1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát loại từ tiếng việt và các phương thức chuyển dịch sang tiếng inđônêxia

34 572 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát loại từ tiếng Việt và các phương thức chuyển dịch sang tiếng inđônêxia
Tác giả Phạm Thị Thúy Hồng
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Hồng Cổn, PGT.S Lê Quang Thiêm
Trường học Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 622,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý luận ngôn ngữ; Tiếng Việt; Tiếng Inđônêxia; Từ tiếng Việt Nhưng không chỉ ở bình diện ngữ nghĩa mà ở những bình diện khác như ngữ pháp, ngữ dụng, loại từ cũng là một mảnh đất chưa đư

Trang 1

Khảo sát loại từ tiếng Việt và các phương thức

chuyển dịch sang tiếng Inđônêxia

Phạm Thị Thúy Hồng

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn; Khoa Ngôn ngữ học

Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ; Mã số: 62 22 01 01 Tập thể cán bộ hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Nguyễn Hồng Cổn

2 PG.TS Lê Quang Thiêm

Năm bảo vệ: 2012

Abstract Tổng quan tình hình nghiên cứu về loại từ trên thế giới và loại từ tiếng Việt

Xác lập bộ tiêu chí để nhận diện loại từ tiếng Việt Mô tả đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của loại từ tiếng Việt và các đơn vị tương đương trong tiếng Inđônêxia Khảo sát các phương thức chuyển dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia

Keywords Lý luận ngôn ngữ; Tiếng Việt; Tiếng Inđônêxia; Từ tiếng Việt

Nhưng không chỉ ở bình diện ngữ nghĩa mà ở những bình diện khác như ngữ pháp, ngữ dụng, loại từ cũng là một mảnh đất chưa được nghiên cứu đủ sâu, đủ kĩ, và do

đó còn rất nhiều công việc cho các nhà ngôn ngữ học tiếp tục nghiên cứu Bởi lẽ loại từ

là một địa hạt rất tinh tế, độc đáo, khó nắm bắt của một ngôn ngữ, cho nên, cần có sự khảo sát toàn diện về tất cả các mặt thì mới có được cái nhìn hợp lý về nó

Trong tiếng Việt, cùng một sự vật, hiện tượng như "nhà", "thư", "thuyền" nhưng có rất nhiều cách gọi khác nhau Với đối tượng "nhà" có thể nói "cái nhà", "ngôi nhà", "toà nhà" với đối tượng "thư" có thể nói "bức thư", "lá thư', "tờ thư" Sự khác nhau giữa các cách gọi cái, con, chiếc, cuộc, sự, mối, không chỉ thuần tuý là sự khác

nhau về mặt ngữ pháp mà còn là sự khác nhau về mặt ngữ nghĩa, thậm chí cả ý nghĩa tình thái - biểu cảm (theo Phan Ngọc) Điều đó cho thấy trong tiếng Việt có một lớp từ

mà sự xuất hiện của nó đã tạo nên một phạm trù, trong đó các yếu tố không chỉ thuần tuý diễn đạt mặt hình thức ngữ pháp mà còn là một tham tố tạo nghĩa của cấu trúc mở

rộng danh từ Lớp từ này được hầu hết các nhà Việt ngữ học gọi là loại từ (classifiers)

Trang 2

Loại từ là một hiện tượng ngôn ngữ, một vấn đề rất thú vị nhưng cũng hết sức phức tạp, nơi tập trung ý kiến khác nhau của nhiều nhà Việt ngữ học, chẳng hạn như:

- Loại từ là một từ loại riêng hay thực chất đó chỉ là một loại danh từ?

- Nếu loại từ là một từ loại riêng thì những đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ pháp của nó

là gì?

- Có bao nhiêu loại từ trong tiếng Việt?

