Khái quát các nét cơ bản nhất về vị trí địa lý, điều kiện dân cư, xã hội, cũng như lịch sử làng nghề, lịch sử nghề tranh và một số nét văn hóa dân gian, văn hóa vật chất và văn hóa tinh
Trang 11
Làng tranh dân gian Đông Hồ, xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh: hiện trạng
và hướng phát triển Nguyễn Thị Hạnh
Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Việt Nam học; Mã số: 60 31 60
Người hướng dẫn: PGS TS Nguyễn Chí Bền
Năm bảo vệ: 2012
Abstract Khái quát các nét cơ bản nhất về vị trí địa lý, điều kiện dân cư, xã hội, cũng
như lịch sử làng nghề, lịch sử nghề tranh và một số nét văn hóa dân gian, văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của làng nghề Đông Hồ Nghiên cứu một số đặc điểm về nội dung, nghệ thuật và quy trình làm tranh dân gian Đông Hồ ở Việt Nam Phân tích thực trạng biến đổi và và đưa ra một số khuyến nghị, giải pháp nhằm khắc phục tình trạng mai một của nghề làm tranh dân gian ở Đông Hồ hiện nay
Keywords Văn hóa dân gian; Tranh Đồng Hồ; Việt Nam học; Văn hóa Việt Nam Content
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tranh dân gian - di văn hóa quý giá được hình thành qua nhiều thế hệ, nó không chỉ đáp ứng nhu cầu về tinh thần, tâm linh và cảm thụ mỹ thuật của nhân dân lao động mà còn chứa đựng những nội dung nhằm giáo dục đạo đức, nhân cách trong
cuộc sống đời thường Tranh dân gian ở miền Bắc có ba dòng chính: tranh điệp Đông
Hồ (Bắc Ninh), tranh thờ Hàng Trống (Hà Nội), tranh đỏ Kim Hoàng (Hà Tây cũ),
từ bao thế kỷ qua đã góp vào dòng chảy chung của mỹ thuật dân gian Việt Nam, tạo
nên một vẻ đẹp không thể thiếu được cho lịch sử văn hóa dân tộc
Làng Đông Hồ từ lâu đã nổi tiếng vùng Kinh Bắc bởi những sắc thái văn hóa rất riêng và độc đáo như thế Đồng thời, Đông Hồ còn được biết đến bởi đó là một trung tâm sản xuất tranh dân gian lớn, là làng nghệ thuật dân gian lâu đời Tranh khắc
gỗ Đông Hồ là loại hình nghệ thuật tranh dân gian, xuất hiện khá sớm, theo nguồn cơ
sở đáng tin cậy thì ít nhất cũng hơn năm thế kỷ tồn tại Tranh Đông Hồ đã tồn tại thực sự trong đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân ta, là món ăn tinh thần không
thể thiếu được của người nông dân Việt Nam qua nhiều thế kỷ
Trong quá trình phát triển của mỹ thuật hiện đại Việt Nam, tranh Đông Hồ chiếm một vị trí đáng kể, là nguồn cảm hứng sáng tác của nhiều họa sỹ và nhà điêu khắc Mặc dù Đông Hồ nổi tiếng về sản xuất tranh dân gian và làm hàng mã, song từ trước đến nay các nhà nghiên cứu thường quan tâm đến nghề làm tranh, ít quan tâm
Trang 22
đến nghề làm mã, hoặc chỉ quan tâm một cách sơ lược, không đặt nó trong bối cảnh chung hay tương quan với nghề tranh Hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này Hiện nay, nghề làm tranh ở Đông Hồ đang có nguy cơ mai một
Việc khôi phục và duy trì một làng nghề cổ truyền là một vấn đề rất quan trọng, rất cấp thiết, vừa có ý nghĩa bảo tồn các giá trị truyền thống, vừa là mặt hàng xuất khẩu quan trọng Hơn nữa, từ trước đến nay tuy đã có nhiều bài viết về tranh dân gian Đông Hồ, song chưa có nhiều công trình nghiên cứu trên diện rộng và sâu về làng Đông Hồ, nhất là từ góc độ văn hóa dân gian với ý nghĩa là một làng nghề truyền thống với những biến đổi gần đây của một dòng tranh dân gian Từ những nội
dung khách quan đó, chúng tôi chọn đề tài: Làng tranh dân gian Đông Hồ, xã Song
Hồ, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh: Hiện trạng và hướng phát triển làm luận văn
tốt nghiệp cao học của mình
2 Mục đích, phạm vi nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu các nhân tố tự nhiên và xã hội trong quá trình hình thành và phát triển làng nghề tranh dân gian Đông Hồ Tìm hiểu những đóng góp của nghề làm tranh trong việc hình thành sắc thái diện mạo văn hóa làng và giá trị văn hóa nghệ thuật của nó trong nền văn hóa hiện đại Việt Nam Đồng thời, nghiên cứu để tìm ra nguồn gốc lịch sử làng cũng như các nét đặc trưng trong sinh hoạt, phong tục và hội hè, lễ thức ở Đông Hồ
Luận văn chúng tôi cũng đi sâu, tập trung làm rõ thực trạng làng nghề làm tranh hiện nay trước thay đổi của hoàn cảnh
Chúng tôi còn tập trung vào một số định hướng hay những khuyến nghị để bảo tồn và phát triển làng Đông Hồ trong giai đoạn hiện nay
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Dưới góc độ văn hóa và nghệ thuật, làng tranh Đông Hồ sẽ được nghiên cứu và khảo sát từ nhiều bình diện khác nhau
Phần làng: Chúng tôi tập trung tìm hiểu về vị trí địa lý, địa hình, lịch sử, dân
cư, truyền thống văn hóa, di tích lịch sử, hội hè, phong tục tập quán,…
Phần nghề: Tìm hiểu quá trình phát triển của nghề làm tranh qua các thể loại, đề tài, quy trình kỹ thuật,…Trong đó, luận văn đặc biệt nhấn mạnh về nghề làm tranh,
về lịch sử ra đời cũng như giá trị nghệ thuật và nội dung của tranh dân gian Đông Hồ Bên cạnh đó, chúng tôi khảo sát hiện trạng biến đổi của làng tranh và nghề làm tranh dân gian trong giai đoạn hiện nay Từ đó, chúng tôi bước đầu đưa ra một số khuyến nghị, giải pháp để bảo tồn và phát triển nghề làm tranh dân gian trong tương lai không xa, đến năm 2020
3 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Làng nghề là một đề tài khoa học khá hấp dẫn về mặt lý thuyết và thực tiễn nên
từ lâu đã được đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau Ở nước ta đã và đang có rất
nhiều hoạt động nghiên cứu cũng như có nhiều dự án khoa học, ấn phẩm về các làng nghề thủ công nghiệp của các cá nhân, các nhà khoa học…
Trang 33
