, có thể thấy rằng triết học thời kỳ này không hoàn toàn là một màu xám, không hoàn toàn đứt gãy với nền triết học trước hay sau đó

Trang 7

References

1 Mortimer J Adler (2010), Triết học Hy Lạp và thần học Thiên Chúa giáo [Internet]

18/10/2010 Lấy từ: URL: http://giacngo.vn/triethoc/

2 Alechxand rơmen (1998), Lịch sử tôn giáo - quyển 1, Matxcơva

3 Thomas Aquino (2001 - 2003), Tổng luận thần học, Tòa tổng giám mục thành phố

Hồ Chí Minh

4 St Augustin (2007), Tự thuật, Nxb Tôn giáo

5 Ph Ănghen (1993), Chiến tranh nông dân ở Đức// C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, tập 7,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

6 Ph Ănghen (1995), Bàn về lịch sử đạo Kito sơ kỳ// C Mác và Ph Ăngghen, Toàn

tập, tập 22, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

7 Bách khoa toàn thư mở Wikipedia (2011), Kinh Thánh [Internet] 19/5/1011 Lấy

từ: URL: http://vi.wikipedia.org/wiki/

8 Forrest E Baird (2006), Tuyển tập danh tác triết học từ Plato đến Derrida, Nxb

Văn hoá thông tin

9 Trịnh Đình Bảy (2000), Niềm tin với tư cách một khái niệm triết học, tạp chí Triết

học, tập 114 (số 4), tr 44-48

10 Trịnh Đình Bảy (2003), Niềm tin và xây dựng niềm tin khoa học, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội

11 Alan C Bowen (2004), Khoa học và triết học Hy Lạp cổ đại, Nxb Văn hoá thông

tin, dịch giả Lê Sơn

12 John Bowker (2003), Các tôn giáo trên thế giới, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội

13 Crame Brinton, Robert Lee Wolff, John B Christopher (2004), Văn minh phương

Tây, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội

14 Edward McNall Burns (2008), Văn minh phương Tây – Lịch sử và văn hóa, Nxb

Từ điển bách khoa

15 Các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (2002), Giáo trình triết

học Mác - Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

16 Doãn Chính, Đinh Ngọc Thạch (2003), Triết học trung cổ Tây Âu, Nxb Thanh

niên, Hà Nội

17 Franciss Collins (2007), Ngôn ngữ của Chúa, những bằng chứng khoa học về đức

tin, Nxb Lao động, Hà Nội

18 David E Cooper (2005), Các trường phái triết học trên thế giới, Nxb Văn hóa

thông tin, Hà Nội

19 Đỗ Kiên Cường (2001), Hiện tượng tâm linh, Nxb Trẻ, Hà Nội

20 Đỗ Kiên Cường (2003), Lý giải các hiện tượng dị thường, khoa học và tâm linh,

Nxb Trẻ, Hà Nội

21 Vũ Dũng (2001), Một số đặc điểm của niềm tin tôn giáo, tạp chí Nghiên cứu tôn

giáo, tập 7 (số 1), tr 28-30

22 Jean - Baptiste Duroselle và Jean - Marie Mayeur (2004), Lịch sử đạo Thiên

Chúa, Nxb Thế giới, Hà Nội

23 Phạm Đức Dương (2003), Thế giới tâm linh, tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, tập 21

(số 3), tr 15-20

24 Lưu Phóng Đồng (2001), Giáo trình hướng tới thế kỷ 21, triết học phương Tây

hiện đại, Nxb Lý luận chính trị, thành phố Hồ Chí Minh

25 Domique Folscheid (2003), Các triết thuyết lớn, Nxb Thế giới, Hà Nội, dịch giả

Huyền Giang

26 A J A Gurevich (1998), Các phạm trù văn hóa trung cổ, Nxb Văn hóa thông tin,

Hà Nội

27 Mai Thanh Hải (2002), Từ điển tôn giáo, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội

Trang 8

28 Nguyễn Thị Thanh Hải (2006), Một số nội dung cơ bản trong triết học Thomas

Aquino, luận văn thạc sỹ khoa học Triết học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn

(Đại học Quốc gia Hà Nội), Hà Nội

29 Geneviere D Haucourt (2002), Đời sống thời trung cổ, Nxb Thế giới, Hà Nội,

dịch giả Dương Linh

30 J Hischberger (1991), Geschichte der Philosophie Band 1 (Lịch sử triết học, tập

1 : Triết học Tây Âu trung cổ), bản tiếng Đức, Nxb Freiburg, dịch giả: Nguyễn Quang Hưng,

Nguyễn Chí Hiếu

31 Ted Honderich (2002), Hành trình cùng triết học, Nxb Văn hoá thông tin, dịch giả

Lưu Văn Hy

32 Đỗ Minh Hợp (2006), Tôn giáo học nhập môn, Nxb Tôn giáo, Hà Nội

33 Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thanh, Lê Hải Thanh (2005), Tôn giáo,

lý luận xưa và nay, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh

34 Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Thanh, Nguyễn Anh Tuấn (2006), Đại cương lịch sử triết

học phương Tây, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh

35 Nguyễn Quang Hưng, Nguyễn Thị Bạch Yến, Quan hệ triết học - tôn giáo: Từ Tây

Âu cận đại tới Việt Nam hiện nay, tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, tập 41 (số 5), tr 21-30

36 Kinh Thánh Tân ước và Cựu ước – Lời Chúa cho mọi người (2009), Nhóm phiên dịch các giờ kinh phụng vụ, Nxb Tôn giáo, Hà Nội

37 Hans Kung (2010), Các nhà tư tưởng lớn của Kito giáo, Nxb Tri thức

38 Jacques Lacourt (1990), Tuổi trẻ, đức tin và cuộc sống, Nxb Lion de Juda

39 Phạm Minh Lăng (2003), Những chủ đề cơ bản của triết học phương Tây, Nxb

Văn hóa thông tin, Hà Nội

40 V I Lênin (1979), Sự phá sản của Quốc tế II// V I Lênin, Toàn tập, tập 26, Nxb

Tiến bộ, Matxcơva

41 C Mác – Ph Ănghen (1995), Hệ tư tưởng Đức// C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập,

tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

42 C Mác (1995), Luận cương về Phoiơbắc// C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, tập 3,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

43 C Mác (1995), Phê phán cương lĩnh Gôta// C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, tập

19, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

44 Hà Thúc Minh (2003), Thế giới bên này và thế giới bên kia, tạp chí Nghiên cứu

tôn giáo, tập 21 (số 3), tr 8-14

45 E E Nexmeyanov (2002), Triết học hỏi và đáp, Nxb Đà Nẵng

46 Văn Sinh Nguyên (2004), Thời trung cổ huyền bí, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội

47 Lê Tôn Nghiêm (2000), Lịch sử triết học phương Tây - tập 1, Nxb Thành phố Hồ

Chí Minh

48 Lê Tôn Nghiêm (2000), Lịch sử triết học phương Tây - tập 2, Nxb Thành phố Hồ

Chí Minh

49 Lê Tôn Nghiêm (2000), Lịch sử triết học phương Tây - tập 3, Nxb Thành phố Hồ

Chí Minh

50 Vũ Dương Ninh (2006), Lịch sử văn minh thế giới, Nxb Giáo dục, Hà Nội

51 Nguyễn Công Oánh (2008), Tư tưởng nhân học xã hội trong Kinh Thánh, Luận

văn thạc sĩ Tôn giáo học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), Hà Nội

52 Jesus der Offenbarer, Đức Giêsu - Đấng mặc khải qua các tác giả, dẫn nhập, tuyển chọn và giới thiệu trong bộ Texte zur Fundamentaltheologie

