Đối tƣợng và phạm vi tƣ liệu nghiên cứu: 2.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu cơ bản của chúng tôi trong luận án này là truyền thuyết dân gian Nghệ An và Hà Tĩnh dưới các dạng
Trang 1Khảo sát và nghiên cứu truyền thuyết dân gian
xứ Nghệ Nguyễn Thị Thanh Lưu
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Luận án TS ngành: Văn học dân gian; Mã số: 62 22 36 01
Người hướng dẫn: GS.TS Lê Chí Quế
Năm bảo vệ: 2012
Abstract Tổng quan về truyền thuyết dân gian xứ Nghệ Nghiên cứu truyền thuyết
dân gian xứ Nghệ nhìn từ đặc trưng thể loại: không gian trong truyền thuyết dân gian xứ Nghệ; thời gian trong truyền thuyết dân gian xứ Nghệ; cấu trúc truyền thuyết với các dạng môtit tiêu biểu; nhân vật truyền thuyết Tìm hiểu truyền thuyết dân gian xứ Nghệ trong không gian văn hóa xứ Nghệ: truyền thuyết dân gian xứ Nghệ trong tương tác văn hóa vùng; truyền thuyết dân gian xứ Nghệ với thần tích và
lễ hội; truyền thuyết dân gian xứ Nghệ với các di tích văn hóa vật thể
Keywords Văn học dân gian; Truyền thuyết dân gian; Xứ Nghệ
1.2 Nghiên cứu văn học dân gian theo vùng đang là một hướng nghiên cứu có khả năng đem lại nhiều đóng góp mới mẻ không trùng lặp với các công trình đi trước Hướng nghiên cứu này một mặt đáp ứng được yêu cầu cụ thể hóa tối đa các mục tiêu nghiên cứu, mặt khác lại rất phù hợp với đối tượng nghiên cứu là truyền thuyết dân gian - một đối tượng
đáng được lưu ý hiện nay Chọn đề tài Khảo sát và nghiên cứu truyền thuyết dân gian xứ
Nghệ chúng tôi hy vọng sẽ có được cái nhìn hệ thống về truyền thuyết dân gian xứ Nghệ
trong tương quan với kho tàng truyền thuyết dân gian Việt Nam nói chung và góp thêm phần nào đó trong việc làm đầy đặn hơn, sáng rõ hơn diện mạo của truyền thuyết xứ Nghệ thông qua việc bổ sung thêm một số truyền thuyết dân gian mà chúng tôi sưu tầm được trong quá trình thực hiện luận án của mình
Trang 21.3 Xứ Nghệ là một tiểu vùng văn hóa đóng vai trò quan trọng trong nền văn hóa Việt Nam với những cá tính văn hóa độc đáo hình thành nên từ khí chất đặc trưng của sông núi, con người xứ sở này Tuy đã được nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau song xứ Nghệ với sự dày dặn của văn hóa dân gian vẫn tiếp tục tạo ra hấp lực đối với các nhà nghiên cứu bằng những nét khuyết hao, mờ nhạt chưa được tô vẽ lại của bức tranh văn hóa vùng đặc sắc
Đó chính là lý do khiến chúng tôi chọn xứ Nghệ để nghiên cứu trong khuôn khổ thể loại truyền thuyết
2 Đối tƣợng và phạm vi tƣ liệu nghiên cứu:
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu cơ bản của chúng tôi trong luận án này là truyền thuyết dân gian Nghệ An và Hà Tĩnh dưới các dạng: bản kể đã được sưu tầm và xuất bản nằm trong các thư tịch (văn học trung đại và thần tích, thần phả) cũng như trong các sách sưu tầm thời hiện đại, bản kể mới được sưu tầm qua quá trình điền dã do chúng tôi tự thực hiện
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận án của chúng tôi tập trung nghiên cứu thể loại truyền thuyết trong giới hạn không gian văn hóa vùng Nghệ Tĩnh cho nên có thể coi giới hạn không gian văn hóa ấy là đường biên xác định phạm vi nghiên cứu
2.3 Phạm vi tư liệu khảo sát
Với mong muốn nhìn đối tượng ở trạng thái phức tạp, bộn bề như nó vốn có, chúng tôi mở rộng tối đa phạm vi tư liệu khảo sát Trước hết, chúng tôi tìm kiếm truyền thuyết dân gian xứ Nghệ trong các công trình tư liệu đã xuất bản Bộ phận tư liệu này, ngoài các bộ sách
biên soạn sưu tầm chung tầm cỡ như bộ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam do Nguyễn Đổng Chi biên soạn, Tổng tập văn học dân gian người Việt do Kiều Thu Hoạch chủ biên còn có các sách vở do địa phương xuất bản như: Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ (tập 1) do PGS Ninh Viết Giao sưu tầm; Văn học dân tộc thiểu số Nghệ An (Phan Đăng Nhật chủ biên), Từ
Cổ Loa đến Đền Cuông (Nguyễn Nghĩa Nguyên),… Thứ hai, để tiếp tục cập nhật và bổ sung
đối tượng nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các tư liệu tự sưu tầm được tại các địa phương khác nhau trên đất Nghệ An qua các chuyến điều tra điền dã thực hiện vào năm 2006, 2008, 2009
Bộ phận tư liệu thứ ba mà chúng tôi khảo sát để tìm kiếm truyền thuyết dân gian xứ Nghệ là
các truyện ký thuộc thể loại văn xuôi trung đại như: Lan Trì kiến văn lục; Vũ trung tùy bút …
Ngoài ra, các thần tích của xứ Nghệ đã được sưu tầm và xuất bản cũng là nguồn tài liệu
nghiên cứu của chúng tôi Về bộ phận này, chúng tôi chủ yếu khảo sát qua cuốn Tục thờ thần
và thần tích Nghệ An (Ninh Viết Giao) Ngoài ra, để thực hiện các so sánh cần thiết trong
luận án, chúng tôi cũng sử dụng thêm một số công trình tư liệu về truyền thuyết dân gian các
vùng miền khác như: Truyền thuyết Lam Sơn (Nguyễn Sơn Anh); Văn học dân gian xứ Huế
(Vũ Nhị Xuyên)…
3 Lịch sử vấn đề
3.1 Vấn đề nghiên cứu bản chất thể loại của truyền thuyết
Truyền thuyết là thể loại có số phận khá đặc biệt trong đời sống văn học dân gian Việt Nam bởi sự công nhận tương đối muộn của học giới và những luồng ý kiến trái chiều về sự
tồn tại của nó Thuật ngữ truyền thuyết được Đào Duy Anh nêu ra lần đầu tiên trong bài viết
“Những truyền thuyết đời thượng cổ nước ta” (Tri Tân số 30 năm 1942), rồi được thực sự
công nhận vào những năm 50 của thế kỷ XX với một số công trình nghiên nhưng nó vẫn chưa thể nào xác lập được một vị trí trong nền văn học dân gian Việt Nam bởi sự bất đồng giữa các nhà nghiên cứu về mặt bản chất thể loại Sự bất đồng ý kiến trong cách nhìn nhận truyền thuyết của các học giả thể hiện rõ vào những năm 60 của thế kỷ XX, khi hai cuốn giáo trình về Văn học dân gian của Đại học Sư phạm và Đại học Tổng hợp công bố hai quan điểm hoàn toàn trái ngược về thể loại truyền thuyết Việc nghiên cứu truyền thuyết với tư cách là một thể loại được đặc biệt chú trọng và đã tạo ra những bước tiến mới trong những năm 70,
80, 90 của thế kỷ XX, với công trình Truyền thuyết anh hùng trong thời kỳ phong kiến (Kiều
Trang 3Thu Hoạch), Nghiên cứu tiến trình của văn học dân gian Việt Nam (Đỗ Bình Trị), giáo trình
Văn học dân gian Việt Nam (Lê Chí Quế chủ biên), cuốn sách Mối quan hệ giữa truyền thuyết người Việt và hội lễ về các anh hùng (Lê Văn Kỳ) Lịch sử nghiên cứu bản chất thể
loại truyền thuyết tiếp tục thu được thành tựu vào năm 2000, khi tác giả Trần Thị An bảo vệ
xuất sắc luận án tiến sĩ mang tên Đặc trưng thể loại và việc văn bản hóa truyền thuyết Trong
thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI, các nghiên cứu về truyền thuyết xuất hiện rải rác dưới dạng các bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành hoặc các luận văn, luận án với cách tiếp cận từ một cốt truyện, một chủ đề cụ thể hay một vùng truyền thuyết cụ thể Có thể