Trước hết phải kể đến các cuốn sử thời phong kiến, như Đại Việt sử ký toàn thư của Sử quán triều Lê (15), Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn [42], hay các sách địa chí (quốc chí, tỉnh chí, xã chí), như Dư địa chí của Nguyễn Trãi [56], Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn [43], Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú [11]; các cuốn tỉnh chí, xã
chí… đều nói đến các làng nghề và các sản phẩm nghề ở từng vùng quê trong cả nước Đây là nguồn sử liệu quan trọng khi tìm hiểu, nghiên cứu về nghề và làng nghề truyền thống nói chung
Thứ hai là các công trình nghiên cứu về lịch sử các ngành nghề, về các làng nghề và vùng nghề khác nhau, như ba tập Nghề cổ truyền do Sở Khoa học công nghệ
và Môi trường và Sở VHTT Hải Hưng biên soạn và xuất bản [47], Quê gốm Bát Tràng của Đỗ Thị Hảo [22], Nghề thủ công truyền thống Việt Nam và các vị tổ nghề; Làng nghề, phố nghề Thăng Long- Hà Nội của hai tác giả Trần Quốc Vượng, Đỗ Thị Hảo (2000), Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam của Bùi Văn Vượng [67],…
Tác giả Chu Quang Trứ với cuốn sách Tìm hiểu các nghề thủ công điêu khắc
cổ truyền [60] Tác giả tập trung chú ý giới thiệu các nghề thủ công nghệ thuật hay
còn gọi là thủ công mỹ nghệ, với vấn đề đặt ra là giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hoá trong các nghề truyền thống đó Tác giả Bùi Xuân Đính (chủ biên), Viện Khoa học
xã hội Việt Nam, Viện Dân tộc học, với cuốn sách Làng nghề thủ công huyện Thanh Oai (Hà Nội)- truyền thống và biến đổi [16] Gần đây có các công trình sách và bài viết trên các báo, tạp chí về làng nghề như: 36 làng nghề Thăng Long - Hà Nội của Lam Khê, Khánh Minh [30]; Nghệ nhân làng nghề Thăng Long Hà Nội của Nguyễn Thọ Sơn, [48]; 36 nghệ nhân Hà [62]; Các ngành nghề Việt Nam của Vũ Ngọc Khánh, 2010 [29]; Nghề chổi đót ở Phổ Phong của Tạ Doãn Cường, [13]…
Đặc biệt đã có rất nhiều bài viết trên các trang báo điện tử hàng ngày luôn cập nhật về hiện trạng làng nghề truyền thống, về những đổi thay hay xu hướng vận động, phát triển của làng nghề nói chung và làng tranh Đông Hồ nói riêng như: Bài
“Tranh xuân, mời đến Đông Hồ” trên trang điện tử Vietbao.vn, đăng ngày 11/2/2005 Bài “Chơi tranh và sống bằng tranh” cũng trên trang điện tử Vietbao.vn – Mạng thông tin Việt Nam ra thế giới- đăng ngày 21/5/2007 Bài “Dung dị làng tranh Đông Hồ” đăng trên báo điện tử Thanh Niên online- diễn đàn của Hội liên hiệp Thanh niên
Việt Nam, ngày 17/2/2010, chuyên mục “Văn hóa- nghệ thuật…
Thời Pháp thuộc, tranh dân gian đã được các học giả nước ngoài quan tâm, tìm hiểu, nghiên cứu, đặc biệt là các học giả người Pháp, Đức, Nga Trong số đó, phải kể đến công lao đóng góp của học giả người Pháp là Maurice Durand Sau nhiều năm nghiên cứu, ông tập hợp tư liệu để in thành cuốn sách lấy tiêu đề là
Tranh dân gian Việt Nam (Imagerie populaire Vietnamienne, Paris, 1960), sách
dầy gần 500 trang Một cuốn sách đặc biệt quan trọng khác của tác giả Henri Oger
(tái bản 2009)- Technique du people annamite- Mechanics and Crafts of the Annamites - Kỹ thuật của người An Nam, tập I, II, III, [19]
Từ khi hòa bình lập lại (1954) đến nay, tranh dân gian Việt Nam được giới thiệu rộng rãi ở trong và ngoài nước Hơn 40 năm qua, đã có rất nhiều bài viết, các
Trang 44
cuốn sách về tranh dân gian nói chung, tranh dân gian làng Đông Hồ nói riêng Nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Vân có công sưu tầm một hệ thống thư mục các sách, báo, tạp
chí nói về tranh dân gian, với số lượng khá lớn Cuốn Tranh dân gian Việt Nam của
hai tác giả Nguyễn Bá Vân và Chu Quang Trứ xuất bản năm 1984 [63], là cuốn sách đầu tiên mang tính hệ thống về đề tài này do người Việt Nam biên soạn, sách dầy 120 trang Nội dung các công trình, bài viết đã công bố đề cập nhiều vấn đề khác nhau như: nguồn gốc, đặc điểm, ý nghĩa, các thể loại, tinh thần dân tộc,… Tuy nhiên, hầu như chưa có cuốn sách nào khảo sát chuyên sâu về Đông Hồ từ góc nhìn văn hóa dân gian với tư cách là một làng nghề truyền thống đang trên đà biến đổi
Như vậy, thực tế nghiên cứu về làng xã, làng nghề nói chung và làng nghề tranh dân gian Đông Hồ nói riêng rất đa dạng, phong phú về đề tài, thể loại Điểm qua một cách khái quát những công trình đi trước có thể giúp cho luận văn có được tính hệ thống và sự kế tục lịch sử nghiên cứu Tiếp nối truyền thống quý báu đó, luận văn sẽ vừa kế thừa những kết quả nghiên cứu trước đó làm nguồn tư liệu quý, đồng thời vừa
có đóng góp mới cho tư liệu nghiên cứu nói chung
4 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng nhiều phương pháp trong nghiên cứu khoa học xã hội bao gồm các phương pháp cụ thể và phương pháp liên ngành
Các phương pháp khoa học cụ thể được sử dụng trong luận văn bao gồm:
Phương pháp tiếp cận thu thập thông tin; Phương pháp nghiên cứu tài liệu Tác giả
đi vào phân tích tài liệu dựa trên các kết quả, công trình nghiên cứu của đồng nghiệp đi trước, như các tài liệu từ nguồn tạp chí và báo cáo khoa học trong ngành, tác phẩm khoa học, tạp chí và báo cáo khoa học ngoài ngành, tài liệu lưu trữ, thông
tin đại chúng v v; Phương pháp thực nghiệm: quan sát, điều tra tại cộng đồng làng
xóm của Đông Hồ
Phương pháp liên ngành được sử dụng đó lµ sự kết hợp giữa phương pháp địa văn hóa và phương pháp vùng văn hóa Kết quả thu được từ những phương pháp độc lập như điền dã, khảo sát thực địa, phỏng vấn sâu,… Chúng tôi sử dụng tư duy lô gic
