1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khuynh hướng hiện thực huyền ảo trong tiểu thuyết nguyễn bình phương

19 1,8K 19

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khuynh hướng hiện thực huyền ảo trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương
Tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền
Người hướng dẫn TS. Phạm Xuân Thạch
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 426,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trình bày cơ sở thực tiễn và lý thuyết của luận văn: khái quát những thay đổi của tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 ở các mặt đề tài, phương thức phản ánh, kỹ thuật viết và chỉ ra những tha

Trang 1

Khuynh hướng hiện thực huyền ảo trong tiểu

thuyết Nguyễn Bình Phương

Nguyễn Thị Thu Huyền

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Luận văn Thạc sĩ ngành: Văn học Việt Nam; Mã số: 60 22 34

Người hướng dẫn: TS Phạm Xuân Thạch

Năm bảo vệ: 2012

Abstract Trình bày cơ sở thực tiễn và lý thuyết của luận văn: khái quát những thay

đổi của tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 ở các mặt đề tài, phương thức phản ánh, kỹ thuật viết và chỉ ra những thay đổi ấy đều xuất phát từ sự đổi mới quan niệm về hiện thực – một tiền đề quan trọng cho sự xuất hiện yếu tố huyền ảo trong văn chương và giới thiệu về khuynh hướng hiện thực huyền ảo trên thế giới và ở Việt Nam, cùng với việc khái quát hành trình sáng tác của Nguyễn Bình Phương Nghiên cứu bút pháp hiện thực huyền ảo trong tổ chức tác phẩm của Nguyễn Bình Phương: luận văn chủ yếu khảo sát những đặc điểm của khuynh hướng hiện thực huyền ảo trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương ở cách tổ chức không - thời gian và xây dựng kết cấu tiểu thuyết với sự đan xen, hòa quyện không thể tách rời của hai yếu tố hiện thực – huyền ảo Nghiên cứu bút pháp hiện thực huyền ảo trong xây dựng nhân vật tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, chúng tôi tập trung làm rõ sự chi phối của bút pháp hiện thực huyền ảo vào việc xây dựng các dạng thức nhân vật tiêu biểu trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, để từ đó làm bật lên các vấn đề của đời sống đương đại được ngầm ẩn đằng sau những hình tượng này

Keywords Văn học Việt Nam; Nghiên cứu văn học; Tiểu thuyết

Content

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nguyễn Bình Phương được coi là một trong những gương mặt tiêu biểu của văn học Việt Nam đương đại với những trăn trở, nỗ lực, tìm tòi, sáng tạo không ngừng trên con đường cách tân tiểu thuyết

Xung quanh sáng tác của Nguyễn Bình Phương, đã có nhiều bài viết, ý kiến đánh giá trái chiều Mỗi bài viết khơi mở một khía cạnh khác nhau của tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương,

Trang 2

nhưng riêng khuynh hướng hiện thực huyền ảo thì có rất ít ý kiến đề cập đến và hầu như chưa có một công trình nghiên cứu chuyên biệt nào Trong khi đây lại được coi là khuynh hướng chủ đạo trong sáng tác của Nguyễn Bình Phương, không riêng gì tiểu thuyết – Một khuynh hướng ghi nhận những thành tựu đáng kể, những đóng góp không nhỏ của nhà văn vào tiến trình đổi mới

tiểu thuyết Việt Nam đương đại Chọn đề tài luận văn: Khuynh hướng hiện thực huyền ảo trong

tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, chúng tôi hy vọng có điều kiện đi sâu nghiên cứu về một trong

những nét nổi bật nhất của tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương mà chưa có ai nói đến một cách triệt

để Thông qua đó, chúng tôi cũng hy vọng có thể tìm hiểu khái quát về diện mạo tiểu thuyết Việt Nam đương đại và tìm hiểu sâu sắc về một trong những khuynh hướng quan trọng của văn học Việt Nam sau đổi mới: Khuynh hướng hiện thực huyền ảo

2 Lịch sử vấn đề:

Nhìn lại lịch sử nghiên cứu vấn đề, chúng tôi nhận thấy:

1 Tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương thu hút được sự quan tâm của giới phê bình Các công trình, bài viết chủ yếu tập trung vào khía cạnh nghệ thuật trong tiểu thuyết của anh

Có một số lượng khá lớn các bài bình luận về Nguyễn Bình Phương trên các trang web Trong đó, Đoàn Cầm Thi là người sớm có những bài viết tiếp cận tiểu thuyết Nguyễn Bình

Phương từ góc độ tâm lý học hiện đại, dưới cái nhìn phân tâm học: Sáng tạo văn học: giữa mơ và

điên; Người đàn bà nằm: từ Thiếu nữ ngủ ngày đọc Người đi vắng của Nguyễn Bình Phương

Nguyễn Chí Hoan quan tâm nhiều đến kỹ thuật viết trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương qua

các bài: Cấp độ hiện thực và sự hão huyền của ý thức trong Thoạt kỳ thủy; Những hành trình qua

trống rỗng Trương Thị Ngọc Hân đã đưa ra được một cái nhìn khái quát về tiểu thuyết Nguyễn

Bình Phương qua các bài Một số điểm nổi bật trong sáng tác của Nguyễn Bình Phương Song

tiêu biểu nhất phải kể đến tập hợp các bài nghiên cứu có tính chuyên sâu của Thụy Khuê về

từng tác phẩm của Nguyễn Bình Phương như: Khuynh hướng hiện thực huyền ảo trong tiểu

thuyết Những đứa trẻ chết già; Tính chất hiện thực linh ảo âm dương trong tiểu thuyết Người