kể đến luận án tiến sĩ Khảo sát truyện kể dân gian Khơme Nam Bộ (qua thần thoại, truyền
thuyết, truyện cổ tích) (Phạm Tiết Khánh) bảo vệ năm 2007; bài viết của tác giả Trần Thị An
“Sự hình thành truyền thuyết dân gian - Tìm hiểu sự hình thành truyền thuyết Tứ vị thánh
nương (qua các nguồn thư tịch, truyền thuyết dân gian và tục thờ cúng)” (Kỷ yếu Hội thảo
quốc tế Việt Nam học lần thứ ba năm 2008); luận án tiến sĩ Truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ (1858 - 1918) (Võ Phúc Châu) bảo vệ năm 2010
Ngoài ra, việc sưu tầm truyền thuyết dân gian cũng dần dần thu được nhiều thành tựu Trong các tuyển tập truyện dân gian ở các địa phương, một phần không thể thiếu là bộ phận
truyền thuyết dân gian Gần đây nhất, hai tậpTruyền thuyết dân gian người Việt (Kiều Thu
Hoạch chủ biên) đã sưu tập được một khối lượng lớn các truyền thuyết dân gian ở địa phương cũng như các truyền thuyết dân gian được ghi chép vào kho tàng văn xuôi trung đại và kho thần tích
3.2 Vấn đề nghiên cứu văn học dân gian vùng Nghệ Tĩnh
Hướng nghiên cứu văn học dân gian theo vùng văn hóa đang trở thành một hướng nghiên cứu mang lại nhiều kết quả, có ý nghĩa thực tiễn cao và đã được không ít nhà nghiên cứu theo đuổi Năm 1978, tác giả Hoàng Tiến Tựu trong bài viết “Về phân vùng văn học dân
gian và ý nghĩa phương pháp luận của nó” (Dân tộc học số 2) đã đề cập trực tiếp đến vấn đề
này Trong thập kỷ 80 của thế kỷ XX, hướng nghiên cứu này tiếp tục được học giới quan tâm,
thể hiện qua các cuộc hội nghị, hội thảo khoa học như: Hội nghị văn học dân gian miền
Trung lần thứ nhất được tổ chức tại Đà Nẵng (1981); Hội thảo khoa học về phân vùng văn hóa do Viện Văn hóa tổ chức Trong các hội nghị khoa học đó, có không ít bài viết về vùng
văn hóa dân gian xứ Nghệ Thập kỷ 80 cũng đánh dấu sự hoàn thành bản thảo cuốn Địa chí
văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh (1984) do Nguyễn Đổng Chi cùng với các nhà nghiên cứu khác
(Ninh Viết Giao, Vũ Ngọc Khánh) biên soạn Trong cuốn sách này, ở phần Truyện kể dân
gian do nhà nghiên cứu Ninh Viết Giao viết, lần đầu tiên, truyền thuyết dân gian xứ Nghệ
được sơ lược tìm hiểu Tuy nhiên, ngay cả khi đã có ý thức phân loại các thể loại văn học dân gian của xứ Nghệ (với các tiểu mục riêng cho từng thể loại), Ninh Viết Giao vẫn chỉ dành một tiểu mục chung cho hai thể loại cổ tích và truyền thuyết Thập kỷ 90 của thế kỷ XX, đáng
lưu ý nhất là sự ra đời bộ sách Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ (1993) gồm bốn tập - là
bộ sách sưu tầm có quy mô và hệ thống đầu tiên về truyện kể dân gian xứ Nghệ Đây là cơ sở
tư liệu quan trọng để chúng tôi tiến hành nghiên cứu luận án này Ngoài ra, hội thảo Văn hóa
truyền thống các tỉnh Bắc Trung Bộ trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước do Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Viện Nghiên cứu văn hóa dân gian Việt Nam1
và Hội Văn nghệ dân gian Nghệ An phối hợp tổ chức năm 1994 cũng đã quy tụ được khá nhiều bài viết về văn hóa dân gian xứ Nghệ Ở thế kỷ XXI, truyền thuyết xứ Nghệ lần đầu tiên được
đứng riêng một tiểu mục trong cuốn Về văn học dân gian xứ Nghệ (2004) của Ninh Viết
Giao Bàn về truyền thuyết xứ Nghệ trong phần này, tác giả chủ yếu liệt kê những truyền thuyết trên đất Nghệ qua quá trình lịch sử chứ chưa đi đến những nhận định chung hơn về tính chất, đặc điểm… của thể loại này trong không gian văn hóa xứ Nghệ Dù vậy, đây vẫn là một trong những tiền đề quan trọng để chúng tôi nghiên cứu đề tài này
1 Nay là Viện Nghiên cứu Văn hóa
Trang 4Trong lĩnh vực văn học dân gian, xu hướng nghiên cứu theo vùng đã cho ra đời nhiều công trình có giá trị phục hồi vốn cổ ở các địa phương cụ thể Riêng văn hóa dân gian xứ Nghệ - một miền đất hứa từng được đề cập một cách khái lược trong các cuốn sách địa chí
xưa (như: Nghệ An ký, An Tĩnh cổ lục,…) thì mới chỉ có những bài viết lẻ tẻ khai thác Mảng
thể loại truyền thuyết trong giới hạn văn hóa vùng xứ Nghệ thể hiện sự trống vắng trên cả hai phương diện: phương diện tư liệu lẫn phương diện nghiên cứu Đây là một khó khăn đối với chúng tôi Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước về truyền thuyết dân gian nói chung và về vùng văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh đã được chúng tôi liệt kê trên đây sẽ là những gợi ý bổ ích và quý báu cho chúng tôi khi nghiên cứu đề tài này
4 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi chủ yếu sử dụng 5 phương pháp sau đây: phương pháp hệ thống, thống kê, phân loại; phương pháp điều tra thực địa; phương pháp liên ngành; phương pháp phân tích; phương pháp so sánh
5 Đóng góp của luận án:
5.1 Lần đầu tiên trình bày một cái nhìn hệ thống về truyền thuyết dân gian xứ Nghệ với các số liệu thống kê tương đối đầy đủ và sự phân loại rõ ràng về đối tượng này Qua đó, luận án của chúng tôi góp phần bổ sung tư liệu cho việc nghiên cứu và giảng dạy truyền thuyết dân gian Việt Nam nói chung
5.2 Luận án góp phần tái khẳng định, củng cố hệ thống thi pháp thể loại của truyền thuyết dân gian bằng các phân tích và dẫn chứng cụ thể từ kho tàng truyền thuyết dân gian xứ Nghệ
5.3 Luận án của chúng tôi sẽ tái dựng diễn biến lưu truyền của truyền thuyết dân gian
xứ Nghệ thông qua việc tìm hiểu mối quan hệ qua lại giữa truyền thuyết dân gian và lễ hội dân gian, truyền thuyết dân gian và các di tích vật thể, truyền thuyết đã được sưu tầm, văn bản hóa và truyền thuyết đang sống bằng hơi thở của dân gian
5.4 Luận án sẽ bước đầu phác thảo những nét đặc trưng của truyền thuyết dân gian xứ Nghệ thông qua việc chỉ ra những tương đồng và dị biệt của chúng với truyền thuyết dân gian Việt Nam nói chung
6 Cấu trúc của luận án:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận án sẽ gồm 3 chương sau:
- Chương I: Tổng quan về truyền thuyết dân gian xứ Nghệ
- Chương II: Truyền thuyết dân gian xứ Nghệ nhìn từ đặc trưng thể loại
- Chương III: Truyền thuyết dân gian xứ Nghệ trong không gian văn hóa xứ Nghệ
NỘI DUNG CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN XỨ NGHỆ
1.1 Diện mạo chung của truyền thuyết dân gian xứ Nghệ
1.1.1 Số lượng truyền thuyết dân gian xứ Nghệ
Tiêu chí được chúng tôi lưu ý hàng đầu khi thống kê là lựa chọn những truyện kể thích hợp và đáp ứng đủ các yếu tố cần thiết để làm nên một truyền thuyết Tuy nhiên, để nhìn thấy được các xu hướng vận động và phát triển của thể loại này, chúng tôi không chỉ chọn những truyền thuyết thuần chất không lẫn vào đâu được mà còn chủ ý lựa những truyền thuyết mờ nhòe, đứng mấp mé, chênh vênh ở ranh giới của cổ tích hay thần thoại Tiêu chí thứ hai là song hành thống kê các bản kể đã được cố định ở dạng văn bản và các bản kể truyền miệng chưa được ghi chép còn vương sót lại đâu đó trong dân gian Tiêu chí thứ ba là quy các dị bản về một mối - coi như đó chỉ là một đơn vị thống kê chứ không để mỗi dị bản