Trả lời tất cả những câu hỏi trên đây không phải là việc đơn giản Chúng tôi tán thành ý kiến của Lý Toàn Thắng là để giải quyết vấn đề này còn phải làm rất nhiều việc, nhưng trước hết có thể tập trung vào mấy vấn đề:

a Xác lập tiêu chí và đưa ra một danh sách tương đối đầy đủ về loại từ (không thể chỉ đưa ra một vài ví dụ đã quá quen thuộc và bằng lòng với sự lập luận trên cơ sở mấy ví dụ đó)

b.Tham khảo thêm những nghiên cứu về loại từ (và những vấn đề khác có liên quan đến loại từ) trên thế giới những năm gần đây (mà rõ ràng là có nhiều thay đổi so với những quan niệm của ngữ pháp miêu tả luận và phân bố luận trong thời kì hoàng kim những năm 60-70)

c.Nhìn rộng ra ngoài tiếng Việt, tới những ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở nước ta

và các ngôn ngữ khác trong khu vực (ở đây có những cứ liệu rất đáng lưu ý về nguồn gốc và sự tiến hoá của hệ thống loại từ trong tiếng Việt cổ trước đây)

d Ngoài ra, cần phải có cái nhìn ra bên ngoài, tới các ngôn ngữ trên thế giới để

có cái nhìn toàn cục về các ngôn ngữ có loại từ trên thế giới, có cái nhìn so sánh với các ngôn ngữ khác loại hình

e Tiến tới xem xét loại từ như một cơ sở để phân chia loại hình ngôn ngữ trên thế giới

0.2 Đối tƣợng và mục đích của luận án

Luận án chọn đối tượng khảo sát là loại từ (classifiers), tiến tới xem xét một cái nhìn ổn định về loại từ trong tiếng Việt, khảo sát các đơn vị tương ứng trong tiếng Inđônêxia, đối dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia, góp phần vào việc biên soạn

từ điển Việt – Inđônêxia Giải quyết các vấn đề ngữ nghĩa, ngữ pháp và ngữ dụng của loại từ cũng chính là để soi sáng những vấn đề về tư duy văn hoá của người Việt cũng như người Inđônêxia Đây là vấn đề có giá trị không nhỏ đối với việc nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn nghiên cứu ngôn ngữ và văn hoá

Cho đến nay, số lượng loại từ có mặt trong hệ thống chưa được các nhà Việt ngữ thống nhất, nhưng dựa trên các đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của loại từ nói riêng và của danh ngữ nói chung, luận án sẽ sơ bộ nhận diện bằng các tiêu chí hình thức và nội dung, sau đó, tiến hành phân loại hệ thống loại từ tiếng Việt

Việc mô tả, phân tích đặc điểm của loại từ tiếng Việt và các biểu hiện từ vựng, ngữ pháp tương đương trong tiếng Inđônêxia được thực hiện trên ngữ liệu là các tác phẩm văn học, giáo trình thực hành tiếng Việt và tiếng Inđônêxia, từ điển Inđônêxia – Việt, Inđônêxia – Anh và Anh – Inđônêxia

Trang 3

Với đề tài "Khảo sát loại từ tiếng Việt và các phương thức chuyển dịch sang tiếng Inđônêxia” luận án đặt ra những mục đích sau:

- Tìm hiểu đặc trưng ngữ pháp của loại từ

- Phân tích ngữ nghĩa của loại từ

- So sánh, đối chiếu loại từ tiếng Việt với đơn vị tương đương trong tiếng Inđônêxia

- Đối dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia

Luận án coi đối chiếu tương đồng và khác biệt là cơ sở để tiến hành đối dịch loại

từ tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia Bởi lẽ, đối tượng của luận án là một kiểu từ loại nên phương pháp làm việc của chúng tôi ở đây là đối dịch, tức là đối chiếu và dịch, dịch trên

cơ sở đối chiếu nghiêm ngặt và sử dụng một cách triệt để kết quả đối chiếu để dịch