đi vắng; Yếu tố tiểu thuyết mới trong tác phẩm Trí nhớ suy tàn; Thoạt kỳ thủy trong vùng đất Cậm cam hoang vu của Nguyễn Bình Phương…

Trên các báo và tạp chí chuyên ngành có một số bài viết đặc sắc về Nguyễn Bình Phương

Tiêu biểu phải kể đến Tiểu thuyết như là trạng thái tìm kiếm ý nghĩa của đời sống của tác giả Phạm Xuân Thạch đăng trên báo Văn nghệ số 45/2006, Đoàn Ánh Dương với bài Nguyễn Bình

Phương, “Lục đầu giang” tiểu thuyết đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 4/2008 và

Phùng Minh Khai với bài Tản mạn về Nguyễn Bình Phương in trong tập Phác hoạ mấy chân

dung văn học

Trong 5 năm trở lại đây, có một số lượng khá lớn các công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu về tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương thông qua các báo cáo khoa học, khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ…

2 Tuy nhiên riêng khuynh hướng hiện thực huyền ảo trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương lại chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên biệt và hệ thống Hầu hết các tác giả chỉ đề cập đến vấn đề này trong một phần mục nhỏ của một chương trong khóa luận, luận văn hoặc trong những bài viết có tính khái quát chung và thường chỉ xem xét nó dưới góc độ của cái kỳ ảo hay phương thức huyền thoại chứ không đề cập đến hiện thực huyền ảo như một khuynh hướng sáng tác đặc trưng của tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương Nổi bật trong số đó là

khóa luận tốt nghiệp Yếu tố kỳ ảo trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương (Nguyễn Thị Phương Diệp) Trong luận án tiến sĩ Yếu tố kỳ ảo trong văn xuôi đương đại Việt Nam, tác giả Bùi Thanh

Trang 3

Truyền cũng tiến hành khảo sát một số tác phẩm của Nguyễn Bình Phương trên phương diện cái kỳ ảo như là những minh họa tiêu biểu cho đặc điểm sáng tác của một giai đoạn văn học

Trong bài Nguyễn Bình Phương, “Lục đầu giang” tiểu thuyết, Đoàn Ánh Dương khẳng định

phương thức huyền thoại là thành công nổi bật và là nhân tố khu biệt tiểu thuyết Nguyễn Bình

Phương Còn Đoàn Minh Tâm trong bài Những đặc trưng của bút pháp huyền ảo trong tiểu

thuyết Ngồi đã chỉ ra rằng chất huyền ảo trong Ngồi là sự pha trộn của ba dòng bút pháp huyền

ảo: đó là bút pháp huyền ảo phi lý của Kafka, bút pháp huyền ảo siêu nhiên và bút pháp huyền

ảo tâm lý Thụy Khuê có lẽ là tác giả sớm nhất và đi sâu nhất trong việc nghiên cứu các sáng

tác của Nguyễn Bình Phương từ góc độ hiện thực huyền ảo qua các bài viết: Khuynh hướng

hiện thực huyền ảo trong tiểu thuyết Những đứa trẻ chết già, Tính chất hiện thực linh ảo âm dương trong tiểu thuyết Người đi vắng…

Như vậy, qua khảo sát các tư liệu, bài viết, công trình nghiên cứu về Nguyễn Bình

Phương, chúng tôi nhận thấy vấn đề hiện thực huyền ảo chưa được nhìn nhận một cách cụ thể

và có hệ thống Luận văn hy vọng sẽ có điều kiện đi sâu nghiên cứu về khuynh hướng hiện thực huyền ảo trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương trên cơ sở tiếp thu, kế thừa các nghiên cứu của người đi trước, hướng tới một cái nhìn toàn diện và khách quan về một phương diện đóng góp nổi bật của Nguyễn Bình Phương vào hành trình cách tân chung của tiểu thuyết Việt Nam đương đại

3 Phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu chính: bảy tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương xuất bản từ 1991

đến 2006: Bả giời, Vào cõi, Trí nhớ suy tàn, Những đứa trẻ chết già, Người đi vắng, Thoạt kỳ

thủy và Ngồi

- Đối tượng tham khảo: thơ và một số truyện ngắn

- Đối tượng đối chiếu so sánh: tiểu thuyết của một số nhà văn cùng thời, cùng khuynh hướng hiện thực huyền ảo

4 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp nghiên cứu chính: phương pháp thi pháp học kết hợp với lý thuyết tự sự học Bên cạnh đó luận văn còn sử dụng kết hợp các thao tác như so sánh, phân tích, tổng hợp…

5 Cấu trúc luận văn:

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn gồm ba

chương:

Chương 1: Cơ sở thực tiễn và lý thuyết của luận văn

Chương 2: Bút pháp hiện thực huyền ảo trong tổ chức tác phẩm của Nguyễn Bình

Phương

Chương 3: Bút pháp hiện thực huyền ảo trong xây dựng nhân vật tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương

PHẦN NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN VĂN 1.1 Những thay đổi của tiểu thuyết Việt Nam sau 1986

Những chuyển biến sâu sắc trong đời sống xã hội Việt Nam từ nửa sau thập kỷ 80 là tiền

đề quan trọng cho quá trình đổi mới quan niệm nghệ thuật, đổi mới tư duy sáng tác để tạo