là một đơn vị riêng lẻ
Trang 5Với các tiêu chí được định rõ như trên, chúng tôi thống kê được 138 truyền thuyết dân gian xứ Nghệ qua các sách vở, thư tịch và sưu tầm được 9 truyền thuyết vẫn đang lưu truyền trong dân gian mà chưa từng được cố định hóa bằng văn bản
1.1.2 Tương quan với số lượng các thể loại truyện kể dân gian khác
Cuốn KTTKDGX.Nghệ (tập 1) có 98 truyện kể thì có 6 thần thoại (6.2%), 36 truyền
thuyết (36.7 %) và 56 truyện cổ tích (57.1%) Những con số mang tính chất tượng trưng trên đây phần nào cho thấy trong khi thần thoại đã trở nên hiếm hoi còn cổ tích chiếm ưu thế về mặt số lượng thì truyền thuyết vẫn giữ được một vị thế đáng kể trong đời sống dân gian Con
số lưng chừng và vị thế ở giữa của truyền thuyết trong kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ
một lần nữa minh chứng cho chức năng gạch nối của thể loại này trong tâm thức dân gian
Những con số thống kê ban đầu trên đây đã phần nào phác họa một cách tổng quan diện mạo của thể loại truyền thuyết trong đời sống sinh hoạt văn hóa dân gian xứ Nghệ
1.2 Các dạng truyền thuyết tiêu biểu
1.2.1 Lý thuyết phân loại
Thực tế phức tạp của vấn đề phân loại truyền thuyết đã từng được nhà nghiên cứu
Kiều Thu Hoạch mô tả khá tỉ mỉ trong bài viết Xác định thể loại truyền thuyết Theo nhận
định của chúng tôi, mỗi cách phân loại truyền thuyết của các nhà folklore trong và ngoài nước nêu trên đều có lý lẽ riêng do căn cứ vào các hệ tiêu chí khá cụ thể Tuy nhiên, chưa có một phương án phân loại nào có thể gọi là phương án vạn năng để có thể sử dụng trong mọi tình huống nghiên cứu Với mục đích nghiên cứu thể loại truyền thuyết gắn với một địa phương cụ thể, trong một môi trường diễn xướng cụ thể, chúng tôi nhận thấy về cơ bản, cách phân loại của nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch phù hợp nhất cho tình huống nghiên cứu mà luận án này đặt ra Song, với thực tế tư liệu truyền thuyết đặc thù của địa phương đã được thống kê ở mục 1.1.1, chúng tôi có một chút thay đổi nhỏ trong cách phân chia các tiểu loại cho loại truyền thuyết nhân vật
Trong loại truyền thuyết nhân vật, chúng tôi chia làm 2 bộ phận căn cứ vào đối tượng
được kể, gồm: truyền thuyết về nhiên thần và truyền thuyết về nhân thần Trong bộ phận
truyền thuyết nhân thần, chúng tôi gộp mục truyền thuyết về người anh hùng chống xâm lược
và truyền thuyết về các anh hùng nông dân thành một tiểu loại chung Bên cạnh tiểu loại
truyền thuyết về người anh hùng chống xâm lược và anh hùng nông dân và tiểu loại truyền thuyết về người anh hùng văn hóa còn có thêm tiểu loại truyền thuyết về các linh nhân hóa thần Đây là bộ phận truyền thuyết kể về những con người hết sức bình thường nhưng vì
những duyên do tình cờ đột nhiên thành thần thánh
Ngoài ra, theo tiêu chí hình thức tồn tại và lưu truyền của truyền thuyết, chúng tôi sẽ chia truyền thuyết làm hai dạng: truyền thuyết định hình trên văn bản và truyền thuyết lưu truyền trong dân gian
1.2.2 Phân loại theo hình thức tồn tại và lưu truyền
- Truyền thuyết định hình trên văn bản: Đặc trưng thể loại gắn liền với lịch sử đã trở
thành một phép lợi thế để truyền thuyết đường hoàng bước chân vào lãnh địa của các văn bản thành văn Nhờ vào phép lợi thế ấy, truyền thuyết được lưu giữ ở vô số văn bản thời trung đại với sự đa dạng về thể loại: sách địa chí, sách sử, truyện chí quái, thần tích, thần phả… Các truyền thuyết đã được định hình qua thời gian và lưu lại trong các thư tịch, sách vở ấy được chúng tôi liệt vào dạng truyền thuyết định hình trên văn bản Những truyền thuyết được lấy làm đối tượng nghiên cứu trong luận án này chủ yếu ở dạng đã cố định trên văn bản Những truyền thuyết bất động trong văn bản cũng tựa như những hóa thạch văn hóa - phác nên chân dung một xứ Nghệ đậm màu huyền thoại và dày dạn vết tích văn hóa
- Truyền thuyết lưu truyền trong dân gian: Dạng truyền thuyết lưu truyền thể hiện sức
sống và khả năng bám rễ vào mạch chảy xã hội của thể loại này trong quá trình tái tạo không ngơi nghỉ của nó Độ phong phú của dạng truyền thuyết này vừa phụ thuộc vào khả năng tạo sinh khách quan của thể loại, vừa phụ thuộc vào quá trình tự khảo sát mang tính chủ quan của
Trang 6chúng tôi Những truyền thuyết còn tồn tại ở dạng này có thể là những truyện đã từng được
văn bản hóa song quay trở về dân gian bằng quá trình tái truyền miệng; cũng có thể đó là
những truyện chưa từng được cố định bằng văn bản, song nhờ sức mạnh dai dẳng của trí nhớ
dân gian mà tồn tại đến ngày nay - dạng này chúng tôi tạm gọi là truyện truyền khẩu nguyên
thủy Chúng tôi chỉ lưu tâm thống kê các truyền thuyết truyền khẩu nguyên thủy trong số các
truyền thuyết tồn tại ở dạng lưu truyền trong dân gian Trong thời gian nghiên cứu có hạn, chúng tôi đã thực hiện được 4 chuyến điền dã về các địa phương như: huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên, Đô Lương, Quỳ Hợp, Con Cuông (tỉnh Nghệ An) và đã sưu tầm được 9 truyền thuyết ở dạng còn lưu truyền trong dân gian Con số ít ỏi ấy là kết quả chủ quan của những chuyến điền dã ngắn ngủi của chúng tôi, đồng thời cũng phản ánh khách quan tồn tại của dạng truyền thuyết lưu truyền trong dân gian Tuy rằng con số ít ỏi của dạng truyền thuyết truyền khẩu nguyên thủy được chúng tôi tìm thấy chưa đủ sức khôi phục lại một mảng truyền thuyết địa phương đã thất truyền song tự thân sự hiếm hoi ấy cũng đã phác nên thực trạng tồn tại riêng của truyền thuyết dân gian xứ Nghệ
1.2.3 Phân loại theo nội dung
Qua thống kê, phân loại, chúng tôi thu được kết quả định lượng như sau: truyền thuyết nhân vật có 122 truyện, truyền thuyết địa danh có 22 truyện và truyền thuyết phong - vật có 3 truyện Mức tập trung đậm đặc với tỷ lệ 83 % ở loại truyền thuyết nhân vật phản ánh
rõ nét thói quen sáng tạo, thị hiếu lưu truyền của nhân dân vùng văn hóa Nghệ Tĩnh với thể
loại truyền thuyết
- Truyền thuyết nhân vật: gồm truyền thuyết nhiên thần và nhân thần
Truyền thuyết nhiên thần trong kho truyền thuyết dân gian xứ Nghệ được định lượng bằng con số 23/147 (chiếm 15.6%) Con số khiêm tốn ấy phản ánh sự tồn tại ít ỏi của mảng truyền thuyết nhiên thần nhưng chưa hẳn đã phản ánh đúng mực về mức độ phát triển của tín ngưỡng dân gian trên mảnh đất xứ Nghệ Đó chỉ là con số bề mặt gồm những truyền thuyết nhiên thần còn ở dạng nguyên bản Trong chế độ phong kiến, dưới áp lực thu phục thần quyền về dưới trướng vương quyền, các vị thần của dân gian đã buộc phải phủ lên mình những phục sức sao cho phù hợp với tình trạng mới Cải biến các vị nhiên thần bằng cách đem đến hình hài, gốc gác nhân thần cho họ là cách làm phổ biến trong văn học dân gian lúc bấy giờ Do đó, nếu tìm hiểu thật kỹ càng bộ phận truyền thuyết nhân thần, chúng ta sẽ tri nhận thêm nhiều câu chuyện vốn là về các thần tự nhiên đã được biến cải thành truyện về nhân thần