và phương pháp tổng hợp để nghiên cứu, mong muốn làm rõ làng Đông Hồ là một đối tượng nghiên cứu thuộc vùng văn hóa cụ thể, vùng Kinh Bắc, có lịch sử truyền thống lâu đời, trải qua bao biến đổi thăng trầm, đến nay, làng Đông Hồ vẫn đứng vững và phát triển trong xu thế chung của thời đại
5 Đóng góp của đề tài
Bước đầu, luận văn trình bày về lịch sử ra đời, phát triển của dòng tranh dân gian Đông Hồ trong bối cảnh lịch sử của tranh dân gian Việt Nam, góp tiếng nói riêng trong nghiên cứu tranh dân gian nước ta Luận văn còn nêu rõ thực trạng làng nghề, nghề làm tranh và đưa ra một số khuyến nghị, giải pháp nhằm khắc phục tình trạng mai một của nghề làm tranh dân gian ở Đông Hồ hiện nay
6 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, luận văn gồm có 3 chương:
Trang 55
Chương 1: Cơ sở lý luận và khái quát làng tranh dân gian Đông Hồ
Chương 1 của luận văn nêu lên một số khái niệm cơ bản sử dụng trong luận văn
và điểm qua các nét cơ bản nhất về vị trí địa lý, điều kiện dân cư, xã hội, cũng như lịch sử làng nghề, lịch sử nghề tranh và một số nét văn hóa dân gian, văn hóa vật chất
và văn hóa tinh thần của làng nghề Đông Hồ
Chương 2: Tranh dân gian Đông Hồ
Nội dung chính của chương này nêu khái quát một số đặc điểm về nội dung, nghệ thuật và quy trình làm tranh dân gian Đông Hồ
Chương 3: Thực trạng biến đổi và định hướng phát triển làng tranh dân gian Đông Hồ đến năm 2020
Chương 3 gồm hai phần, phần 1 nêu lên một số thực trạng của nghề làm tranh và làng nghề Đông Hồ; phần 2, luận văn đi sâu phân tích một số giải pháp, kiến nghị để bảo tồn và phát triển làng tranh dân gian Đông Hồ
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT LÀNG TRANH DÂN GIAN
ĐÔNG HỒ 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm “làng nghề”
Nhóm tác giả Mai Thế Hởn, GS TS Hoàng Ngọc Hòa, PGS TS Vũ Văn Phúc
đã tổng hợp ba quan niệm về làng nghề [26; tr 11,12]:
Quan niệm thứ nhất: Làng nghề là nơi mà hầu hết mọi người trong làng đều
hoạt động cho nghề ấy và lấy đó làm nghề sống chủ yếu
Quan niệm thứ hai: Làng nghề là làng cổ truyền làm nghề thủ công, ở đấy
không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công Người thợ thủ công, nhiều khi cũng là người làm nghề nông Nhưng do yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng thủ công truyền thống ngay tại làng nghề hay phố nghề ở nơi khác
Quan niệm thứ ba: Làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, nơi quy tụ các
nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên tâm làm nghề truyền thống lâu đời, có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, và có cùng tổ nghề
Từ ba quan niệm trên chúng ta có thể thấy khái niệm về làng nghề đều liên quan đến các nghề thủ công cụ thể Nhóm tác giả từ đó đã tóm lược bằng một định
nghĩa, mà chúng tôi cũng đồng tình với quan điểm này: Làng nghề là một cụm dân
cư sinh sống trong một thôn (làng) có một hay một số nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập Thu nhập từ các nghề đó chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng [26; tr 13]
1.1.2 Khái niệm “nghề thủ công truyền thống”
Thông tư số 116/2006/TT-BNN, ngày 18/12/2006, mục giải thích từ ngữ có
ghi rõ: Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền [52; theo website: www.vca.org.vn] Chúng tôi đồng tình với quan điểm về nghề truyền thống này
Trang 66
1.1.3 Khái niệm “làng nghề truyền thống”
Nhóm tác giả Mai Thế Hởn, GS TS Hoàng Ngọc Hòa, PGS TS Vũ Văn Phúc
đã nêu ra định nghĩa: “Làng nghề truyền thống là những thôn làng có một hay nhiều nghề thủ công truyền thống được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh và đem lại nguồn thu nhập chiếm phần chủ yếu trong năm Những nghề thủ công đó được truyền từ đời này qua đời khác, thường là nhiều thế hệ Cùng với thử thách của thời gian, các làng nghề thủ công này đã trở thành nghề nổi trội, một nghề cổ truyền, tinh xảo, với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp đã chuyên tâm sản xuất, có quy trình công nghệ nhất định và sống chủ yếu bằng nghề
đó Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ và đã trở thành hàng hóa trên thị trường” [26; tr
15] Chúng tôi đồng tình với định nghĩa này về làng nghề truyền thống
1.1.4 Khái niệm “tranh dân gian”
Có nhiều cách hiểu khác nhau về tranh dân gian Việt Nam Theo định nghĩa của
vi.wikipedia.org: Tranh dân gian Việt Nam là một loại hình mỹ thuật cổ truyền của
dân gian Việt Nam… Tranh ra đời để đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của người dân, gắn bó chặt chẽ với đời sống thường nhật của người dân nơi thôn dã Tranh dân gian cũng phản ánh những gì gần gũi, thân thiết với người dân hay cả những điều
thiêng liêng cao quý trong các tranh thờ Có cách hiểu khác khá đơn giản: tranh dân gian là loại tranh được lưu hành rộng rãi trong dân gian…[blogspot.com] Một định nghĩa khác của ông Philippe Le Failler, “Tranh dân gian Việt Nam được hiểu là những tranh khắc làm từ những bản khắc gỗ được trang trí và đôi khi được tô điểm thêm những câu chú giải viết tay để tạo ra nhiều tranh có đề tài khác nhau…” [41, tr
28, 29]
1.1.5 Khái niệm “du lịch làng nghề”
Du lịch làng nghề trong những năm gần đây đang được xem là một loại hình du lịch “homestay” được nhiều nước trên thế giới và một số điểm trong nước áp dụng rất hiệu quả Ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó vụ trưởng, Vụ Lữ hành, Tổng cục Du lịch
cho rằng: Làng nghề truyền thống được xem như một dạng tài nguyên du lịch nhân văn có ý nghĩa đặc biêt quan trọng, bởi các sản phẩm của nó luôn bao hàm cả giá trị vật thể và phi vật thể [theo hiephoilangnghevietnam.apps.vn] Như vậy, du lịch làng