Trang 4

thành một cuộc chuyển đổi mạnh mẽ trong đời sống văn học Việt Nam đương đại Với tiểu thuyết, những thay đổi đó diễn ra toàn diện, sâu sắc cả về nội dung khám phá, phương thức phản ánh lẫn kỹ thuật biểu hiện

1.1.1 Thay đổi tư duy nghệ thuật

1.1.1.1 Đổi mới tư duy tiểu thuyết

Có thể thấy văn học thời kỳ đổi mới đã có bước chuyển đổi quan trọng về tư duy: tư duy sử thi từng chi phối các sáng tác văn chương thời kỳ trước dần thay thế bằng tư duy tiểu thuyết, cùng với nó

là sự chuyển đổi cảm hứng sáng tác: từ cảm hứng lịch sử dân tộc sang cảm hứng thế sự đời tư Tư duy tiểu thuyết đã trả lại cho văn học bộ mặt chân xác của đời sống Cùng với sự thay đổi ấy, hiện thực được khám phá dưới nhiều góc nhìn mới mẻ và số phận con người đã trở thành vấn đề trung tâm luận của tiểu thuyết, nhất là con người cá thể, con người đời thường

1.1.1.2 Khám phá hiện thực đa chiều

Sự chuyển đổi tư duy tiểu thuyết đã mở ra khả năng khám phá hiện thực đa dạng, đa chiều

Có thể thấy ba xu hướng khám phá hiện thực nổi bật Thứ nhất là khuynh hướng nhận thức lại hiện thực Các vấn đề tưởng như quá cũ mòn của đời sống như chiến tranh, người lính, người nông dân, đời sống nông thôn… được khai thác dưới một trường nhìn mới, đem lại những nhận thức mới: khách quan và đúng như nó vốn có Khuynh hướng thứ hai là mở rộng biên độ hiện thực, khai thác những mảng hiện thực mà xưa nay vẫn xem là “nhạy cảm” của văn học như: các biến cố và nhân vật lịch sử, vấn đề bản năng và tình dục… Khuynh hướng thứ ba là khuynh hướng sáng tạo hiện thực, tăng cường chiều hướng khai thác, chiếm lĩnh cả những hiện thực

giấc mơ, vô thức, hiện thực tâm lý, tâm linh… Tác phẩm tiêu biểu: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Bến không chồng (Dương Hướng), Thời xa vắng (Lê Lựu), Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng

ngàn (Nguyễn Xuân Khánh), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Người đi vắng, Thoạt kỳ thuỷ (Nguyễn

Bình Phương)…

Khám phá hiện thực đa chiều, tiểu thuyết không xây dựng các cực đối lập, các trị tuyệt đối, bên cạnh cái tốt đẹp cao cả, tiểu thuyết phản ánh cả những mặt xấu xa, thấp hèn, phi nhân tính, đôi khi hiện hữu đầy đủ ngay trong một hình tượng nghệ thuật Cuộc sống hiện lên trong những trạng thái phức tạp, các khuynh hướng trái ngược cùng đấu tranh và cùng tồn tại

1.1.1.3 Khai thác số phận cá nhân

Tiểu thuyết cũ với cảm quan sử thi chủ yếu khai thác các hình tượng tập thể, khắc hoạ hình tượng con người cộng đồng, con người mang tính đại diện cho chân lý thời đại Tiểu thuyết mới

đi sâu khám phá con người cá nhân trong tính đa dạng, phức tạp của nó Con người với tư cách là đối tượng của văn học, phải được nhìn nhận trong tính tổng thể và toàn vẹn, phải được soi chiếu

từ mọi góc độ và được nhìn nhận ở mọi giá trị Tiểu thuyết đương đại, vì thế, đã vừa mở rộng biên độ khai thác, vừa tăng cường chiều sâu khám phá, tiếp cận con người trên nhiều bình diện:

con người đời tư, con người tự nhiên, con người tâm lý, tâm linh… Tiêu biểu là: Thời xa vắng (Lê Lựu), Bến không chồng (Dương Hướng), Đám cưới không có giấy giá thú (Ma Văn Kháng), Lão

Khổ (Tạ Duy Anh), Cơ hội của Chúa (Nguyễn Việt Hà), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Cõi người rung chuông tận thế (Hồ Anh Thái)…

1.1.1.4 Gia tăng tính chất triết luận

Khuynh hướng triết lý hay triết luận trong tiểu thuyết xuất hiện gắn liền với sự thay đổi mô

hình cấu trúc tiểu thuyết từ cấu trúc lịch sử - sự kiện sang cấu trúc lịch sử - tâm hồn Khuynh

hướng này được khơi mở trong văn học từ sau 1975 với sáng tác của các nhà văn như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu Song yếu tố triết luận thực sự được tăng cường và trở thành một đặc

Trang 5

điểm quan trọng trong tiểu thuyết Việt Nam từ sau 1986, khi mà “tính chất bất trắc của đời

sống và sự bất ổn của tinh thần con người” ngày một gia tăng Các tác phẩm không chỉ chứa

đựng những chiêm nghiệm, đúc kết sâu sắc của nhà văn về cuộc đời và con người mà còn thể hiện những suy tư, trăn trở không ngừng của người cầm bút trước các vấn đề phức tạp, nhức nhối của đời sống đương đại, đặc biệt là vấn đề đạo đức nhân sinh và thân phận con người

Tiêu biểu là: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Thời xa vắng (Lê Lựu), Mùa lá rụng trong

vườn (Ma Văn Kháng), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn

Khắc Trường), Bên kia bờ ảo vọng (Dương Thu Hương), Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn (Nguyễn Việt Hà), Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối (Tạ Duy Anh…