Truyền thuyết nhiên thần thường chỉ xoay quanh hai kiểu mô típ chính: mô típ hiện thân và mô típ hiển linh phù trợ Trong khi mô típ hiển linh phù trợ có định dạng đơn nhất thì
mô típ hiện thân của nhiên thần lại biểu hiện khá đa dạng trong truyền thuyết dân gian Bên cạnh các mô típ hiện thân quen thuộc, chúng tôi còn gặp một số mô típ hiện thân khá đặc biệt của các nhiên thần Ví dụ như mô típ sinh ra từ con người hay giáng sinh thành người Sự ra đời dưới hình thức đứa con của loài người hay mô típ giáng sinh dưới hình dạng con người trên đây của nhiên thần có thể coi là mô típ lạ bởi bản nguyên của nhiên thần là sự vật tự nhiên nên các mô típ hiện thân thông thường luôn gắn với tự nhiên Đây chắc hẳn là một bước quá độ của tư duy dân gian trong quá trình phát triển từ tư duy huyền thoại đến tư duy tôn giáo; là sự chuyển mình từ tín ngưỡng sùng bái tự nhiên sang tín ngưỡng sùng bái con người Các mô típ hiện thân của nhiên thần đã phác thảo ra một con đường phát triển của tư duy dân gian Chúng tôi nhìn thấy sự biến chuyển rõ rệt từ mô típ hiện thân kỳ lạ từ hiện tượng đột biến của tự nhiên cho đến mô típ ứng đồng tự xưng của nhiên thần Đặc biệt hơn, đến mô típ sinh ra do con người và giáng sinh thành người thì mối liên kết thần - người đã trở nên sâu sắc hơn một bậc Trong mối liên kết ấy, chúng tôi nhận thấy đã bắt đầu có sự nhập nhằng, hoán đổi chức năng giữa thần và người - biểu hiện của một bước đi dài trong tư duy dân gian
Trang 7Là bộ phận truyền thuyết có số lượng lớn (99/147 truyện, chiếm 67.3%) và được phân
chia thành ba mảng khác nhau dựa vào tính chất của các nhân vật được kể (anh hùng chống
giặc ngoại xâm, anh hùng văn hóa, linh nhân hóa thần), truyền thuyết nhân thần hội đủ các
nhân tố để trở thành bộ phận tiêu biểu của thể loại Chúng tôi đã thống kê định lượng được
kết quả sau đây: Truyền thuyết về người anh hùng chống giặc ngoại xâm và anh hùng nông
dân có 45 truyện; Truyền thuyết về người anh hùng văn hóa có 26 truyện; Truyền thuyết về linh nhân hóa thần có 28 truyện Tuy chỉ được thống kê trong giới hạn không gian văn hóa
xứ Nghệ, các con số trên đây vẫn thể hiện một kết quả đồng nhất với truyền thuyết dân gian
nói chung khi đa số truyền thuyết thuộc về tiểu loại truyền thuyết về người anh hùng chống
giặc ngoại xâm và anh hùng nông dân Qua khảo sát sâu bộ phận truyền thuyết nhân thần,
chúng tôi lọc ra được 16 truyện nguyên là truyền thuyết nhiên thần, trong đó, vị nhân thần thực chất là từ một nhiên thần được lịch sử hóa, nhân thế hóa mà thành Số lượng truyền thuyết đã biến dạng này góp phần làm phong phú thêm cho bộ phận truyền thuyết nhiên thần (23+16 truyện), đồng thời giảm thiểu bộ phận truyền thuyết nhân thần về mặt định lượng (99-
16 truyện) Mặt khác, nó cũng thu hẹp khoảng cách định lượng giữa truyền thuyết nhiên thần
và truyền thuyết nhân thần (theo đó, truyền thuyết nhân thần từ chỗ có số lượng gấp 4.3 lần truyền thuyết nhiên thần đã giảm xuống chỉ còn gấp đôi) Sự thay đổi của các con số, sự giảm thiểu tỷ lệ chênh lệch của hai bộ phận truyền thuyết cũng biểu thị mức độ biến đổi hay chính xác hơn là mức độ lịch sử hóa, nhân thế hóa truyền thuyết nhiên thần
- Truyền thuyết địa danh
Chỉ chiếm 14.9% tổng số các truyền thuyết dân gian xứ Nghệ, truyền thuyết địa danh
có chỗ đứng tương đối khiêm tốn song trên lãnh địa nhỏ nhoi ấy, loại truyền thuyết này vẫn là những trình diễn đặc trưng của trí tuệ và tâm hồn dân gian xứ Nghệ Nét đặc trưng dễ thấy nhất trong các truyền thuyết địa danh xứ Nghệ là các tên đất, tên làng, tên đình, tên miếu được kể đều tồn tại đâu đó trên mảnh đất này
- Truyền thuyết phong tục - sản vật
Loại truyền thuyết phong tục - sản vật trong kho tàng truyền thuyết dân gian xứ Nghệ
vô cùng hiếm hoi với 3 truyện được tìm thấy trong Kho tàng truyện kể dân gian xứ Nghệ Các
truyền thuyết này mới chỉ dừng lại ở việc mô tả các phong tục, các trò diễn dân gian chứ chưa tạo ra được một kết cấu cụ thể Dù sao, sự hiện diện của chúng cũng cho thấy diện mạo khá
đủ đầy của truyền thuyết dân gian xứ Nghệ về phương diện thể loại
1.3 Các trung tâm truyền thuyết tiêu biểu
Chính cái lõi lịch sử đặc trưng của thể loại truyền thuyết cùng với năng lượng phi thường của niềm tin dân gian đã tạo nên những cơn lốc xoáy sáng tạo Những cơn lốc xoáy sáng tạo xoay quanh điểm trung tâm là những chi tiết mang tính lịch sử đã hình thành nên những “vùng trũng” độc đáo trên địa hạt thể loại truyền thuyết - quần tụ ở đó những mảnh truyền thuyết có liên quan đến nhau Chúng tôi gọi những “vùng trũng” ấy là các trung tâm truyền thuyết Trong điều kiện các cơn lốc sáng tạo đã thuộc về quá vãng, các “vùng trũng” cũng đã trở nên nhạt nhòa bởi sự san lấp của thời gian, chúng tôi buộc phải men theo các mảnh vỡ truyền thuyết và các mối cố kết của truyền thuyết với địa phương để phục dựng lại các trung tâm truyền thuyết
1.3.1 Truyền thuyết dạng chuỗi và các trung tâm truyền thuyết tiêu biểu
Các truyền thuyết dạng chuỗi chính là sản phẩm của cơn lốc xoáy sáng tạo mà tâm điểm là các chi tiết lịch sử có thật Lấy cảm hứng từ một chi tiết lịch sử (nhân vật hoặc sự kiện lịch sử) nào đó, dân gian dốc sức sáng tạo nên vô số truyền thuyết có mối liên thông với nhau qua cái gốc cội chung Từ những chuỗi truyền thuyết mang tính hệ thống phi vật thể, một hệ thống mang tính vật thể - các đền miếu được dựng nên góp phần củng cố không gian truyền thuyết cá biệt, đậm đặc địa phương tính Đó là con đường hình thành nên các trung tâm truyền thuyết - một con đường độc đạo được khai mở bằng chính những đặc trưng thể loại Qua quá trình phân loại kho truyền thuyết dân gian xứ Nghệ, chúng tôi nhận thấy có ít
Trang 8nhất ba chuỗi truyền thuyết, liên quan đến ba nhân vật lịch sử và ba sự kiện lịch sử gắn bó với địa phương Đó là Mai Hắc Đế với sự kiến lập và tan rã của nước Vạn An, An Dương Vương
với cái chết cùng đường ở biển Diễn Châu và Lê Lợi với công cuộc nếm mật nằm gai chống
quân Minh nơi miền núi xứ Nghệ Với ba chuỗi truyền thuyết trên đây, chúng tôi cho rằng,
xứ Nghệ có ít nhất ba trung tâm truyền thuyết: Nghi Lộc - Diễn Châu, Nam Đàn, miền Tây
xứ Nghệ
Để hình thành nên một trung tâm truyền thuyết, nếu chuỗi truyền thuyết là điều kiện cần thì các di tích vật thể đi kèm lại là điều kiện đủ Khảo xét các địa phương tồn tại các chuỗi truyền thuyết, nếu đồng thời cũng có sự tồn tại dày đặc của các đền miếu, các địa danh liên quan thì chúng tôi khẳng định, đó là một trung tâm truyền thuyết