nghề là một dạng tài nguyên du lịch nhân văn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi các sản phẩm của nó luôn bao hàm cả giá trị vật thể và phi vật thể Ở đó, du khách không chỉ đến xem, tham quan, mua sắm, mà còn được trực tiếp tham gia các công đoạn sản xuất thủ công và tự trải nghiệm, khám phá
1.2 Khái quát làng Đông Hồ
1.2.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Làng Đông Hồ cách Hà Nội khoảng 35km Theo đường Quốc lộ 5 khoảng 14km rẽ trái, đi qua các phố Sủi, phố Keo, phố Dâu, đến ngã tư Đông Côi rẽ trái, đi thẳng, khoảng 3km sẽ tới phố Hồ (thị trấn Hồ), tiếp tục rẽ trái khoảng 1km là tới làng Đông Hồ
Trang 7Hà Nội
Xét về vị trí địa lý- lịch sử, Đông Hồ nằm trong một quần thể các di tích lịch
sử nổi tiếng vùng Kinh Bắc Phía Bắc làng là sông Thiên Đức, tiếp giáp với xã Đại Đồng Thành có đền thờ Kinh Dương Vương, cách đó khoảng 1km là chùa Bút Tháp Phía Tây Nam có thành Luy Lâu và chùa Dâu, là trung tâm Phật giáo lớn thời Bắc thuộc Phía Nam giáp đồng ruộng, theo đường chim bay hơn 3km nhìn thẳng sang là làng Tam Á, có lăng Sĩ Nhiếp, phía Đông có núi Thiên Thai Như vậy, Đông Hồ nằm
ở trong quần thể di tích lịch sử văn hóa có quy mô to lớn và phong phú vào bậc nhất nước ta trong thiên niên kỷ thứ nhất sau Công nguyên Đó là khu di tích lịch sử- văn hóa Luy Lâu Luy Lâu đã từng là trung tâm kinh tế, chính trị, quân sự và thương mại của quận Giao Chỉ và Châu Giang dưới thời Bắc thuộc Luy Lâu cũng là một trong
ba trung tâm văn hóa, trung tâm Phật giáo lớn ở phương Đông trong thời đế chế Hán
1.2.2 Cơ cấu dân cư
Theo địa giới hành chính hiện nay, xã Song Hồ gồm 4 thôn: Đông Khê, Đạo
Tú, Tú Tháp và Lạc Hoài Thôn Đạo Tú còn gọi là làng Đạo Tú, thôn Tú Tháp gọi
là làng Tháp và thôn Lạc Hoài còn gọi là Ấp Hồ
Thôn Đông Khê gồm 4 đội sản xuất (còn gọi là 4 xóm) Đội 1 và đội 2 thuộc làng Đông Hồ cũ Đội 3 thuộc làng Khê cũ Đội 4 thuộc làng Đạo Tú
Tính đến cuối năm 1999, toàn xã có 4799 nhân khẩu, đều là dân tộc Kinh - (ứng với 1078 hộ, trong đó có 2.032 lao động) và 464 mẫu diện tích đất tự nhiên và đất canh tác Trong đó Đông Hồ chỉ có 748 nhân khẩu (183 hộ) với diện tích đất canh tác
là 224 000 m2 So sánh diện tích đất canh tác với số nhân khẩu ở Đông Hồ có thể tính được bình quân diện tích đất canh tác, chưa được 1 sào (gần 300m2/ người; 1 sào Bắc Bộ = 360m2) cho một đầu người Theo số liệu năm 2002, diện tích đất tự nhiên là 335,85 ha, trong đó đất canh tác nông nghiệp là 215,86 ha, đất ở là 18,35 ha, các loại đất khác là 103,64 ha
1.2.3 Lịch sử hình thành làng Đông Hồ
1.2.3.1 Lịch sử và tên gọi làng Đông Hồ
Không có một tài liệu, văn bia nào ghi chép về quá trình hình thành và phát triển của các làng xã Song Hồ cũng như làng Đông Hồ thời cổ Song qua những hiện vật cổ, văn bia, những huyền tích, truyền thuyết, phong tục tập quán….hiện có, bước đầu chứng minh một thời mở đầu khai phá, tạo lập lên những làng xóm hôm nay
Trang 8
8
Làng Đông Hồ2 được dân gian gọi là làng Hồ, xưa có tên là làng Đông Mại, gọi nôm là làng Mái, thuộc tổng Hồ, huyện Siêu Loại, trấn Kinh Bắc Năm 1469, dưới triều Lê Thánh Tông, vùng đất Song Hồ thuộc huyện Siêu Loại, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc Đến thời Nguyễn, khoảng năm 1862, phủ Thuận An đổi tên thành phủ Thuận Thành, vùng đất Song Hồ thuộc huyện Siêu Loại, phủ Thuận Thành, trấn Kinh Bắc Tháng 10 năm 1895, thực dân Pháp chia trấn Kinh Bắc thành hai tỉnh Bắc Ninh
và Bắc Giang, vùng đất Song Hồ nằm trong tổng Đông Hồ, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Cuối những năm 30 của thế kỷ XX, tổng Đông Hồ còn được bổ sung thêm
ấp Lạc Đạo Ấp này do Vũ Đình Khôi và Đỗ Đình Tích lập ra [6, tr.13]
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền cách mạng được thành lập, tổng Đông Hồ được tách ra thành 3 xã: xó Tỳ Hồ- gồm các làng: Đông Hồ, Tú Khê, Đạo Tú, Xuân Tú và Tú Tháp; xó Bắc Hồ- gồm các làng: Chương Xá, Lạc Thổ, Lạc Đạo; xó Đông Côi- gồm các làng: Cả, Lẽ và Ấp Đông Côi
Ngày 27-10-1962, Quốc hội khóa II ra Nghị quyết hợp nhất hai tỉnh Bắc Ninh- Bắc Giang thành tỉnh Hà Bắc, từ ngày 1-4-1963, xã Tú Hồ, Bắc Hồ và Đông Côi thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc
Ngày 6-11-1996 kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX đã ra quyết định phê chuẩn việc tái lập hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang, từ ngày 1-1-1997 xã Song Hồ thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Thực hiện Nghị định số 13/CP, ngày 18-2-1997 của Chính phủ, từ tháng 7 năm 1997, các thôn Lạc Thổ (Lạc Thổ Nam, Lạc Thổ Bắc), Chương Xá, Phố Hồ của xã Song Hồ được chuyển về thành lập Thị trấn Hồ, còn lại 4 thôn Đông Khê, Đạo Tú, Tú Tháp và Lạc Hoài thuộc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh [6; tr 13, 14]
1.2.3.2 Lịch sử nghề làm tranh dân gian Đông Hồ
Về thời điểm xuất hiện của tranh dân gian, chúng tôi nghiêng về ý kiến tranh dân gian xuất hiện khoảng thế kỉ XVI, XVII bởi những lí do sau:
Thứ nhất, tư liệu trong cuốn Phong thổ Hà Bắc thời Lê [18] và cuốn Bắc Ninh phong thổ tạp kí [5] đều không nhắc đến nghề làm tranh, chỉ nói tới nghề làm mã
Nghề mã có tồn tại truyền thuyết về tổ nghề, trong gia phả của dòng họ Nguyễn Đăng
có bài văn tế tổ sư công nghệ giấy mã Những cứ liệu về nghề làm mã ở Đông Hồ có thể cho chúng ta nghĩ rằng nghề làm mã ở đây có trước nghề làm tranh Một số người cao tuổi ở Đông Hồ cũng nói điều này Do đó nghề làm tranh phải có sau thời Lê sơ (thế kỉ XV)