53 Nguyễn Gia Phú, Nguyễn Văn Ánh, Đỗ Đình Hãng, Trần Văn La (2002), Lịch sử

thế giới trung đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội

Trang 9

54 Don Piper, Cecil Murphay (2007), Khi đức tin chiến thắng, Nxb Văn hóa thông

tin, Hà Nội

55 Hoàng Thị Mỹ Quỳnh (2010), Quan niệm của Augustino về con người và ảnh hưởng

của nó đến triết học hiện sinh của Karl Jaspers, luận văn thạc sỹ khoa học Triết học, trường Đại

học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), Hà Nội

56 Joseph Ratzinger, Benedicto XVI (2009), Dẫn nhập vào Kito giáo, Nxb Từ điển

bách khoa, biên dịch: Phaolo Nguyễn Luật Khoa

57 John Renard (2005), Tri thức tôn giáo qua giải đáp các vấn nạn, Nxb Tôn giáo,

dịch giả: Lưu Văn Hy và nhóm Trí tri

58 Les Hewitt Charlie Self (2009), Sự mầu nhiệm của niềm tin, Nxb Văn hoá thông

tin

59 Lê Thanh Sinh (2001), Triết học Tây Âu trước Mác - những vấn đề cơ bản, Nxb

Thành phố Hồ Chí Minh

60 Samuel Enoch Stumpf (2004), Lịch sử triết học và các luận đề, Nxb Lao động, Hà

Nội

61 Lưu Vô Tâm (2000), Đôi điều cảm nhận về đức tin, tạp chí Nghiên cứu Phật học,

số 1/2000, tr 19-21

62 Văn Đức Thanh (2005), Vài ý kiến về vấn đề tôn giáo trong đời sống xã hội nước ta

hiện nay, tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, tập 31 (số 1), tr 3-7

63 Trần Đức Thảo (1995), Lịch sử tư tưởng trước Mác, Nxb Khoa học xã hội, Hà

Nội

64 Lê Văn Thiện (2005), Nhập môn triết học Tây Phương, Nxb Tôn giáo, Hà Nội

65 Đỗ Đức Thịnh (2005), Lịch sử châu Âu, Nxb Thế giới

66 Mel Thomson (2004), Triết học tôn giáo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

67 Nguyễn Quang Thông, Tống Văn Chung (1990), Lịch sử triết học Hy La cổ đại -

tập 1, Tủ sách trường Đại học Tổng hợp Hà Nội

68 Nguyễn Quang Thông, Tống Văn Chung (1990), Lịch sử triết học Hy La cổ đại -

tập 2, Tủ sách trường Đại học Tổng hợp Hà Nội

69 Phan Văn Tình (2010), Triết học thượng cổ Tây phương ảnh hưởng trên Kito

giáo, Nxb Phương đông

70 Đặng Hữu Toàn, Trần Nguyên Việt, Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Kim Lai (2005), Các

nền văn hoá thế giới, tập 2, Nxb Từ điển bách khoa

71 Tủ sách trường Đại học sư phạm Hà Nội (1962), Lịch sử thế giới trung cổ (quyển

2), Nxb Giáo dục, Hà Nội

72 Lê Hữu Tuấn (2005), Những vấn đề về tâm thức, tạp chí Nghiên cứu Phật học, tập

75 (số 1), tr 27-31

73 Từ điển triết học (1986), Nxb Tiến bộ, Matxcơva

74 Colin Urquhart (2009), Sức mạnh tâm linh làm biến đổi thực tại, Nxb Tôn giáo

75 Nguyễn Ước (2005), Giáo lý mới, thời đại mới: Đức tin Công giáo, Nxb Tôn giáo,

Hà Nội

76 Đặng Nghiêm Vạn (2003), Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

77 Phùng Đạt Văn (2003), Nhắc lại chuyện cũ: Tín ngưỡng và lý tính, tạp chí Nghiên

cứu tôn giáo, tập 23 (số 5), tr 9-19

78 Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô cũ (1959), Triết học của xã hội phong kiến, Nxb

Sự thật, Hà Nội

79 Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (1998), Lịch sử phép biện chứng, tập 1: Phép biện

chứng cổ đại, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

80 Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (1998), Lịch sử phép biện chứng, tập 2: Phép biện

chứng thế kỷ XIV - XVIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

Trang 10

81 Nguyễn Hữu Vui (2002), Lịch sử triết học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội

82 Trương Như Vương (2005), Tìm hiểu quan niệm đạo đức trong Kinh Thánh, Nxb

Tôn giáo, Hà Nội

83 Hoàng Tâm Xuyên (2003), Mười tôn giáo lớn trên thế giới, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội

84 Nguyễn Như Ý (1998), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội

Ngày đăng: 17/01/2014, 14:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w