Các trung tâm truyền thuyết đã được xác định tuy hình thành từ những tâm điểm rất đặc thù, cá biệt nhưng dường như không hoàn toàn phát triển độc lập, riêng rẽ mà ngược lại, chúng có mối liên kết qua lại, góp phần mở rộng không gian sống của thể loại truyền thuyết
Từ những mối liên kết ấy, các truyền thuyết lan tỏa rất nhanh để rồi hình thành nên những vùng ngoại vi dày đặc truyền thuyết Qua thời gian tích lũy, các vùng ngoại vi ấy rồi cũng dần dà biến nhập vào lãnh địa các trung tâm truyền thuyết hoặc trở thành các trung tâm phát triển độc lập (nếu sẵn có cơ sở nền tảng) Ngày nay, trên đất Nghệ, các nhà nghiên cứu tìm thấy dấu tích của các đình, đền, miếu mạo thờ An Dương Vương, Mai Hắc Đế, Lê Lợi và các
tướng sĩ rải rác khắp nơi chứ không chỉ ở cái nôi địa phương tạo sinh ra chúng
1.3.2 Nguyên tắc hình thành các trung tâm truyền thuyết
Qua nghiên cứu tư liệu thực tế của truyền thuyết dân gian xứ Nghệ, chúng tôi rút ra một số nguyên tắc kiến tạo các trung tâm truyền thuyết sau đây:
- Dưới những đặc trưng của thể loại truyền thuyết: tính gắn bó với địa phương và các
địa danh cụ thể; là sự liên thông, kết nối với tín ngưỡng dân gian; là sự hiển hiện mang tính vật chất ở dạng đình đền miếu mạo
- Hệ quả của tính lan tỏa của văn học dân gian: Dù sự kết nối với một địa phương
nào đó rất quan trọng đối với quá trình hình thành nên một trung tâm truyền thuyết song tính lưu động của truyền thuyết cũng cực kỳ cần thiết trong việc thiết lập nên một bầu không khí cho thể loại này tiếp tục sống và phát triển
- Dựa trên cơ sở chủ quan của địa phương: Là những câu chuyện được sáng tạo nên
từ những sự kiện, nhân vật lịch sử có thật, truyền thuyết là thể loại đòi hỏi phải có chất liệu phù hợp để sáng tạo Bởi vậy, truyền thuyết có phong phú, đa dạng hay không phụ thuộc rất nhiều ở độ phong phú của chất liệu thực tế Các trung tâm truyền thuyết chỉ có thể hình thành trên các vùng đất tồn tại các nhân vật, sự kiện lịch sử đáng kể để làm chất liệu cho dân gian sáng tạo
Tiểu kết chương Một
Qua khảo sát, hệ thống, phân loại các truyền thuyết dân gian xứ Nghệ với những con
số cụ thể, một số vấn đề mang tính đặc trưng của vùng truyền thuyết xứ Nghệ đã được hé mở
1 Tuy không phải là thể loại có số lượng truyện lớn nhất (so với cổ tích) song ở vị thế
cái gạch nối truyền thuyết đã gây dựng nên được một bầu khí quyển trên đất Nghệ
2 Truyền thuyết xứ Nghệ ngày nay chủ yếu tồn tại dưới dạng văn bản bởi định thức
lưu truyền: văn bản hóa, cố định hóa - quay về dân gian - phá vỡ cấu trúc văn bản cố định -
tái sinh cấu trúc mới Các truyền thuyết ở dạng truyền khẩu nguyên thủy vô cùng hiếm hoi
3 Qua phân loại truyền thuyết về mặt nội dung, chúng tôi nhận thấy truyền thuyết dân gian xứ Nghệ tập trung chủ yếu vào loại truyền thuyết nhân vật với mức độ đậm đặc ở tỷ lệ
83 % Một mặt, tỷ lệ ấy phản ánh thói quen sáng tạo, thị hiếu lưu truyền thể loại truyền thuyết của nhân dân vùng Nghệ Tĩnh; mặt khác, nó thể hiện rõ trạng thái đời sống tinh thần của nhân dân nơi đây với cơn khát niềm tin cần được bù đắp bằng thế giới thần linh trong tâm thức
Trang 94 Những nghiên cứu sơ bộ ban đầu hai bộ phận truyền thuyết nhiên thần và truyền thuyết nhân thần về độ chênh tỷ lệ, khả năng chuyển hóa lẫn nhau… cho thấy xu hướng phát triển của tư duy dân gian đi từ tư duy huyền thoại đến tư duy tôn giáo, từ tín ngưỡng sùng bái
tự nhiên đến tín ngưỡng sùng bái con người Ngoài ra, sự vượt trội về mặt số lượng của truyền thuyết ở tiểu loại truyền thuyết về các anh hùng chống ngoại xâm và anh hùng nông dân (so với tiểu loại truyền thuyết về anh hùng văn hóa và truyền thuyết về các linh nhân hóa thần) đã thể hiện phần nào tính cách và tâm hồn người xứ Nghệ
5 Qua khảo sát các truyền thuyết dạng chuỗi và các di tích vật chất liên quan, chúng tôi xác định được ít nhất 3 trung tâm truyền thuyết tiêu biểu của vùng văn hóa Nghệ Tĩnh, gồm có: Nam Đàn, Diễn Châu - Nghi Lộc và miền núi Tây Nghệ
CHƯƠNG II TRUYỀN THUYẾT DÂN GIAN XỨ NGHỆ NHÌN TỪ ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI 2.1 Không gian trong truyền thuyết dân gian xứ Nghệ
- Tính cố định - một thuộc tính đặc trưng của không gian truyền thuyết
Truyền thuyết gắn với những địa danh xác thực: Thực chất, tính cố định của không
gian truyền thuyết là tính xác định về địa điểm, địa danh trong cái nhìn tương quan so sánh với tính phiếm chỉ, không xác định của không gian trong truyện cổ tích Với tính cách là những mẩu chuyện nhỏ “xoay quanh các hiện tượng lịch sử”, được “hình thành khi biến cố lịch sử đã xảy ra” [13, 38], truyền thuyết tồn tại và phát triển trên cơ sở gợi ý của lịch sử - một lịch sử sơ khai nhất của những nhân vật xác định, những địa danh xác định Những câu
chuyện trong chùm Truyền thuyết về Lý Nhật Quang được lưu hành chủ yếu ở bốn nơi:
Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Định Đặc biệt, ở trên đất Nghệ An - nơi Lý Nhật Quang làm Tri châu trong 19 năm có vô số những tên đất, tên làng nhắc nhớ đến ông bằng chính những công lao to lớn và cái chết bí ẩn đã được huyền thoại hóa trong ký ức dân gian
Đó là vùng Bạch Ngọc (Đô Lương), Hoàng Mai (Quỳnh Lưu), Nam Kim (Nam Đàn), Công Trung (Yên Thành), Khe Bố (thuộc huyện Tương Dương ngày nay), Cự Đồn (thuộc huyện Con Cuông ngày nay)… Dấu tích của Lý Nhật Quang còn để lại trong tâm thức nhân dân xứ Nghệ bằng những câu chuyện ở những địa danh khác nhau ( Khe Chè - Con Cuông; Ngọc Sơn, Lam Sơn, Bồi Sơn - Đô Lương…)
Truyền thuyết “kiên cố hóa” môi trường diễn xướng bằng các hình thức văn hóa vật thể: Truyền thuyết Lý Nhật Quang ở Nghệ An được lưu truyền cho đến tận ngày nay ở nhiều
địa phương một phần cũng là nhờ vào các hoạt động của đền, miếu thờ ông Ninh Viết Giao
đã thống kê được rất nhiều đền thờ Lý Nhật Quang như: đền Vĩnh Yên (làng Vĩnh Yên, phường Hưng Vĩnh, thành phố Vinh), đền kiêm đình Vạn Lộc (làng Vạn Lộc, Hưng Nguyên), đền Nhạn Tháp (làng Nhạn Tháp, xã Hồng Long, Nam Đàn), đền làng Thượng (làng Yên Lý Thượng, xã Diễn Yên, Diễn Châu),… Thần tích và các mẩu chuyện về Lý Nhật Quang xung quanh các đền miếu còn lưu lại nhiều chuyện hiển linh thần kỳ của Ngài Ngoài
ra, dân gian còn lưu lại một bài vè về Lý Nhật Quang, thể hiện sự cộng hưởng của các thể loại văn học dân gian khác trong sự cố định hóa không gian diễn xướng của truyền thuyết
Như vậy, có thể thấy rằng, thông qua cơ chế ràng buộc với một hình thức văn hóa vật thể nào đó, truyền thuyết đã tự mở ra cho nó một môi trường sống bao la với sự liên thông, kết nối cùng tín ngưỡng dân gian, lễ hội dân gian, trò diễn dân gian; đồng thời cũng tạo ra cơ
Trang 10hội để đi từ việc định hình rõ nét cho đến cá biệt hóa, cô đặc hóa không gian diễn xướng của
cơ chế đặc biệt nào đó Nghĩa là, căn cốt của truyền thuyết ấy sẽ được chuyển di sang một không gian văn hóa khác, như thể đó mới là cái nôi phát sinh và phát triển của nó vậy