Thứ hai, bài thơ Tứ thời khúc vịnh [27, tr 577] của Hoàng Sĩ Khải (khoảng thế
kỉ XVI) có nói đến phong tục dán tranh vẽ gà để yểm trước cửa ra vào trong những
ngày Tết Mặt khác, hai tác giả Nguyễn Bá Vân và Chu Quang Trứ trong cuốn Tranh dân gian Việt Nam ghi rõ: Theo gia phả của dòng họ Nguyễn Đăng, họ này đã hành
nghề in tranh ở đây được 20 đời, tức vào khoảng trên dưới 500 năm, gần với thời gian Hoàng Sĩ Khải nói đến các bức tranh Gà, tranh Chung Quỳ và Bùa Đào [63, tr 34] Như vậy, mốc thời gian 20 đời hay 500 năm tương ứng với thế kỉ XVI, XVII
Trang 99
Thứ ba, thế kỉ XVI, XVII xu hướng thẩm mỹ dân gian phát triển thể hiện rõ ở các loại hình nghệ thuật Nhiều ngôi đình dựng vào nửa sau thế kỉ XVII, và đầu thế
kỉ XVIII có nhiều hình chạm mà đề tài và cách thể hiện gần với tranh Đông Hồ như:
Đánh ghen, đánh vật, hình gà, lợn, chuột, mèo, cá… Những điểm trên cho phép
chúng ta suy luận về sự xuất hiện tranh dân gian ở thời điểm này
Trong cuốn Nghề thủ công truyền thống Việt Nam và các vị tổ nghề viết: “Dựa
vào các thư tịch cổ thì chắc chắn rằng nghề in mộc bản đã khá thịnh hành ở nước ta vào thế kỉ XII” [68, tr 135]
Qua đây có thể thấy, ở những thế kỉ trước, tranh khắc gỗ chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tôn giáo, song, nó chỉ tham gia vào việc thể hiện những bản kinh Phật, in sách hoặc tranh thờ Có lẽ phải đến thế kỉ XVI, XVII tranh khắc gỗ mới hình thành phong cách rõ ràng và được phổ cập rộng rãi trong nhân dân
1.2.4 Di tích lịch sử văn hoá
1.2.4.1 Đình làng
Đình làng thờ vị Đức Ông, hiệu là Phổ Tế Trấn Bắc Đại Vương Đình được dựng ở phía Bắc của làng Hướng đình nhìn ra sông Thiên Đức, xung quanh là đồng ruộng Trước mặt là giếng đình hình bán nguyệt và hồ ao
Về mặt kết cấu, đình có 7 gian bái đường và 2 gian hậu cung để thờ và cúng
thành hoàng làng Ngay trước ban thờ hậu cung có tấm hoành phi đề: Vạn cổ hương,
nghĩa là làng có từ lâu Hai bên đình có 2 giải vũ, sau này hai bên giải vũ bị phá đi Khoảng năm 1970, hai gian hồi bái đường cũng bị dỡ bỏ vì công trình đã bị xuống cấp Từ đó đình chỉ còn 5 gian và hậu cung
Hai bên giải vũ của đình hiện nay đã được thay thế bằng hai dãy nhà mới Dãy bên phải xây nhà 4 gian, hoàn thành năm 1999, làm phòng lưu niệm và trưng bày tranh dân gian khi hội làng Dãy bên trái xây 3 gian, hoàn thành năm 2001, làm nhà thờ Tổ và cúng chúng sinh trong dịp hội làng
Tam quan đình và giếng hình bán nguyệt trước cổng đình được xây dựng vào năm Quý Mùi (1943) do ông Chánh Tổng Tuynh, dòng họ Lê đảm nhiệm
Đình làng Đông Hồ có nét đặc sắc không chỉ ở kiến trúc và nghệ thuật trang trí,
mà đình còn gắn liền với việc mua bán tranh xưa kia Do đó đình làng còn được gọi
là chợ đình tranh Chợ tranh họp tại đình, có 5 phiên một tháng vào các ngày 6, 11,
16, 21 và 26 tháng Chạp âm lịch Đến phiên chợ, khắp trong và ngoài đình rực rỡ bởi màu sắc của tranh Tranh treo lên dây, vắt lên tường, bày trên chiếu cói, người bán,
kẻ mua đông vui tấp nập Do đó chợ tranh còn được gọi là hội tranh Năm 1993, đình
được nhà nước xếp hạng di tích, cũng bởi đình gắn với di tích chợ tranh và nghề tranh truyền thống của làng
1.2.4.2 Nghè
Trước đây Tổng Đông Hồ có một ngôi nghè lớn hơn cả đình làng Kiến trúc nghè gồm 19 gian, cũng thờ tướng Cao Biền Dãy nhà chính gồm 5 gian với 3 gian hậu cung Trước sân nghè có tòa nhà tiền tế (5 gian), hai bên có hai dãy giải vũ (mỗi dãy 3 gian nối với nhà chính) Vị trí của nghè nằm ở bãi nghĩa trang hiện nay Sau đó nghè bị phá để lấy gỗ làm cầu qua mương, lấy gạch xây các công trình khác Khi
Trang 1010
cúng ở nghè bao giờ đồ cúng cũng là thịt lợn sống và xôi trắng Điều này thật khó lí giải, đồ lễ cúng như vậy có ý nghĩa gì Trong những ngày hội làng, ở nghè chỉ thắp hương, không có nghi lễ nào liên quan đến lễ hội
1.2.4.3 Đền
Theo thần tích, thần sắc của làng Đông Hồ, đền làng thờ bà Diệu Linh tiên
chúa Trước đây, đền cũng ở ngoài bãi sông Thiên Đức, sau chuyển vào làng mới, tức
vị trí hiện nay Ngôi đền cũ chỉ có hậu cung và nhà tiền tế nhỏ không có hồi Cho đến nay đền đã qua bốn lần tu sửa:
Lần thứ nhất, sửa lại hậu cung (1993)
Lần thứ hai, xây lại sân và tường bao quanh (1995)
Lần thứ ba, xây lại 3 gian tiền tế và một chái nhà (1996)
Lần thứ tư, xây thêm 3 gian nhà khách (2000)
Ở phía ngoài sân đền có lầu để thờ Cô, Cậu từ xưa nhưng được xây lại cùng với thời gian xây nhà khách Người dân ở đây cho biết, đền có từ lâu đời và rất linh thiêng Hàng tháng, cứ ngày rằm và mùng một dân làng và các vùng lân cận đến đây
tế lễ đông Song đáng tiếc, hiện nay tượng thờ ở đền đều là tượng mới Những pho tượng cũ đã bị nhấn chìm xuống ao cùng thời gian phá Nghè và chùa
1.2.5 Đời sống văn hóa tinh thần làng Đông Hồ
1.2.5.1 Giai thoại, truyền thuyết về vị thần Thành hoàng làng Đông Hồ
Trong thần tích- thần sắc của làng Đông Hồ có ghi lại như sau: Làng thờ 2 vị: Vị Đức ông hiệu là Phổ Tế Trấn Bắc Đại Vương, không có tên húy Vị Đức bà hiệu là Diệu Linh tiên chúa Không có tên húy Các ngài là thiên thần
Sự tích các ngài không có sách hoặc văn, bia nào ghi, chỉ lưu truyền trong dân gian truyền thuyết như vậy [65, tr 504-505]
1.2.5.2 Giai thoại, truyền thuyết về một số nhân vật ở Đông Hồ
Theo lời kể của cụ Lê Văn Bính, trưởng chi họ Lê thì cụ tổ họ Lê là Lê Quý Công, tước Dung Vũ Hầu là người vẽ giỏi lại đỗ đạt làm quan to Những cuộc du ngoạn của nhà vua ông thường được theo hầu để vẽ phong cảnh, địa thế và được phong là “Điện tiền tiên xa cách” [31; tr 20 ]