Phạm vi của phương pháp đối dịch ở đây có thể hiểu theo một cách khác nữa, đó là

có thể coi đối dịch là một dạng, một kiểu của dịch và kết quả của nó là ứng dụng cho việc biên soạn từ điển, mà cụ thể là biên soạn từ điển Việt – Inđônêxia, Inđônêxia – Việt, biên soạn sách học tiếng Inđônêxia cũng như tiếng Việt

0.3 Tính cấp thiết của đề tài

Từ trước đến nay, một số nhà Việt ngữ học cho rằng loại từ là một tiểu loại của danh từ, hoặc có tác giả thì cho nó là hư từ, không có ý nghĩa từ vựng, chỉ có ý nghĩa ngữ pháp hay còn gọi là rỗng nghĩa Nói cách khác là hầu hết các tác giả xuất phát từ cái nhìn cấu trúc luận, xếp loại từ vào những khuôn cấu trúc khác nhau, trong cái khuôn đó, loại từ được xem là một đơn vị rỗng nghĩa, là từ chứng cho danh từ Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng, bất cứ một sự phân loại nào nếu không chú ý đến nghĩa thì đều là một sự phân loại thiếu toàn diện, đặc biệt là đối với loại từ, một đơn vị mà ranh giới về ngữ nghĩa của nó còn rất nhập nhằng Do vậy, đề tài của chúng tôi chú trọng đến cả hai hướng: bên cạnh việc đưa ra các tiêu chí hình thức để phân loại loại từ thì chúng tôi còn chú trọng đến ngữ nghĩa của lớp từ này Ngữ nghĩa ở đây không chỉ đơn thuần là ngữ nghĩa ngữ pháp mà còn là ngữ nghĩa của một lớp từ vựng và ngữ nghĩa ngữ dụng Đây

là hướng mà ngôn ngữ học hiện đại thường hướng tới, bởi lẽ ngôn ngữ phản ánh tư duy,

là những đơn vị mang nghĩa, không thể là những khuôn cấu trúc đơn thuần, khô cứng được Từ hướng nghiên cứu cả cấu trúc lẫn ngữ nghĩa như vậy, chúng tôi hy vọng sẽ có thể xác định được một tiểu loại từ loại trong tiếng Việt, đó là loại từ, cái đơn vị mà lâu nay chưa có sự thống nhất giữa các nhà Việt ngữ học

Về mặt lý luận, luận án góp phần làm sáng tỏ các vấn đề đang tranh luận:

- Loại từ là một từ loại riêng của các ngôn ngữ có loại từ hay chỉ là một tiểu loại danh từ?

- Đặc trưng ngữ nghĩa – ngữ pháp của loại từ tiếng Việt và những tương đồng, khác biệt của nó với loại từ tiếng Inđônêxia

- Khả năng chuyển dịch loại từ tiếng Việt – một ngôn ngữ đơn lập – sang tiếng Inđônêxia – một ngôn ngữ chắp dính

Ngoài ý nghĩa về mặt lý luận, việc nghiên cứu tổ hợp có chứa loại từ và các phương thức dịch sang tiếng Inđônêxia còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn Đối với người

Trang 4

Việt, tiếng Việt là bản ngữ, do đó ít ai dùng sai tổ hợp loại từ + danh từ, về mặt cấu trúc

và nghĩa Nhưng hiểu cho thấu đáo và dùng cho hay loại từ trong tổ hợp với danh từ thì không phải là chuyện đơn giản Đối với việc giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài thì ý nghĩa thực tiễn của nó càng lớn lao

Thứ nhất, cùng với công trình của các tác giả đi trước, một phần trong luận án (chương II), sẽ giúp cho người nước ngoài học tiếng Việt, những người mà bản ngữ của

họ không có loại từ như người Nga, người Anh, người Pháp … học tiếng Việt tốt hơn Đối với người nước ngoài thì cái khó không chỉ ở chỗ biết trường hợp nào dùng được hay không dùng được loại từ mà khó hơn nữa là dùng đúng loại từ, loại từ nào được dùng với danh từ nào cần phải có sự hiểu biết về nghĩa của loại từ mới có thể dùng được