Tính di động chỉ thực sự xuất hiện khi tất cả các yếu tố cơ bản nhất của truyền thuyết đều được di chuyển, trong đó, quan trọng nhất là motif truyện Chúng ta có thể tìm thấy vô vàn những mẩu nhỏ của truyền thuyết về một nhân vật, một sự kiện được kể theo những cách khác nhau, với những motif khác nhau ở nhiều địa phương khác nhau bằng cách men theo tính lan tỏa đặc thù của quá trình lưu truyền văn học dân gian, nhưng thật không dễ gì có thể tìm thấy những câu chuyện với motif hoàn toàn như nhau, kể về cùng một nhân vật, một sự kiện mà được gắn với hai địa phương khác nhau, thậm chí ở hai dân tộc khác nhau Truyền thuyết Lý Nhật Quang ở Nghệ An là một truyền thuyết xuất hiện tình trạng như vậy trong quá trình lưu truyền Có thể coi nó là một trường hợp đặc trưng thể hiện tính di động của không gian truyền thuyết Bằng các tư liệu thu thập được từ hai chuyến điền dã tại hai huyện Đô Lương và Con Cuông, chúng tôi nhận thấy sự trùng lặp motif trong câu chuyện về cái chết của Lý Nhật Quang ở Đô Lương với câu chuyện về cái chết của vị tướng ở Con Cuông Theo nguyên tắc phát sinh và lan truyền của văn học dân gian, sự trùng lặp motif là điều hoàn toàn bình thường, song sự trùng lặp motif diễn ra trong sự trùng khít về mặt sự kiện và nhân vật ở thể loại truyền thuyết thì lại là điều kỳ lạ đáng bàn Rõ ràng, với sự trùng lặp motif giọt máu, motif mả thiên táng trong câu chuyện về cái chết của Lý Nhật Quang được kể ở hai địa phương khác nhau, ở hai dân tộc khác nhau, chúng ta nhìn thấy một không gian di động của truyền thuyết này Sự dịch chuyển motif kéo theo sự dịch chuyển của không gian diễn xướng truyền thuyết
Cơ chế di động của không gian truyền thuyết: Tính di động của không gian truyền
thuyết có một cơ chế hoạt động riêng, chủ yếu phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài (liên quan đến quá trình lưu truyền) chứ không phải là các yếu tố nội sinh của thể loại Thế nên, không phải truyền thuyết nào cũng có tính di động không gian Dù rất khó để nắm bắt được cơ chế hoạt động của tính di động không gian trong truyền thuyết nhưng có một điều chúng ta có thể tin chắc (thông qua trường hợp cụ thể: truyền thuyết Lý Nhật Quang) là tính di động không gian của truyền thuyết bất chấp khác biệt văn hóa tộc người và có khả năng vượt qua ranh giới khác biệt văn hóa Điều đó cho thấy một khía cạnh khác của thể loại truyền thuyết (mà nói rộng ra là văn hóa dân gian), bên cạnh xu hướng địa phương hóa mạnh mẽ thì cũng có xu hướng giao lưu hết sức cởi mở
2.1.2 Không gian khởi nguyên và không gian thứ phát
- Không gian khởi nguyên và cội nguồn truyền thuyết: Với hầu hết các thể loại truyện
dân gian, các nhà folklore học ít đặt ra vấn đề gốc tích phát sinh cụ thể, bởi điều đó thuộc vào
phạm vi điểm mù của văn học dân gian nói chung - thứ văn học được coi là sản phẩm của số
đông, của tập thể và có đời sống bất tận tự do Tuy nhiên, đặc trưng gắn bó sinh mệnh chặt chẽ với các yếu tố mang tính lịch sử, cụ thể của truyền thuyết lại tạo cho nó khả năng liên kết với điểm khởi đầu của quá trình tạo tác, lưu truyền Bởi vậy, nghiên cứu truyền thuyết, chúng
ta có thể tìm thấy địa phương gốc lưu truyền truyền thuyết đó đồng thời xác định được không
Trang 11gian khởi nguyên của nó Địa phương gốc - điểm trung tâm của không gian khởi nguyên của truyền thuyết bao giờ cũng tồn tại một di tích vật thể (đình, đền, miếu mạo) để tạo ra mối liên kết vững bền giữa truyền thuyết và địa phương, đồng thời để nối dài bất tận đời sống của truyền thuyết Vậy, di tích vật thể cũng là một dấu mốc để chúng ta lần tìm về không gian khởi nguyên và nguồn cội của truyền thuyết
- Không gian thứ phát và khả năng phát tán của truyền thuyết: Không gian thứ phát
nương theo con đường lưu truyền tự do của truyền thuyết để xác lập Truyền thuyết lưu hành trong không gian thứ phát thường tồn tại ở dạng những mẩu nhỏ, chưa hoàn thiện, dễ dàng chắp nối vào truyền thuyết chính phát sinh ở không gian khởi phát Không gian thứ phát của truyền thuyết được mở ra theo vết loang của cuộc đời nhân vật hoặc của sự kiện lịch sử Một lối nẻo khác lại được mở ra từ phía tâm linh nhân dân cho không gian thứ phát của truyền thuyết phát triển Khi truyền thuyết gốc nảy nở rực rỡ trên địa phương gốc, trong không gian khởi nguyên thì cũng là lúc ảnh hưởng của nhân vật truyền thuyết đã trổ bóng rộng trong tâm thức dân gian Uy linh mạnh mẽ của nhân vật truyền thuyết - vị thần thánh nào đó trong con mắt dân gian tạo ra một hấp lực lớn cho người dân ở các địa phương lân cận Nhân dân rước các vị thần linh thiêng - vốn thuộc vào địa phương khác về mảnh đất quê hương mình, lập đền thờ phụng với niềm ước mong được chở che, phù hộ Các truyền thuyết phái sinh nảy nở theo chân các vị thần thánh ấy mở ra không gian thứ phát Ngoài ra, các cuộc di dân do điều kiện làm ăn kiếm sống cũng là một nguyên nhân tạo nên không gian thứ phát cho truyền thuyết
2.2 Thời gian trong truyền thuyết dân gian xứ Nghệ
2.2.1 Thời gian cố định và thời gian diễn biến truyện đặc trưng
Căn cứ vào tính xác định của thời gian, chúng tôi tiến hành khảo sát khung thời gian chủ yếu của truyền thuyết dân gian xứ Nghệ qua các truyền thuyết đã thống kê Kết quả cho thấy, truyền thuyết xứ Nghệ chủ yếu tập trung ở khung thời gian thời phong kiến Có thể nói thời phong kiến cũng là thời của truyền thuyết
Có thể truyền thuyết đã ra đời như một thể loại chuyển tiếp giữa thần thoại (huyền thoại) và cổ tích, có thể truyền thuyết được sáng tạo tập trung ở thời phong kiến song như thế không có nghĩa rằng truyền thuyết chỉ dừng lại ở thân phận dấu gạch nối giữa hai thể loại thần thoại và cổ tích; cũng không có nghĩa rằng toàn bộ đời sống của truyền thuyết chỉ bó hẹp trong thời phong kiến Dù thời gian trong truyền thuyết là thời gian cố định nhưng nó lại không phải là thời gian bị giới hạn Truyền thuyết xác định thời gian cụ thể song đó là cái cụ thể của bất kỳ thời điểm nào, thời đoạn nào trong trục thời gian bất tận Chính nhờ vậy mà truyền thuyết may mắn hơn hai thể loại thần thoại và cổ tích ở chỗ, ngày nay, nó vẫn còn tiếp tục được sáng tạo và sẽ còn không ngừng được sáng tạo trong vô hạn thời gian
2.2.2 Thời gian chồng xếp qua quá trình truyền lưu