1.2.5.3 Hoạt động lễ hội truyền thống
- Hội làng:
Hội làng là một hoạt động văn hóa văn nghệ dân gian của làng Đông Hồ Xứ Kinh Bắc vốn là vùng có hội nổi tiếng cả nước, với nhiều hình thức hoạt động hấp dẫn Ở vùng đất Song Hồ xưa cũng có khá nhiều hình thức hoạt động hội hè nổi tiếng một vùng, như hội lên đồng, xuống đồng, hội thi mã, thi thả chim…
Hội lên đồng, xuống đồng là một sinh hoạt văn hóa gắn liền với những người làm nông nghiệp Bắt đầu từ những sinh hoạt tín ngưỡng, hội làng ngày càng phát triển và cuối cùng những ngày hội này đã trở thành những ngày “ra quân sản xuất” hay ngày “tổng kết” thời vụ của người lao động Đây là sinh hoạt tín ngưỡng, đồng thời là sinh hoạt văn hóa dân gian của những người làm nông nghiệp Vì thế các hoạt động này được bảo lưu một cách chắc chắn trong sinh hoạt làng xã thời xưa
Trang 1111
Hội thi mã là một sinh hoạt tinh thần nhưng mang đậm tính nghề nghiệp của những người làm mã Đông Hồ Hội được tiến hành từ ngày 14 đến hết ngày 18 tháng
3 âm lịch hàng năm Hội mã, tên chữ là “Kỳ Yên”, nôm na gọi là hội “cầu mát”, với ý
nghĩa là cúng tế trời đất để cầu cho dân làng được bình an, thịnh vượng và mạnh khỏe
Hội làng được tổ chức tại đình (ở Đông Hồ gọi là chợ Đình tranh3) Mặc dù Đông Hồ nổi tiếng là trung tâm sản xuất tranh dân gian nhưng mọi nghi thức diễn ra trong hội làng không liên quan đến nghề tranh Dân làng Hồ không thờ ông tổ nghề tranh Do đó nếu nói rằng nghề làm mã có trước nghề tranh không phải là không có
cơ sở
- Truyền thống trọng người già:
Truyền thống trọng người già (trọng xỉ) là một truyền thống đạo đức vô cùng
quý giá Khi làng vào đám, các lão làng được ngồi ở khu vực riêng (tòa các cụ), các
cụ cùng với chức dịch trong làng mới được quyền quyết định các công việc trong làng Đây còn là sự đan cài, phối hợp giữa lực lượng nhà nước (Hương lý) với quyền lực truyền thống của cộng đồng làng xã (lão làng) Về địa vị, những cụ nhiều tuổi cũng được coi ngang như những người có học vị cao (được coi là danh vọng cao quý) Ở các làng quê khác, cao nhất là ngôi tiên chỉ, nhưng ở Đông Hồ cụ Thượng (người cao tuổi nhất làng) là cao nhất, sau mới đến ngôi tiên chỉ Khi làng có việc, theo quy định của Đông Hồ, cứ 6 người ngồi 1 cỗ Nhưng đối với cụ Thượng được ngồi 1 mình 1 mâm Với các cụ 55 tuổi được bố trí 3 người một cỗ, đến 70 tuổi bố trí
2 người một cỗ, và đến thượng thọ thì một mình một mâm cỗ, lại còn được cả cỗ dựa (một cỗ làm phần)- ngang như Chánh tổng của làng
Như vậy, người dân làng Hồ tự hào về những cốt cách văn hóa truyền thống tốt đẹp tự ngàn xưa và vẫn được lưu giữ đến ngày nay Đó là phép lịch sự, nếp sống nho nhã, lòng mến khách và niềm tự hào với các nghề truyền thống Phong cảnh và con người nơi đây vẫn mang màu sắc của một làng cổ Thế hệ những người cao tuổi vẫn
là tấm gương để con cháu noi theo về lối sống trọng tình, thanh lịch, giàu bản sắc văn hóa
3
Thời kì phát triển của nghề làm tranh Từ ngày 6 tháng Chạp đến 26 Tết, chợ tranh được mở tại đình Từ sân đình ra khu vực xung quanh, nhiều lều tranh được dựng lên Trong làng khách xa về mua tại các nhà hoặc ra “chợ tranh” đông vui nhộn nhịp
Trang 12Hồ chủ yếu phát triển nhờ vào nghề thủ công truyền thống, đó là nghề làm mã, nghề làm tranh, nghề nhuộm giấy….Chính những nghề truyền thống này đã làm nên tên tuổi của làng Đông Hồ, làng làm tranh dân gian và làm mã nổi tiếng một vùng và quy
mô lớn của Việt Nam
CHƯƠNG 2: TRANH DÂN GIAN ĐÔNG HỒ 2.1 Một số đặc điểm nội dung tranh dân gian Đông Hồ
Tranh dân gian Đông Hồ phong phú về nội dung xuất phát từ đề tài phong phú
Để hiểu rõ về nội dung của tranh Đông Hồ, trước hết chúng tôi trình bày về các đề tài hay cách phân loại của tranh, từ đó có cách nhìn toàn diện và sâu sắc để nêu lên đặc điểm về nội dung của dòng tranh này
2.1.1 Về đề tài phong phú
Chúng tôi đã xem xét và thống nhất với cách phân loại của tác giả Nguyễn
Thuần trong bài “Thương nhớ về một làng tranh” [53; tr 102-103] Có thể chia ra sáu
loại chính:
1- Tranh thờ cúng: Để đáp ứng nhu cầu của tâm linh
2- Tranh lịch sử: Nhằm đề cao những anh hùng dân tộc có công dựng nước và giữ
nước
3- Tranh chúc tụng (hay còn gọi là mơ ước đầu năm): Tranh chỉ xuất hiện vào dịp tết
đến xuân về, nên mảng này hết sức phong phú Chúc cho mọi người, mọi nhà gặp nhiều điều tốt lành trong năm mới, tiêu biểu như: “Đại cát”, “Vinh hoa”, “Phú quý”; mong muốn sum vầy, hạnh phúc thì có: “Gà đàn”, “Lợn đàn”
4- Tranh sinh hoạt: Phản ánh cuộc sống muôn màu, muôn vẻ, thú vui như: “Đánh
vật”, gây cười như “Hứng dừa”, châm biếm như “Đánh ghen”, đả kích khôn khéo như “Đám cưới chuột”, “Thầy đồ cóc”
5- Tranh phong cảnh: Đề cao thú chơi tao nhã, lịch sự, đề cao vẻ đẹp thùy mị, duyên
dáng của người con gái có bốn cô “Tố nữ”, thú chơi cây cảnh có “Mai- Lan- Cúc- Trúc”, hoa nở bốn mùa có “Xuân- Hạ- Thu- Đông”
6- Tranh truyện: Lấy cốt truyện có sẵn trong dân gian, đề cao con người có tâm trong
sáng, chính nghĩa thắng gian tà như “Thạch Sanh”, “Phương Hoa”, nhiều điển cố như
“Bát Tiên”, nhiều mưu mẹo như “Tam Quốc”, “Chinh Đông”, đa tài, đa tình như
“Kiều”…
2.1.2 Đặc điểm nội dung tranh dân gian Đông Hồ
Nội dung của tranh dân gian Đông Hồ rất phong phú, đa dạng Mỗi bức tranh đều mang nhiều ý nghĩa nhân sinh riêng, biểu hiện nhiều góc độ tâm trạng của con
Trang 1313
người, mang trong nó là cả những ước vọng của người dân, từ những ước mong giản