1.1.2 Thay đổi đề tài

Tính đa diện, đa tầng của hiện thực đời sống, tính đa dạng phức tạp của tính cách con người đã phá vỡ thế ngự trị của kiểu, loại đề tài đơn nhất để làm nên sự phong phú vô tận các

đề tài sáng tác Có thể khái quát thành ba nhóm đề tài tiêu biểu:

1 Đề tài “vết thương”: Xuất hiện gắn với nhu cầu nhìn nhận lại và phản ánh chân xác những

vấn đề của lịch sử đương đại, dòng văn học “vết thương” đáp ứng đúng khát vọng của thời đại: nhìn thẳng vào sự thật, phát hiện và miêu tả đúng sự thật lịch sử, sự thật tâm hồn con người Các vấn đề nhức nhối một thời mà vì lý do hoàn cảnh lịch sử, do cơ chế xã hội hay ấu trĩ trong nhận thức đã khiến cho các vấn đề đó bị né tránh hoặc chưa có điều kiện đề cập đến nay được các nhà văn mổ xẻ không thương tiếc và trả về đúng vị trí, đúng bản chất như nó vốn có Đó là các vấn đề như cải cách ruộng đất, cơ chế bao cấp, sự thật chiến tranh, tâm lý hậu chiến… Tiêu biểu phải kể

đến: Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh) Thời xa vắng (Lê Lựu) Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai) Bên kia

bờ ảo vọng (Dương Thu Hương), Thời của thánh thần (Hoàng Minh Tường), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Bến không chồng (Dương Hướng), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn

Khắc Trường)…

2 Đề tài lịch sử: Cùng với khuynh hướng nhận thức lại quá khứ, văn học chuyển từ xu

hướng lấy lịch sử làm trọng tâm sang xu hướng lấy “con người làm trung tâm, làm đích quy

chiếu của lịch sử” Đề tài lịch sử phát triển gắn với sự ra đời của hàng loạt tiểu thuyết lịch sử kiểu

mới Không chịu sự chi phối của quan niệm cộng đồng, sự phán xét của lịch sử, các nhà văn đương đại tiếp cận lịch sử và nhân vật lịch sử từ một góc độ mới, mang màu sắc cá nhân và tính

chất hư cấu đậm nét Tiêu biểu là: Thăng Long ký (Nguyễn Khắc Phục), Hội thề (Nguyễn Quang Thân), Giàn Thiêu (Võ Thị Hảo), Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh), Bão táp cung đình (Hoàng Quốc Hải)

3 Đề tài đời sống đương đại: Bối cảnh xã hội Việt Nam những năm cuối thế kỷ XX, đầu

thế kỷ XXI với nhiều biến động đổi thay từ đời sống vật chất cho đến các giá trị tinh thần đã làm nên một mảnh đất phì nhiêu cho các sáng tác văn chương khai phá Các vấn đề nhân sinh, những bi kịch, những mảnh vỡ, những số phận con người trong đời sống đương đại được tiểu thuyết phơi bày dưới cái nhìn trung thực, nghiêm khắc nhưng cũng đầy nhân ái bao

dung Tiêu biểu là: Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Đám cưới không có

giấy giá thú, (Ma Văn Kháng), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Thoạt kỳ thủy, Ngồi (Nguyễn Bình

Phương), Cơ hội của Chúa, Thiên thần sám hối, (Tạ Duy Anh), Sự trở lại của vết xước (Trần

Nhã Thụy)…

1.1.3 Thay đổi kỹ thuật viết

1.1.3.1 Phá vỡ cốt truyện truyền thống

Trang 6

Với tiểu thuyết truyền thống, cốt truyện được coi là “xương sống”, có cấu trúc toàn vẹn, khép kín và quy tắc, trình bày theo trình tự: khai đoạn, phát triển đỉnh điểm và kết thúc, tuân theo trật tự thời gian tuyến tính Cốt truyện tiểu thuyết từ thời kỳ đổi mới đã có những đổi thay mang tính bước ngoặt Ngày càng xuất hiện nhiều tiểu thuyết có cấu trúc lỏng lẻo, phá vỡ kết cấu cốt truyện truyền thống, nhiều khi không có mở đầu và kết thúc thường bỏ lửng, để ngỏ

Xu hướng dồn nén dung lượng, giản lược nhân vật và tối giản hoá cốt truyện đến mức tối đa là

xu hướng nổi bật của tiểu thuyết hiện đại Thêm nữa, các cốt truyện lại chủ yếu được xây dựng xung quanh những cái bình thường, nhỏ nhặt của đời sống hàng ngày

Nhìn chung, cốt truyện hiện đại dường như bị phân rã trở nên lỏng lẻo, mơ hồ, co giãn, khó nắm bắt Cốt truyện tâm lý xuất hiện khá phổ biến nhằm triển khai những vận động bên trong nhân vật, tổ chức cấu trúc tác phẩm theo diễn biến tâm lý, dòng ý thức nhân vật Có những tiểu thuyết dường như không có cốt truyện, bị phân mảnh, rời rạc, phi logic Thi pháp cốt truyện tiểu thuyết hiện đại nói nhiều đến xu hướng lắp ghép liên văn bản Các tiểu thuyết phần lớn có kết cấu đa tuyến với nhiều mạch truyện xoắn kép, kết cấu đồng hiện song hành…