Thứ hai, đối với việc giảng dạy cho người nước ngoài hoặc người thuộc dân tộc thiểu số ở Việt Nam mà bản ngữ của họ có loại từ thì đề tài của luận án cũng có những ý nghĩa thiết thực Bởi loại từ tiếng Việt có những đặc điểm riêng cần phải nắm vững thì mới sử dụng chính xác được

Thứ ba, đối với người Inđônêxia học tiếng Việt cũng như người Việt học tiếng Inđônêxia thì luận án có ý nghĩa quan trọng Đó là sự tương ứng hay không tương ứng giữa loại từ của hai ngôn ngữ, và cách chuyển dịch chúng như thế nào Bởi đây là hai ngôn ngữ khác loại hình Phần chương IV sẽ như là một tài liệu có tính chất công cụ hữu ích cho người học

0.4 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Việc tranh luận có hay không có loại từ đã được nhiều công trình trong nước cũng như trên thế giới nói đến và lý giải Cho nên, trong luận án này, chúng tôi không đi vào tranh luận mà chỉ thừa nhận có một đơn vị hiển nhiên trong tiếng Việt luôn đứng trước danh từ và đứng sau số từ trong danh ngữ, chúng tôi tạm gọi nó là loại từ (classifiers) Với lý do như vậy, luận án chỉ đi sâu tìm hiểu các vấn đề sau:

(1) Tổng quan tình hình nghiên cứu về loại từ trên thế giới và loại từ tiếng Việt (2) Xác lập bộ tiêu chí để nhận diện loại từ tiếng Việt

(3) Mô tả đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa của loại từ tiếng Việt và các đơn vị tương đương trong tiếng Inđônêxia

(4) Khảo sát các phương thức chuyển dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia

0.5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các nhiệm vụ trên, chúng tôi nghiên cứu đối tượng theo hướng nội dung và hình thức kết hợp nhuần nhuyễn với nhau Từ định hướng có tính chất phương pháp luận đó người viết chủ yếu sử dụng một số phương pháp ngôn ngữ học trong quá trình viết luận án, đó là:

Phương pháp thống kê, phương pháp miêu tả Thống kê số lượng loại từ tiếng Việt và tiếng Inđônêxia, số lượng loại từ trong mỗi nhóm và miêu tả các nét nghĩa của chúng Một số thủ pháp được chúng tôi sử dụng trong luận án là: thủ pháp phân tích phân bố và thủ pháp phân tích nghĩa tố Chúng tôi xem đây là các thủ pháp đắc lực cho

Trang 5

việc nghiên cứu tiếng Việt nói riêng và các ngôn ngữ có cùng loại hình như tiếng Việt nói chung, những ngôn ngữ không có đặc trưng hình thái học thực sự

Phương pháp so sánh đối chiếu loại từ tiếng Việt với loại từ tiếng Inđônêxia được luận án sử dụng triệt để nhằm tìm hiểu sự giống và khác nhau của cùng một đơn vị

từ loại trong hai ngôn ngữ khác loại hình như thế nào, từ đó làm cơ sở cho việc đối dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia

Một cơ sở lý thuyết nữa mà luận án sử dụng cho việc xác định nghĩa cũng như cấu trúc của loại từ, đó là lý thuyết điển mẫu (người khởi xướng là Eleanor Rosch)

0.6 Những đóng góp của luận án

Xuất phát từ mục đích, tính cấp thiết của đề tài và nội dung phạm vi nghiên cứu, chúng tôi dự kiến luận án sẽ có những đóng góp như sau:

a) Hệ thống hóa tình hình nghiên cứu loại từ trong các ngôn ngữ trên thế giới, từ