dị cho tới những điều cao quý Chúng tôi trình bày nội dung tranh Đông Hồ dựa theo cách phân loại của tranh, và tạm chia ra bốn đặc điểm chính về nội dung như sau
2.1.2.1 Tranh Đông Hồ mang nội dung chúc tụng, thể hiện ước mơ tốt đẹp của người lao động
Từ hai bên cánh cổng ta đã bắt gặp những Tiến tài- Tiến lộc [Phụ lục; ảnh 1, 2]
vẽ hình hai vị thần mũ áo triều phục văn quan, một vị mang biển Tiến tài, một vị mang biển Tiến lộc Theo tục lệ của dân làng, dán hai bức tranh này ngoài cổng, tài lộc sẽ kéo vào trong nhà, và với năm mới, hai vị thần Tiến tài, Tiến lộc sẽ mang lại
sự thịnh vượng
Người nông dân cầu mong sinh được con trai để lấy người nối dõi dòng tộc qua
bức tranh Vinh hoa có hình em bé như một tiên đồng, hình dáng mập mạp, tóc để trái đào, tay ôm con gà trống [Phụ lục; ảnh 5] Họ cầu mong một gia đình quây quần đầm
ấm, chan hòa hạnh phúc như ý nghĩa của hai bức tranh Gà đàn [Phụ lục; ảnh 11] và tranh Gà thư hùng [Phụ lục; ảnh 26] là bức tranh toàn cảnh của gia đình đoàn tụ,
mẫu mực cho sự thủy chung và tinh thần trách nhiệm
2.1.2.2 Tranh Đông Hồ ca ngợi truyền thống “tôn sư trọng đạo”
Truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo đã có từ lâu trong lịch sử dân tộc ta Tranh Đông Hồ nổi tiếng cũng bởi phản ánh nội dung này trong tranh Bức tranh vừa
mang nhiều ẩn ý phê phán và cả khuyến khích việc học hành là Thầy đồ cóc [Phụ lục; ảnh 19] Tranh có nhiều ẩn dụ, với ý nghĩa khuyên con cháu học hành thì khung
cảnh trường học tấp nập như vậy là niềm mơ ước của nhiều trẻ em thời bấy giờ
Tranh Thầy đồ cóc (hay Lão Oa giảng độc) hướng đến đề tài giáo dục- một chủ đề
mang tính thời đại, quy luật tất yếu của xã hội, nhằm đào tạo lớp người kế cận thành những con người mới có đạo đức, có kiến thức, có năng lực Đề tài có tầm cỡ và quan trọng như vậy, lại lấy “xã hội” loài cóc làm đối tượng phản ánh, ít nhiều mang chất trào lộng, hài hước và chấm biếm, tưởng phi lý, nhạo báng nhưng lại có lý và tâm đắc Tâm đắc và hợp lý ở tính nhân văn sâu sắc của bức tranh Là loại tranh cổ,
đã có từ trước khi Pháp sang cướp nước ta, thời Nho học và đức Khổng Tử đang được tôn thờ Các bậc cha mẹ đều mong muốn con mình học được chút ít chữ Thánh hiền để nên người, cũng không dám mơ ước đến đỗ đạt, đăng khoa hay chức cao vọng trọng Không chỉ có ý nghĩa nhân văn như vậy, bức tranh còn thể hiện được sự kính trọng của trò với thầy Trong tranh có một chú Cóc dáng vẻ nghiêm chỉnh, cung kính, lễ phép, một tay chống gối, tay kia xách siêu nước sôi pha trà dâng thầy Đây là
một hành vi đẹp, có văn hóa, thể hiện sự “tôn sư trọng đạo” của người đi học Ngoài
ra, tranh Lý Ngư vọng nguyệt (Cá chép trông trăng) cũng muốn khuyên người học trò
chăm chỉ học tập rồi thi đỗ như truyền thuyết “cá chép vượt vũ môn” hóa rồng Tranh
Đám cưới chuột [Phụ lục; ảnh 20], tranh Rước ông nghè vinh quy bái tổ [Phụ lục; ảnh 21] hay Mục đồng đọc sách [phụ lục; ảnh 23] cũng nhằm khuyến học mạnh mẽ 2.1.2.3 Tranh Đông Hồ ca ngợi những anh hùng dân tộc, phản ánh cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc
Trang 14cụ thể là các bức tranh: tranh Bà Triệu cưỡi voi, Bà Triệu đánh giặc, tranh Hai Bà Trưng, Vua Đinh Tiên Hoàng, Ngô Quyền đánh giặc, Trần Hưng Đạo, Ngựa Hồng,… Đến thời kì lịch sử chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ có các tranh: Văn minh tiến bộ tọa đăng xương- Phong tục cải lương moa tăng phú (Thời đại văn minh tiến bộ anh hãy cẩn thận- Phong tục thay đổi, tôi cóc cần), Tranh Bắt giặc lái Mỹ, Tranh Hòa bình,…
2.1.2.4 Tranh Đông Hồ mang nội dung phê phán, đả kích những thói hư, tật xấu
Về phương diện xã hội, tranh Đông Hồ thành công trong việc phê phán, đả kích sâu cay tầng lớp phong kiến thống trị với những thói hư tật xấu Hai bức tranh tiêu
biểu là Thầy đồ cóc và Đám cưới chuột được nghệ sĩ dân gian thể hiện rất tài tình Tranh Thầy đồ cóc bên cạnh ý nghĩa khuyến khích việc học và “tôn sư trọng đạo”,
còn được diễn giải bằng bốn câu thơ với ẩn ý đả kích:
Tìm thầy hỏi bạn nhái chi mà Thấy học xem bằng ếch thấy hoa
Mở mắt chão chàng soi vũ trụ Đem gan cóc tía đối sơn hà
Tuy có bốn câu thơ, nhưng có đủ cả ếch, cóc, nhái, chão chàng làm ta liên
tưởng đến bài “Rắn đầu biếng học” của Lê Quý Đôn trong câu “Thấy học xem bằng
ếch thấy hoa” có ý tương tự, chung nỗi chán chường mỉa mai; hay với cụ Tú Xương
trong bài “Nào có ra gì cái chữ Nho”, học hành đỗ đạt dưới chế độ cũ có ra sao, thi
đỗ làm quan tức là làm tay sai cho bọn thống trị, để hà hiếp bóc lột dân nghèo Ở đây còn có ý nói, có khi làm tay sai mà không biết vì “mắt chão chàng” nhìn trừng trừng nhưng không tinh tường Thế mà dám đem gan và sức ấy ra để phản Tổ quốc,
hại nhân dân Thầy đồ cóc quả là một bài học triết lý với miền Nam nước ta thời kỳ
kháng chiến chống Mỹ và đến nay ý nghĩa sâu sắc đó vẫn còn tác dụng
Bức tranh Đám cưới chuột [Phụ lục; ảnh 20] rất nổi tiếng, cũng mang tính đả
kích sâu sắc, đánh một đòn rất trúng, rất hiểm vạch mặt bọn thống trị không hề khoan nhượng
Ngoài ra, các bức tranh khác về nội dung châm biếm, đả kích thói hư tật xấu
của bọn quan tham cũng như lũ giặc xâm lược nước ta như: Tranh Trê và Cóc; Cóc múa kì lân; Chuột Tầu rước rồng vàng; hay “Văn minh tiến bộ toa tăng xương- phong tục cải lương moa tăng phú” (nghĩa là: Thời đại văn minh tiến bộ anh hãy cẩn
thận; Phong tục thay đổi, tôi cóc cần),
Về phương diện gia đình, tranh phê phán, đả kích cũng đa dạng, nhiều đối
tượng, nhiều khía cạnh Tiêu biểu là tranh Đánh ghen, là bức tranh sinh hoạt dí dỏm mang tính phê phán và giáo dục cao [Phụ lục; ảnh 16, 15]