Tiêu biểu là: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Hồ Quý Ly, Mẫu

thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh), Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn (Nguyễn Việt Hà), Người đi vắng, Thoạt kỳ thuỷ, Ngồi (Nguyễn Bình Phương)… Bên cạnh đó, sự sáng tạo cốt

truyện còn được biểu hiện ở sự thâm nhập của các thể loại khác vào tiểu thuyết Tiểu thuyết đưa vào trong nó cả hình thức thơ, nhật ký, thư từ, điện ảnh, âm nhạc…

1.1.3.2 Đa dạng điểm nhìn, giọng điệu trần thuật

Tiểu thuyết truyền thống thường sử dụng ngôi kể thứ ba với một giọng điệu, một điểm nhìn duy nhất Tiểu thuyết đương đại trên cơ sở học tập và tìm tòi kỹ thuật viết hiện đại, đã tăng thêm nhiều điểm nhìn trên các trục thời gian, không gian khác nhau Vai trò người kể chuyện đơn nhất, đóng vai “đấng toàn năng” bị phá bỏ Tiểu thuyết xuất hiện nhiều truyện kể ngôi thứ nhất, ngôi thứ hai Ngôi kể thứ ba vẫn được sử dụng nhưng tăng thêm nhiều điểm nhìn, trao điểm nhìn cho nhiều nhân vật và di chuyển liên tục các tiêu điểm Sự sáng tạo còn được đẩy lên mức độ cao hơn khi các nhà văn không đơn thuần sử dụng một dạng ngôi kể nhất định nào Tính phức hợp trong tổ chức điểm nhìn được biểu hiện qua sự đan chéo các điểm nhìn và sự luân

chuyển thường xuyên giữa các ngôi trần thuật Tiêu biểu là: Tấm ván phóng dao (Mạc Can), Đi

tìm nhân vật (Tạ Duy Anh), Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn (Nguyễn Việt Hà), Người đi vắng (Nguyễn Bình Phương)…

Sự thay đổi trong điểm nhìn trần thuật sẽ dẫn đến sự biến đổi về giọng điệu trần thuật Phá vỡ vai trò độc tôn của “giọng chủ âm”, tiểu thuyết đương đại thiết lập giọng đa âm, khách quan, đa dạng hoá giọng điệu trần thuật… Càng về sau sự phức hợp của giọng điệu trần thuật càng được đẩy cao tạo thành tính chất đa âm, rối bời, tương tác nhiều giọng điệu trên một dòng tự sự xáo trộn Các tác phẩm không chỉ có lời người trần thuật, lời nhân vật, lời gián tiếp, nửa trực tiếp… mà còn có lời của người phát ngôn ngoài chủ thể tạo thành những

hình thức trần thuật độc đáo, đa sắc điệu Tiêu biểu: Tấm ván phóng dao (Mạc Can),

Chinatown, Pari 11 tháng 8 (Thuận), Cơ hội của Chúa (Nguyễn Việt Hà), Trí nhớ suy tàn, Thoạt kỳ thuỷ, Ngồi (Nguyễn Bình Phương)…

1.1.3.3 Khai thác phong phú các kỹ thuật phân tích nội tâm

Chuyển từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết, từ cảm hứng lịch sử sang cảm hứng thế sự, đời tư, tiểu thuyết đương đại hướng đến khám phá con người cá nhân và đi sâu vào phân tích thế giới nội tâm phong phú, phức tạp bí ẩn của con người Kỹ thuật phân tích nội tâm giờ đây không

Trang 7

đơn thuần dừng ở phân tích tâm trạng, tâm lý qua những đoạn đối thoại, độc thoại, miêu tả cảm xúc mà sáng tạo nhiều kỹ thuật mới trên cơ sở vận dụng những lý thuyết tâm lý học hiện đại và học tập, tiếp thu những sáng tạo nghệ thuật của tiểu thuyết phương Tây hiện đại Hai thủ pháp quan trọng giúp khai thác hiệu quả thế giới tâm lý, tâm linh của con người đó chính là độc thoại nội tâm và kỹ thuật “dòng ý thức” Các kỹ thuật phân tích nội tâm ngày càng phong phú nhằm khám phá một cách tinh vi, tinh tế thế giới bí ẩn bên trong con người, thông qua cả việc thăm dò,

giải mã thế giới vô thức, tiềm thức, giấc mơ Các tác phẩm tiêu biểu: Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai),

Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Thiên thần sám hối (Tạ Duy Anh), Người đi vắng, Trí nhớ suy tàn (Nguyễn Bình Phương)…

Trên đây là phần trình bày khái quát về những thay đổi của tiểu thuyết Việt Nam sau 1986

Có thể nói, toàn bộ những thay đổi ấy xuất phát từ sự đổi mới quan niệm hiện thực: hiện thực ngày càng phức tạp và con người cũng vô cùng phong phú, phức tạp Đây cũng chính là tiền đề quan trọng cho việc đưa yếu tố huyền ảo vào văn chương

1.2 Khuynh hướng hiện thực huyền ảo trong văn học thế giới và Việt Nam

1.2.1 Trên thế giới

Đã có nhiều định nghĩa về chủ nghĩa hiện thực huyền ảo (magic realism), đa số đều gặp

nhau ở quan niệm coi đây là một khuynh hướng tự sự được đặc trưng bởi sự kết hợp giữa những sự kiện có thật với những yếu tố kỳ ảo hoặc huyền thoại một cách tự nhiên, khó phân định nhằm phản ánh trạng thái bản thể thời đại – những trạng thái bất an của hiện thực và bất