Thời gian trong truyền thuyết luôn xuất hiện trong trạng thái chồng xếp nhiều lớp khác nhau do được tích tụ, bồi đắp qua quá trình lưu truyền trong dân gian Có vẻ như, riêng đối với thể loại truyền thuyết, hành trình trôi nổi trong dân gian gây ra những hiệu ứng đặc biệt hơn cả lên cấu trúc thể loại Thời gian trong truyền thuyết với đặc trưng cố định và xác định đã tạo nên một nền tảng cho việc xếp chồng các lớp thời gian khác nhau lên cùng một cốt truyện qua quá trình truyền lưu Đến lượt nó, các lớp thời gian ấy lại trở thành cái khung vững chãi cho sự phát triển các lớp truyện khác nhau chồng xếp lên cốt truyện cũ Các nhà folklore học gọi hiện tượng này là kết cấu tầng lớp của truyền thuyết Sự chồng xếp các lớp thời gian trong truyền thuyết không chỉ cho chúng ta thấy hành trình thời gian dài bất tận và luôn mở ra tít tắp của thể loại này mà còn thể hiện khả năng dồn nén của thời gian trong một cốt truyện cụ thể
2.2.3 Tính linh hoạt của thời gian trong truyền thuyết
Thời gian trong văn học dân gian nói chung là thời gian trực tuyến mà chúng ta có thể hình dung như con đường một chiều, trên đó các sự kiện cốt truyện diễn biến nối tiếp nhau
Trang 12theo trình tự trước - sau Thời gian trong truyền thuyết cũng không nằm ngoài quy trình phổ biến đó Nương theo cấu trúc lỏng lẻo vốn dĩ của truyền thuyết, thời gian truyền thuyết trong một số trường hợp cá biệt đã phá vỡ tính trực tuyến một chiều, đảo lộn quy trình quen thuộc vốn có để tạo nên một câu chuyện hấp dẫn, kịch tính ngay từ đầu Ví dụ như truyền thuyết về
Tứ vị thánh nương trong một số bản kể, mô thức kết cấu bị đảo lộn hoàn toàn khi phần mở đầu lại là sự hiển linh của nhân vật chứ không phải câu chuyện về sự tích kỳ lạ nào đó về họ Thời gian trong câu chuyện ấy đã không còn là thời gian đơn tuyến đơn thuần mà là thời gian
đa tuyến với sự hiện hiện song hành của cả hiện tại và quá khứ trong trạng thái bất quy tắc Chúng tôi gọi đó là tính linh hoạt của thời gian trong truyền thuyết
Cũng là truyền thuyết về Tứ vị thánh nương nhưng một số bản kể lại không có sự đảo lộn trật tự thời gian Dường như, bước rẽ ngang bất ngờ của thời gian trong truyền thuyết trên đây chỉ mang tính ngẫu hứng chứ chưa phải là quy luật Suy cho cùng, nguyên nhân gây nên tình trạng đảo lộn quy trình thời gian trong truyền thuyết chính là tính cách tự thân của nó Thời gian trong truyền thuyết vốn có tính chồng xếp qua thời gian như chúng tôi đã phân tích
ở phần 2.2.2 trên đây Những chồng xếp ấy dẫn đến tình trạng thời gian trong truyền thuyết (hay cũng chính là cấu trúc của truyền thuyết) có nhiều khúc đoạn, được nối kết khá lỏng lẻo Quá trình lưu truyền mạnh mẽ trong dân gian dễ dàng bứt rời những phần ráp nối lỏng lẻo ấy của truyền thuyết, để rồi xê dịch chúng qua những quãng khác nhau của câu chuyện, tạo nên một cấu trúc truyện mới, một trình tự thời gian vô trật tự Ngoài ra, chúng tôi cho rằng quá trình văn bản hóa truyền thuyết dân gian của giới trí thức đương thời cũng là một yếu tố góp phần gây nên tình trạng dịch chuyển bất quy tắc của thời gian trong truyền thuyết
2.2.4 Thời gian chu kỳ qua mối liên kết với lễ hội
Lễ hội với những nghi lễ tái tạo lại các sự kiện, các hành động của nhân vật truyền thuyết đã mở ra một không gian đa chiều, đậm đặc sinh khí truyền thuyết Trong không gian
ấy, quá khứ và hiện tại tương thông mạnh mẽ để rồi dẫn đến điều tưởng chừng không thể là cùng song song tồn tại Mở ra một bầu khí quyển truyền thuyết ngay trong thời hiện tại, lễ hội biến không gian của nó thành một không gian đầy quyền năng, trong đó, thời gian quá khứ hồi sinh và tiếm lạm tạm thời thời gian hiện tại Thời gian trong truyền thuyết trở thành thứ thời gian được hồi sinh theo chu kỳ thông qua mối liên kết chặt chẽ với lễ hội và những tái tạo văn hóa đặc thù của nó
Các truyền thuyết căn bản của xứ Nghệ đều gắn bó với lễ hội Một thời gian dài do nguyên nhân lịch sử khách quan, các hoạt động hội lễ bị gián đoạn, theo đó, thời gian truyền thuyết cũng bị gián đoạn chu kỳ Sự kéo dãn chu kỳ thời gian của truyền thuyết lại mở ra một cánh cửa rộng cho các cốt truyện, các chi tiết của các truyền thuyết cụ thể tự do biến di, tạo nên các dị bản mới Chúng tôi đồ rằng, vì quãng đứt khá dài của lễ hội trong đời sống dân gian xứ Nghệ mà đa số các truyền thuyết dân gian xứ Nghệ đã biến đổi rất nhiều Điều này cũng giải thích cho sự tồn tại bề bộn của nhiều dị bản truyền thuyết cũng như vô số mảnh vỡ nhỏ lẻ của truyền thuyết vẫn đang ở dạng dở dang trên mảnh đất xứ Nghệ Đó là vết dấu của những sáng tạo bồng bột của dân gian chưa được củng cố, định hình bằng các chu kỳ sống - chu kỳ thời gian được tính theo vòng đời lễ hội
2.3 Cấu trúc truyền thuyết với các dạng motif tiêu biểu
2.3.1 Cấu trúc mở và kết cấu lỏng lẻo của truyền thuyết
Truyền thuyết vừa có “kết cấu theo khuynh hướng chung của các thể loại tự sự dân gian, đó là không tìm một con đường hoàn toàn độc đáo mà thường theo hướng cấu tạo chung cho nhiều tác phẩm, tạo thành một kiểu truyện hay mô típ” [183, 61] lại vừa có những khoảng mở với những mắt xích kết nối linh động trong kết cấu, tạo nên một kiểu cấu trúc mở đặc biệt so với các thể loại khác Chính kiểu cấu trúc mở đặc thù đó giúp truyền thuyết dễ dàng tiếp nhận và bồi đắp thêm các trường đoạn mới qua thời gian Thực tế khảo sát tư liệu truyền thuyết dân gian cho thấy, đa phần các truyền thuyết còn tồn tại trong dân gian không
có kết cấu đóng hoàn chỉnh trên đây mà thường ở dạng kết cấu mở, khuyết thiếu một hoặc hai
Trang 13trong ba phần Sinh nở thần kỳ/ Sự xuất hiện kỳ lạ; Tạo lập chiến công/ Hành động khác thường; Hóa thân/ Hiển linh, âm phù Qua Bảng khảo sát kết cấu truyền thuyết (xem phần Phụ lục), chúng tôi thống kê được trong số 145 truyền thuyết chỉ có 11 truyện có cấu trúc ba phần hoàn chỉnh, số còn lại là các truyền thuyết khuyết thiếu Sự phổ biến của dạng cấu trúc
mở là minh chứng hiển nhiên cho tính linh động ở hệ thống cấu trúc của thể loại truyền thuyết
Truyền thuyết về Tứ vị thánh nương là một trường hợp khá tiêu biểu minh chứng cho cấu trúc mở và khả năng kết nối thêm chi tiết vào phần khuyết thiếu của truyền thuyết Khảo
sát qua các dị bản của truyền thuyết Tứ vị thánh nương, chúng tôi có thể nhận thấy rõ ràng
các chi tiết được thêm thắt luôn nằm ở phần khuyết thiếu của cấu trúc truyền thuyết này Như vậy, cấu trúc mở và kiểu kết cấu khuyết thiếu là cơ sở để truyền thuyết được tái tạo nhiều lần
và mỗi lần lại xuất hiện trong một dáng dấp mới Dân gian biết lẩy đúng phần khuyết thiếu của từng truyền thuyết để thêm thắt và tái tạo sao cho ăn nhập và hợp lý Nghiên cứu kỹ hơn
11 truyền thuyết có kết cấu ba phần hoàn chỉnh, chúng tôi nhận thấy, đa số các truyền thuyết
này đều thuộc vào tiểu loại truyền thuyết về anh hùng chống giặc ngoại xâm và anh hùng
nông dân Đó là điều dễ hiểu bởi bộ phận truyền thuyết về anh hùng chống giặc ngoại xâm và anh hùng nông dân là bộ phận tiêu biểu nhất của thể loại truyền thuyết, thể hiện ở sự chiếm
lĩnh về số lượng cũng như sự hoàn chỉnh về chất lượng nghệ thuật
2.3.2 Cấu trúc đơn nhất và tính dở dang của kết cấu