Trang 1515
2.2 Một số đặc điểm nghệ thuật tranh dân gian Đông Hồ
Đây là sự tìm tòi công phu qua nhiều thế hệ những nghệ nhân dân gian Tranh
Đông Hồ có vẻ đẹp dung dị, mộc mạc rất độc đáo mà ít có loại tranh nào trên thế giới đạt được Về cách dùng màu sẵn có trong thiên nhiên có thể sánh ngang với chất liệu
mà các nghệ sĩ Ai Cập đã thể hiện trên những bức tranh tường, trong các Kim Tự Tháp cổ đại mà các đời sau đã phải bỏ ra bao công sức để khám phá ra chất liệu đó [53; tr 58]
2.2.1 Chất liệu
Sau khi đã vẽ mẫu xong, hay còn gọi là ra mẫu, các nghệ nhân tìm gỗ để khắc
(gọi là khắc ván) Gỗ dùng chủ yếu là gỗ mít, xẻ thành ván theo độ dầy nhất định, để
vài năm cho gỗ khô kiệt, ván không bị cong, vênh Bản khắc Đông Hồ không khắc
bằng dao mà khắc bằng đục Có nhiều loại đục khác nhau để có thể tạo được nhiều
nét khắc to, khỏe mà vẫn tinh tế, có hồn Sau khi tạo ván khắc xong, người thợ lấy
giấy ráp cọ tỷ mỷ cho mặt nhẵn mịn rồi in thử, trước khi in vụ sau phải ngâm ván để
các nét sáng, sạch sẽ Mỗi ván in được hàng triệu bản vẫn bền do chất gỗ thị rất tốt, bền theo thời gian
2.2.2 Bố cục
Bố cục là sự sắp xếp các mô típ trong tranh sao cho chặt chẽ, hợp lý [53; tr 59] Tranh Đông Hồ tiêu biểu cho nghệ thuật khắc họa không gian theo lối ước lệ, tượng trưng là phổ biến Nghĩa là, tranh Đông Hồ không thể hiện các hình tượng to- nhỏ theo luật xa- gần (như của Tây phương), mà tùy theo cảm hứng sáng tác và tùy thuộc vào yêu cầu, bối cảnh cũng như nội dung của người mong muốn để thể hiện bức
tranh như thế nào Ví dụ như trong tranh thờ Tam phủ, Tứ phủ, Ông Công, Ông Táo, Ông Tơ, Bà Nguyệt… Các nhân vật được sắp xếp theo quy ước, lớp trong ở xa, lớp
ngoài ở gần như các mảng chính, phụ Đối với các tranh vẽ đề tài lịch sử cũng vậy, các vị anh hùng và các nhân vật chính luôn được vẽ với tầm vóc lớn hơn
2.2.3 Đường nét
Nghệ thuật làm tranh Đông Hồ độc đáo bởi đường nét bao giờ cũng được thể hiện sau cùng, bằng ván in nét Theo cách tạo hình, đường nét làm nên linh hồn cho bức tranh Đường nét cũng mang yếu tố trang trí cao Vì thế, đường nét rất quan trọng, nét là phương diện tạo hình, là biên giới của các mảng màu và nền tranh Đường nét trong tranh Đông Hồ thiên về sự đơn giản, chắc khỏe, có xu hướng cách điệu và trang trí hơn là tả thực
2.2.4 Màu sắc dân gian
Màu sắc cổ truyền, xưa nhất là màu trắng điệp và màu đen, hay nét viền đen Ngoài ra còn có màu vàng hòe, lấy từ hoa của cây hòe, màu đỏ vang lấy từ vây vang, màu đỏ của sỏi son,…Để làm nên một bức tranh dân gian Đông Hồ, người nghệ nhân phải khéo léo tạo các mảng màu thật hài hòa, cân đối, cũng như các nét phải rõ ràng,
to, chắc, đậm Đó là các mảng màu dẹt, không gợi khối hay ánh sáng như những tranh hiện đại khác
Trang 1616
2.2.5 Tính dị bản của tranh dân gian
Nằm trong xu thế biến đổi chung của các ngành nghệ thuật dân gian, tranh Đông Hồ do nhiều thế hệ cùng sáng tác và được đông đảo quần chúng tham gia trong quá trình in, tiêu thụ và thưởng thức tranh Một bức tranh thông thường cần có một bản khắc nét và vài ba bản khắc màu Tính thủ công trong kỹ thuật làm tranh và phương pháp khắc ván in tranh là nguyên nhân làm tranh dân gian Đông Hồ có nhiều
dị bản Sự khác nhau của các tờ tranh có cùng tên gọi là do sự thêm bớt một vài tình tiết như chữ đề trên tranh, thơ họa tranh, số lượng nhân vật, trang phục, tư thế,… hay cũng có thể thay đổi một vài sắc độ, màu nền tranh, màu sắc các họa tiết trong
tranh,…
2.3 Quy trình kỹ thuật làm tranh
2.3.1 Chuẩn bị về nhà xưởng, thiết bị và nguyên liệu
Đây là bước đầu tiên quan trọng trong quy trình làm tranh dân gian Các thiết bị làm tranh phải có đủ, trong một không gian nhà xưởng nhất định, đồng thời nguyên liệu cho làm tranh cũng phải được chuẩn bị từ trước
2.3.1.1 Về nhà xưởng
Đặc trưng của nghề làm tranh tuy không đòi hỏi cơ sở vật chất, trang thiết bị nhà xưởng quá quy mô và tốn kém, nhưng lại cần những khoảng không gian rộng Bởi trong quy trình chuẩn bị giấy điệp in tranh, hay phơi tranh thì cần khoảng sân rộng để
có thể trải giấy điệp hay tranh thành phẩm ra phơi cho được nắng thì giấy điệp mới trắng, tranh mới tươi màu Tuy vậy, mỗi hộ gia đình của làng Hồ cũng tận dụng những không gian có được trong nhà mình như nhà ba gian, hay sân rộng, nhà ngang, sân tầng thượng….để có thể phơi tranh, hay trưng bày tranh thành phẩm
2.3.1.2 Về thiết bị
Trước khi bắt tay vào làm tranh, các nghệ nhân làng Hồ đều chuẩn bị những dụng
cụ thiết yếu, chúng được cất giữ như những bảo bối trong nhà Thiết bị đó bao gồm:
Dụng cụ sáng tác mẫu tranh: đó là các bút lông, mực nho (hay mực tàu) và giấy
bản mỏng Khi vẽ mẫu tranh, nghệ nhân sẽ dùng bút lông chấm vào mực tàu đã pha
và vẽ hình mẫu lên các bản giấy mỏng Sau đó, giấy mẫu được dán vào mặt trước của tấm gỗ, và nét vẽ sẽ thấm ra mặt sau tờ giấy, nhờ đó người thợ khắc mới khắc được hình vẽ lên bản gỗ
Dụng cụ khắc ván tranh: Dụng cụ được dùng để khắc ván in tranh là mũi đục, hay gọi là ve bằng thép cứng, và dùi đục dùng để gõ đục (trong khi đó Hàng Trống dùng
dao khắc) Mỗi bộ ve khắc ván gồm khoảng 40 chiếc, chia ra 4 loại:
Móng: là lưỡi ve lòng máng, cong nhiều
Thoảng: là lưỡi ve hơi lòng máng, hơi cong
Thẳng: là lưỡi ve thẳng
Dẫy nền: là lưỡi ve lòng máng, thân ve uốn cong để dũi, đào sâu xuống gỗ Mỗi loại ve có khoảng trên dưới 10 cái với nhiều cỡ to nhỏ khác nhau
Ngoài mũi đục và dùi đục, còn có dao khắc mũi mài một má (vát một bên má dao)
Dụng cụ in tranh: Gồm ván in tranh (ván màu), sơ mướp và các bìa màu…