ổn của con người

Có thể nói, sự khủng hoảng của chủ nghĩa duy lý trong cả đời sống xã hội lẫn văn học châu Âu chính là tiền đề cho sự xuất hiện trở lại của cái huyền ảo trong sáng tác văn học vào đầu thế kỉ XX Song, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo chỉ thật sự trở thành một xu hướng sáng tác nổi bật trong văn học Mỹ Latinh vào những năm 60 của thế kỷ XX với hàng loạt các cây bút tiêu biểu: Alejo Carpentier, Miguel Angle Asturias, Jorge Louis Borge… và đặc biệt là

Gabriel Garcia Marquez với cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Trăm năm cô đơn Trên cơ sở vừa kế

thừa các truyền thống văn học cổ điển của người Anh-điêng, vừa dung hợp các phương pháp biểu hiện của huyền thoại và những khuynh hướng hiện đại chủ nghĩa của nghệ thuật phương Tây, các nhà văn Mỹ La tinh đã sáng tạo một khuynh hướng sáng tác mới được định danh là chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Khuynh hướng này đã nhanh chóng lan rộng trong văn học thế

kỷ XX ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam

1.2.2 Ở Việt Nam

Văn học kỳ ảo đã xuất hiện ở Việt Nam từ rất sớm Ngay từ đầu thế kỷ XX, văn học hiện đại đã ghi nhận tên tuổi một số cây bút đã sử dụng thành công yếu tố kỳ ảo trong sáng tác của mình như Nguyễn Tuân, Thanh Tịnh, Nhất Linh, Thế Lữ, Nam Cao… Song, do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của đất nước nên có một thời gian dài hình thức này bị gián đoạn Không khí cởi mở và sự đổi mới toàn diện của đời sống xã hội cũng như văn học những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX đã tạo điều kiện cho sự tái xuất hiện của yếu tố huyền ảo trong trong văn chương và đã thật sự bùng phát thành một khuynh hướng sáng tác nổi bật: khuynh hướng hiện thực huyền ảo Khuynh hướng này được mở đầu bằng những cây bút truyện ngắn xuất sắc như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp Tiếp theo đó

xuất hiện rất nhiều tiểu thuyết viết theo khuynh hướng này: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh),

Bến không chồng (Dương Hướng), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Mẫu thượng ngàn (Nguyễn

Xuân Khánh), Người sông mê (Châu Diên), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài)…

Trang 8

Bút pháp hiện thực huyền ảo được sử dụng ngày càng biến ảo, khó nắm bắt trong sáng tác

của những cây bút tiểu thuyết được định danh là làn sóng thứ ba như Tạ Duy Anh với Đi tìm

nhân vật, Thiên thần sám hối, Hồ Anh Thái với Cõi người rung chuông tận thế, Trần Nhã Thuỵ

với Sự trở lại của vết xước, Nguyễn Việt Hà với Cơ hội của Chúa, Thuận với T mất tích… Trong

đó không thể không kể đến Nguyễn Bình Phương - người có ý thức rõ rệt trong việc sử dụng yếu tố huyền ảo với mật độ dày đặc và xuyên suốt trong các tác phẩm của mình

1.3 Hành trình sáng tác tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương

Nguyễn Bình Phương sáng tác từ rất trẻ Năm 1986 anh đã xuất bản trường ca Khách của

trần gian, sau đó là các tập thơ Xa thân, Lam chướng cùng một số tiểu luận và truyện ngắn

Song tên tuổi Nguyễn Bình Phương thật sự được biết đến khi anh bước sang sáng tác tiểu

thuyết Trong khoảng 15 năm (từ 1991 đến 2006) anh đã cho ra đời 7 tiểu thuyết: Bả giời (1991), Vào cõi (1991), Những đứa trẻ chết già (1994), Trí nhớ suy tàn (2000), Thoạt kỳ thuỷ (2004) và Ngồi (2006)

Dù có nhiều luồng đánh giá trái chiều, song về cơ bản các ý kiến đều thống nhất cho rằng: tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương có nhiều nỗ lực tìm tòi đổi mới, tạo được một sắc diện riêng từ lối viết lạ và độc đáo Sự kết hợp hoà quyện hai yếu tố hiện thực và huyền ảo là một đặc điểm nổi bật trong bút pháp của Nguyễn Bình Phương Tìm hiểu bút pháp Nguyễn Bình Phương, luận văn chủ yếu tìm hiểu về cách viết, lối viết, những đặc điểm nổi bật tạo thành phong cách tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương Tuy có nhiều ý kiến đánh giá, nhận định khác nhau về đặc điểm bút pháp, phong cách nghệ thuật Nguyễn Bình Phương, song không thể không nhận thấy ở cả 7 tiểu thuyết của anh đều sử dụng đan quyện không thể tách rời hai yếu tố hiện thực và huyền ảo ở các mức độ đậm nhạt khác nhau Vì vậy có thể thấy khuynh hướng hiện thực huyền ảo là đặc trưng cơ bản nhất trong các tiểu thuyết của tác giả này

Chương 2 BÚT PHÁP HIỆN THỰC HUYỀN ẢO TRONG TỔ CHỨC TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG

2.1 Tổ chức không – thời gian tác phẩm

Nghệ thuật tổ chức không – thời gian tác phẩm của Nguyễn Bình Phương mang đặc trưng

rõ rệt của khuynh hướng hiện thực huyền ảo với những đặc điểm tương đồng trong mô hình cấu trúc Ở đó người ta nhận thấy dấu ấn đậm nét của nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, sự ảnh hưởng không nhỏ của những nhà văn lớn như F.Kafka, G.Marquez…, nhưng người ta cũng nhận ra sự chi phối của văn hóa, triết học, mĩ học phương Đông và một không khí sinh hoạt cộng đồng đậm bản sắc Việt