đó rút ra được những đặc điểm chung về cấu trúc, ngữ nghĩa của loại từ trong các ngôn ngữ trên thế giới và rút ra được các đặc điểm phổ quát của loại từ trong các ngôn ngữ Kết quả nghiên cứu này phục vụ cho việc nghiên cứu ngôn ngữ trên bình diện đa ngữ luận, cung cấp tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu loại từ các ngôn ngữ trên thế giới dựa trên nghiên cứu cấu trúc có chứa loại từ

b) Cung cấp một bộ tiêu chí để xác định loại từ, lập danh sách tương đối đầy đủ loại từ tiếng Việt và tiếng Inđônêxia

c) Cung cấp một cái nhìn toàn diện về nghĩa của loại từ trong cả hai ngôn ngữ

d) Phát hiện những đặc điểm giống và khác nhau của loại từ trong hai ngôn ngữ Việt – Inđônêxia Dịch loại từ tiếng Việt ra loại từ hoặc các biểu thức tương đương trong tiếng Inđônêxia phục vụ cho công tác biên soạn từ điển loại từ + danh từ Việt – Inđônêxia trong tương lai

0.7 Bố cục của luận án

Ngoài mục lục, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận án gồm có 3 phần chính: mở đầu, nội dung, kết luận

Trong đó, phần Nội dung gồm có 4 chương:

Chương I Cơ sở lý thuyết về loại từ

Chương II Khảo sát loại từ tiếng Việt

Chương III Các đơn vị tương ứng với loại từ tiếng Việt trong tiếng Inđônêxia

Chương IV Đối dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia

Chương 1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LOẠI TỪ

1.1 Loại từ và các phổ quát về loại từ

1.1.1 Khái niệm về loại từ

Có nhiều quan điểm khác nhau về loại từ:

Trang 6

Theo “Từ điển các vấn đề ngôn ngữ học trên thế giới”: “Loại từ số là kiểu loại từ phổ biến nhất Chúng được gọi là "số" bởi chúng luôn xuất hiện trong ngữ cảnh chỉ lượng, luôn là đơn vị kế tiếp ràng buộc với một số từ hoặc từ định lượng Trường hợp thứ hai là chúng xuất trong ngữ cảnh có đại từ chỉ định và đôi khi xuất hiện với tính từ”

1.1.1.1.Quan điểm của Allan

Theo ông, các ngôn ngữ có loại từ được phân biệt với các ngôn ngữ không có loại

từ bằng 2 tiêu chí sau đây: a) Chúng có loại từ, ít nhất là một vài loại từ được giới hạn trong cấu trúc loại từ, mặc dầu loại từ tồn tại các chức năng trong các môi trường khác giống như danh từ b) Chúng thuộc vào một trong 4 kiểu: loại từ số, loại từ tương hợp, loại từ vị ngữ và loại từ nội vị (intra-locative)

Allan đã chia các ngôn ngữ trên thế giới thành 4 loại dựa vào sự xuất hiện của các kiểu loại từ

1- Các ngôn ngữ có loại từ số (numeral classifier languages)

2- Các ngôn ngữ có loại từ tương hợp (concordial classifier languages)

3- Các ngôn ngữ có loại từ vị ngữ (predicate classifier languages)

4- Các ngôn ngữ có loại từ nội vị (intra-locative classifier languages)

1.1.1.2 Quan điểm của Aikhenvald

Aikhenvald phân chia loại từ thành các kiểu: 1 Loại từ danh từ; 2 Loại từ số; 3

Loại từ động từ xuất hiện với động từ, nhưng chúng phân lớp danh từ, rất điển hình trong chức năng S (chủ ngữ nội động) hoặc O (bổ ngữ trực tiếp), qua thuật ngữ hình dáng, độ chắc, và tính động vật (animacy); 4 Loại từ định vị; 5 Loại từ chỉ định

1.1.1.3 Quan điểm của Karen L.Adam

Ông đã đưa ra các phương diện ngữ nghĩa mà loại từ trong các ngôn ngữ Nam Á ngầm chỉ: chỉ sinh vật, vô sinh vật (hình tròn, dài và rắn, dài và mỏng hoặc mềm, phẳng

và các phạm vi mở rộng khác như là hoa quả, rau, hạt…)