Qua bảng khảo sát kết cấu truyền thuyết, chúng tôi thống kê được 50/145 truyện kể được kết cấu theo dạng khuyết một bộ phận Thế nhưng, tiêu biểu và chiếm số lượng đông đảo hơn cả lại là các truyền thuyết khuyết thiếu hai trong ba bộ phận của cấu trúc hoàn thiện với 84/145 truyện Nhìn một cách tổng quan, số truyền thuyết có dạng kết cấu khuyết thiếu chiếm tới 92 % tổng các truyện được nghiên cứu
Chúng tôi nhận thấy rằng, nhóm truyền thuyết có cấu trúc đơn thường thuộc vào loại truyền thuyết địa danh và truyền thuyết phong vật Ngoài ra, bộ phận truyền thuyết nhiên thần dưới lốt nhân thần cũng thường trình diện bằng kiểu cấu trúc đơn nhất Về bộ phận này, chúng tôi cho rằng, cũng do đặc thù của đối tượng là các nhiên thần vừa mới được dân gian
tô vẽ thêm hình hài của con người cho nên kiểu kết cấu đơn nhất trở thành lựa chọn phù hợp
hơn cả Đáng chú ý hơn cả là sự hiện diện của những truyền thuyết thuộc tiểu loại truyền
thuyết về anh hùng chống giặc ngoại xâm và anh hùng nông dân ở kiểu cấu trúc đơn nhất
trong khi chúng vẫn luôn được coi là những truyền thuyết có kết cấu ba phần mẫu mực nhất
Sự tồn tại đồng loạt của dạng truyền thuyết có cấu trúc đơn nhất với mô típ tạo lập chiến
công/ hành động khác thường đã phần nào phác nên con đường tạo tác từ khởi nguyên đến
hoàn thiện của truyền thuyết nói chung và truyền thuyết về anh hùng chống giặc ngoại xâm
và anh hùng nông dân nói riêng
Cấu trúc đơn nhất của truyền thuyết được kiến tạo bởi các mô típ đơn Vị trí của các
mô típ này chỉ có thể ở hai phần: hoặc phần trung tâm hoặc phần kết Chúng tôi thống kê được 42/84truyền thuyết mà mô típ duy nhất là mô típ trung tâm (Tạo lập chiến công/ Hành
động khác thường) và 42/84 truyền thuyết có mô típ duy nhất là mô típ thuộc phần kết (Hóa thân, hiển linh) Như đã nhận định trên đây, các truyền thuyết có kết cấu đơn nhất rơi vào
phần trung tâm đa phần là truyền thuyết về anh hùng chống giặc ngoại xâm và anh hùng nông
dân Các truyền thuyết có kết cấu đơn nhất rơi vào phần kết với mô típ Hóa thân, hiển linh lại
là truyền thuyết địa danh, truyền thuyết về linh nhân hóa thần Điều này cũng là điều dễ hiểu, bởi lẽ các truyền thuyết về linh nhân hóa thần thường kể về những nhân vật vốn dĩ chỉ là người bình thường bỗng gặp sự bất ngờ (chết vào giờ thiêng,…) rồi được dân gian thần thánh hóa Vì họ chỉ là những người bình thường, không có năng lực nổi trội cho nên câu chuyện về
họ chỉ xoay quanh những hiển linh kỳ lạ diễn ra sau cái chết của họ
2.3.3 Các dạng thức motif tiêu biểu của truyền thuyết dân gian xứ Nghệ
Trang 14Bảng khảo sát kết cấu truyền thuyết đã thể hiện dạng motif sinh nở thần kỳ có số lần xuất hiện ít nhất trong ba motif cơ bản: 35/144 Motif sinh nở thần kỳ luôn được sử dụng làm motif mở màn, gây kinh ngạc cho độc giả ngay ở khúc đoạn đầu tiên của câu chuyện và cũng
là quãng sống đầu tiên của nhân vật Vì vị trí và mục đích cố định ấy mà nhiều khi, truyền thuyết rơi vào lối mòn nhàm chán Dân gian không có cách nào khác là phải tăng cường biến hóa ở các chi tiết cụ thể bằng trí tưởng tượng phong phú của mình để câu chuyện diễn ra sinh động và thu hút nhất có thể Trong rất nhiều kiểu trình diện của motif sinh nở thần kỳ/ Sự xuất hiện kỳ lạ mà dân gian xứ Nghệ đã sáng tạo nên, có lẽ kịch bản tiêu biểu và đặc trưng hơn cả là: gia đình nhân vật ăn ở phúc đức nên gặp được thầy địa lý giỏi chỉ cho một mạch
đất tốt Các truyền thuyết như Trung Hưng công thần Đinh Bạt Tụy, Sự tích thần đền Bạch
Mã,… đều được cấu trúc theo kịch bản motif này tuy có sai khác một đôi tiểu tiết
Motif Tạo lập chiến công/ Hành động khác thường là motif trung tâm của các truyền
thuyết nên có mật độ xuất hiện tương đối dày đặc (92/144) Trong kho tàng truyền thuyết dân
gian xứ Nghệ, kịch bản đáng lưu ý nhất của motif này là người phụ nữ tình nguyện hiến thân Kịch bản này được tái lặp ở ba truyền thuyết: Sự tích miếu Thanh Am, Phạm Thị Ngọc Trần,
Nguyễn Thị Bích Châu/ Thần tích làng Văn Viên với phần cốt truyện hầu như trùng khít Một
điều đặc biệt trong motif này là tình thế người phụ nữ hiến mình cho thần Biển/ thần Nước Nước trong văn hóa Việt Nam mang tính âm, vậy, sự hiến thân của người phụ nữ trong các truyền thuyết trên đây phải chăng thực chất là một sự trả mình về nguồn và thành quả của sự trở về ấy - trở thành thần linh trong tâm thức dân gian?
Motif hóa thân/ hiển linh, âm phù thường xuất hiện ở khúc đoạn cuối của truyền thuyết cũng được dàn dựng theo nhiều kịch bản khác nhau ở những câu chuyện khác nhau, thậm chí ở những dị bản khác nhau của cùng một câu chuyện Trong kiểu motif hóa thân, chúng tôi nhận thấy kịch bản thiên táng mối đùn trùng lặp ở khá nhiều truyền thuyết, chủ yếu
là những truyền thuyết về các vị anh hùng như: Sát Hải đại vương, Đại thần Lê Lộ, Đền Học
Quý, Ông tổ nghề đóng thuyền ở Trường Xuân Nhưng đây cũng là kịch bản phổ biến trong
kho tàng truyền thuyết dân gian Việt Nam nên chúng tôi không thể kết luận nó là mottif tiêu biểu của truyền thuyết xứ Nghệ
2.4 Nhân vật truyền thuyết
2.4.1 Gốc tích nhân vật
Cực kỳ chú trọng vào gốc tích nhân vật, truyền thuyết đã sản sinh ra vô số hình tượng nhân vật đặc trưng của địa phương mà chỉ cần nói đến họ, người ta nghĩ ngay đến mảnh đất nơi họ sinh ra Bởi thế, có thể coi kho tàng truyền thuyết dân gian xứ Nghệ là nơi hội ngộ của nhiều thế hệ người xứ Nghệ Hầu hết các nhân vật trong kho tàng truyền thuyết dân gian xứ Nghệ là những con người có xuất thân, gốc gác trên quê hương Nghệ Tĩnh Ngoài ra, nhân vật trong truyền thuyết dân gian xứ Nghệ còn bao gồm những nhân vật không phải người xứ Nghệ song cuộc đời và tên tuổi họ lại gắn chặt với mảnh đất này Sự góp mặt của các nhân vật này khiến cho kho tàng truyền thuyết dân gian xứ Nghệ phong phú hơn, đồng thời, đó cũng là dấu hiệu của một cảm quan sáng tạo rộng mở và một thái độ tiếp nhận văn hóa cởi
mở của dân gian xứ Nghệ Hơn nữa, đó cũng là một cách để dân gian xứ Nghệ tỏ bày sự quan tâm sâu sắc đến cộng đồng chung, niềm đồng cảm lớn lao với dân tộc
2.4.2 Hiện tượng nhân vật song hành
Dường như, các tác giả dân gian nhận thức được rằng, tính đơn lẻ của câu chuyện gây cản trở đáng kể đến mục tiêu gây dựng niềm tin của truyền thuyết đối với một cộng đồng rộng lớn Bởi vậy, với một số truyền thuyết lớn, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống tâm thức của cộng đồng, dân gian đã sáng tạo nên không chỉ một truyền thuyết đơn nhất mà là một chuỗi truyền thuyết Theo đó, các nhân vật xuất hiện cùng nhau, bổ trợ cho nhau, tô đậm thêm tính cách của nhau trong từng chi tiết, từng hành động truyện Đó chính là hiện tượng nhân vật song hành Hiện tượng nhân vật song hành là hiện tượng nhiều nhân vật được kể và được thờ phụng trong một chuỗi liên hoàn các truyền thuyết có liên quan mật thiết với nhau