2.1.1 Tổ chức không gian

2.1.1.1 Không gian hiện thực

Các không gian được lựa chọn làm bối cảnh triển khai cốt truyện trong tiểu thuyết của anh đều rất thực với những địa danh cụ thể, hầu hết gắn liền với mảnh đất Thái Nguyên quê hương anh như: Làng Phan, Linh Nham, Linh Sơn, Núi Rùng, núi Hột, bãi Nghiền Sàng, chùa Hang, chùa Phù Liễn… Trong sáng tác của mình, Nguyễn Bình Phương kiến tạo hai loại hình không gian cơ bản là làng và phố, trong đó không gian làng chiếm tỷ lệ đa số

Mô hình làng Phan được xuất hiện trở đi trở lại trong nhiều tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương và thấm đẫm màu sắc phương Đông với cấu trúc không gian được kiến tạo dưới sự chi

Trang 9

phối của triết lý âm dương ngũ hành với đầy đủ các thành tố cơ bản của cấu trúc không gian vũ trụ: kim – thủy – mộc – hỏa – thổ Đó cũng là một hình ảnh làng xã đủ đầy các thành tố sông, núi, chùa, miếu, ao, nhà, vườn… tạo nên một hình thái không gian trọn vẹn cả vật chất lẫn tinh thần, cả nhận thức lẫn tâm linh Hình ảnh ấy, vì thế vô cùng thân thuộc, gần gũi trong tâm thức

người Việt Làng xuất hiện trong hầu hết các tác phẩm: Bả giời, Vào cõi, Những đứa trẻ chết già,

Người đi vắng, Thoạt kỳ thủy

Bên cạnh không gian làng, không gian phố cũng xuất hiện, tuy không nhiều, trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương Đó là những không gian phố huyện buồn vắng hay phố nhỏ

nơi thị xã, thị trấn trong Bả giời, Vào cõi, Người đi vắng Nhưng rõ nhất là không gian phố phường Hà Nội được khắc hoạ trong Trí nhớ suy tàn và Ngồi Để tạo ấn tượng chân thực,

không gian phố cũng được gắn với những cái tên cụ thể, có thật ở Hà Nội, đó là Hàng Giầy, Hàng Bông, Bà Triệu, Lý Thái Tổ… cùng với đó là Hồ Tây, Hồ Gươm, Núi Nùng, Bát

Tràng…

2.1.1.2 Sự đan quyện giữa không gian thực - ảo

Một trong những đặc trưng của nghệ thuật xây dựng không gian trong chủ nghĩa hiện thực huyền ảo là tạo ra sự đan quyện giữa không gian thực và ảo, đan xen giữa cái bình thường và phi lý nhằm kiến tạo nên một thế giới nằm đâu đó giữa hiện thực và huyền ảo Tương đồng với cấu trúc ấy, sự hòa quyện giữa thực và ảo cũng là đặc điểm nổi bật trong nghệ thuật tổ chức không – thời gian tác phẩm của Nguyễn Bình Phương Nhà văn cũng lựa chọn điểm xuất phát của bối cảnh truyện từ những không gian hiện thực rất gần gũi của cuộc sống, song điều đáng nói chính là tính chất kì bí, huyền hoặc đã xâm nhập, thấm đẫm không gian hiện thực ấy Tính chất huyền ảo của không gian được tạo nên từ sự phá vỡ giới hạn không gian thông thường, mở rộng chiều kích, biên độ không gian về phía phi thực hay mộng ảo

Không gian cõi âm mang màu sắc huyền thoại đậm nét thông qua cấu trúc song hành thực -

ảo, âm - dương cùng thủ pháp đồng hiện được sử dụng xuyên suốt hầu hết các tác phẩm Không

gian cõi âm gắn nhiều hơn với không gian làng ở các tiểu thuyết Bả giời, Vào cõi, Những đứa trẻ

chết già, Người đi vắng, Thoạt kỳ thủy Làng được xuất hiện trở lại nhiều lần trong các tác phẩm,

tạo nên tính chất huyền thoại cho truyện kể Không gian làng gắn liền với một kho huyền sử chứa đựng bao điều kì bí được tích tụ qua lời kể lưu truyền ngàn đời Màu sắc huyền ảo của tác phẩm được gợi lên từ những biểu tượng không gian mang ý nghĩa đạo giáo, tâm linh, hay triết học phương Đông cổ điển Không gian cõi âm luôn hiện diện song hành với không gian hiện thực tạo thành tính chất mơ hồ, khó xác định cho các sự kiện và diễn biến câu chuyện

Bên cạnh kiểu không gian hiện thực – tâm linh được tạo dựng từ sự giao hòa hai cõi âm – dương ở trên, kiến trúc không gian của Nguyễn Bình Phương còn hướng đến kiểu không gian hiện thực – tâm lý, với sự đan xen, xâm nhập thường xuyên của không gian hồi ức, giấc mơ vào thế giới hiện thực Không gian vì thế bị kéo giãn, mở rộng biên độ về phía vô thức Nhân vật thường xuyên đi về giữa hai không gian quá khứ - hiện tại Nghệ thuật làm mờ, ảo hóa không gian, cùng việc khơi sâu vào vùng không gian vô thức đã phủ lên không gian truyện một màu sắc huyền ảo bàng bạc Kiểu không gian này có mặt trong cả 7 tiểu thuyết và gắn liền với sự trở lại của hồi ức, của quá khứ

Cấu trúc không gian đa tầng, đa diện, phức tạp chồng chéo biểu hiện cách nhìn, quan niệm của nhà văn về hiện thực và con người Một thế giới hiện thực cả phần đời sống bên ngoài lẫn đời sống tâm lý – tâm linh đều bộn bề, phức tạp, chất chứa dồn nén nhiều tầng, nhiều cõi, nhiều kiếp với cả những điều khả tri lẫn bất khả tri không dễ gì nắm bắt

Trang 10

2.1.2 Tổ chức thời gian

2.1.2.1 Thời gian hiện thực

Cấu trúc thời gian trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương luôn song hành hai trục thời gian thực và thời gian tâm lý, tâm linh Các câu chuyện thường được bắt đầu bằng những mốc thời gian chính xác Và để tạo tính chân thực, tin cậy cho truyện kể, nhà văn đã sử dụng lối ghi chép thời gian chính xác đến từng phút, giờ, ngày, tháng, năm Cách khắc họa thời gian này có mặt ở hầu hết các tác phẩm và càng về sau nhà văn càng có ý thức ghi chép thời gian chính xác, tỉ mỉ nhưng không gợi ấn tượng hiện thực mà ngược lại càng tạo cảm giác mơ hồ bởi sự xóa nhòa các đường viền lịch sử Để tạo ấn tượng chân thực, Nguyễn Bình Phương còn sử dụng hình thức

ghi chép theo lối nhật ký, (Trí nhớ suy tàn), hay nhại cách chép sử biên niên (Người đi vắng,

Những đứa trẻ chết già), nhưng lại phá vỡ cảm giác hiện thực của người đọc bằng nội dung

ghi chép có tính chất dị thường, kỳ ảo:

Bên cạnh đó, Nguyễn Bình Phương còn sử dụng rất nhiều các thời điểm, các khoảng thời gian hiện thực như: sáng, trưa, chiều, tối, đêm, ngày… nhiều nhất là thời điểm đêm

2.1.2.2 Sự xâm nhập của thời gian huyền ảo vào thực tại

Trong tiểu thuyết của mình, Nguyễn Bình Phương xây dựng thời gian hiện thực huyền ảo thông qua những thủ pháp phong phú như: mơ hồ hóa, ảo hóa thời gian hiện thực; mở rộng chiều kích thời gian về phía phi thực, đồng hiện thời gian thực - ảo, âm – dương, vô thức – hữu thức, hiện thực – giấc mơ; tẩy trắng hoặc chồng tầng nhiều lớp thời gian, tạo độ lệch lớn giữa thời gian văn bản và thời gian truyện kể Tương ứng với kiến tạo không gian, bên cạnh thời gian hiện thực, Nguyễn Bình Phương còn sáng tạo thời gian cõi âm, thời gian giấc mơ, thời gian ký ức, vô thức, tiềm thức, tâm lý, tâm linh…

Thời gian cõi âm trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương luôn song hành cùng thời gian dương thế tạo thành hai lộ trình song song: hiện thực người sống và hiện thực người chết Thủ pháp đồng hiện thường xuyên được khai thác nhằm khắc họa những lớp thời gian chồng chéo lên nhau trong một dòng thực tại mơ hồ, đầy dấu vết trầm tích thời gian Dấu mốc thời gian không quan trọng bởi thời gian dường như là sự tái điệp vĩnh viễn thông qua đồng hiện

đa kiếp

Cấu trúc thời gian này thể hiện rõ đặc trưng của phương thức kết cấu thời gian trong chủ nghĩa hiện thực huyền ảo với việc xây dựng thời gian huyền thoại thông qua mô hình cấu trúc

không đầu không cuối, quay vòng để phát triển đến điểm tiếp tục quay vòng (Lê Huy Bắc),

tạo nên sự tái điệp, luân hồi vĩnh viễn Cấu trúc này biểu hiện trong hầu hết các tiểu thuyết

như Bả giời, Người đi vắng, Những đứa trẻ chết già, Ngồi

Bên cạnh thời gian tâm linh được khắc họa gắn với cõi âm, tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương còn khắc họa thời gian tâm lý được tạo nên từ những giấc mơ, từ dòng chảy ý thức,

từ màn sương mờ ảo của vô thức, tiềm thức Kiểu thời gian này gắn liền với ký ức, hoài niệm, quá khứ Các sự kiện không tiếp diễn tuyến tính theo trục thời gian biên niên mà thường xuyên bị xáo trộn, chia cắt, ngoái lại Thời gian không trôi chảy bên ngoài mà vận động bên trong tâm lý, hồi ức nhân vật Khắc họa tâm lý nhân vật, nhà văn thường xuyên sử dụng các thủ pháp phân mảnh, cắt ghép, đồng hiện, quay ngược, sai trật niên biểu, sai lệch thời gian kể với thời gian được kể… Kiểu thời gian tâm lý có mặt trong tất cả các tác phẩm nhưng rõ nét

hơn cả là trong Trí nhớ suy tàn, Thoạt kỳ thủy và Ngồi

Bút pháp hiện thực huyền ảo trong tổ chức không – thời gian tác phẩm đã giúp nhà văn xây dựng được một bức tranh hiện thực đa tầng diện

Ngày đăng: 17/01/2014, 14:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w