1.1.1.4 Quan điểm của Greenberg

Trong bài viết của mình, Greenberg không gợi ý một cách công khai bất cứ phương pháp phân loại danh từ nào, nhưng hiện tượng phân loại thay đổi được đề cập bên cạnh loại từ số (ví dụ loại từ quan hệ trong các ngôn ngữ Đại Dương và loại từ động từ); ông cũng gợi ý về mối tương quan giữa sự tồn tại của loại từ số trong một ngôn ngữ

và các phạm trù ngữ pháp khác như sự thể hiện bắt buộc của số từ Ông khẳng định rằng loại từ số là những đơn vị thừa ra khi dịch sang các ngôn ngữ không có loại từ như tiếng Anh

1.1.2 Các phổ quát về loại từ

1.1.2.1 Phổ quát về đặc điểm hình thái và cấu trúc có chứa loại từ

Về mặt hình thái học, loại từ thuộc vào một trong 3 dạng sau:

1 Loại từ có thể là các đơn vị từ vựng độc lập Đây là đặc điểm điển hình trong các ngôn ngữ đơn lập Chúng thường có cấu trúc là số từ + loại từ + danh từ hoặc danh

từ + số từ + loại từ

Danh từ có chứa loại từ thường có 4 kiểu cấu trúc thường gặp như sau:

Trang 7

a) ST + LT + DT: thuộc kiểu này thường có các ngôn ngữ Amerindian, Bengali, Trung quốc, các ngôn ngữ Malayu, các ngôn ngữ Semitic, tiếng Việt

b) DT + ST + LT: : thuộc kiểu này thường có các ngôn ngữ Miến điện, Nhật, Thái c) LT + ST + DT: tiếng Kiriwina (ngôn ngữ đại dương)

d) DT + LT + ST: tiếng Louisiade Archipelago (ngôn ngữ đại dương)

Không bao giờ có trường hợp danh từ nằm xen giữa loại từ và từ số từ

2 Loại từ có thể là phụ tố, hoặc là các yếu tố gắn với số từ (clitic), hoặc hoà tan

với số từ

3 Chúng có thể được gắn với, hoặc hoà tan với danh từ chính Trường hợp này rất

hiếm, xin xem thêm ở Cross River, Benue- Congo, Ikoro 1994

1.1.2.2 Phổ quát về đặc điểm và ngữ nghĩa của loại từ

Phổ quát về đặc điểm của loại từ

1- Loại từ có thể là một lớp từ loại mở trong các ngôn ngữ

2- Trong một số ngôn ngữ có loại từ thì không phải mỗi danh từ đều có thể kết hợp với loại từ Một số danh từ không thể đi kèm với một loại từ nào, điều này tuỳ thuộc vào đặc điểm của danh từ là gì

3- Phạm vi đối lập về ngữ nghĩa được sử dụng trong các biến thể của loại từ, hầu hết chúng thường liên quan đến động vật hay bất động vật, liên quan đến giới tính, tuổi tác, hình dáng, kích cỡ và cấu trúc của danh từ mà nó kết hợp

4- Loại từ thường là các đơn vị từ vựng độc lập, nhưng trong một số ngôn ngữ loại

từ cũng có thể là các phụ tố cho số từ hoặc đại từ chỉ định

Phổ quát về nghĩa và các phạm trù ngữ nghĩa:

Hầu hết các nhà ngôn ngữ học khi nghiên cứu về loại từ đều khẳng định: phần lớn loại từ đều có nghĩa

Sau khi tham khảo các tài liệu nói về loại từ trong các ngôn ngữ chúng tôi có thể rút ra nhận xét: số lượng loại từ nhiều hay ít tuỳ thuộc vào mỗi ngôn ngữ, nhưng chung quy lại có các phạm trù mà loại từ phân loại là (tuy nhiên không phải loại từ trong ngôn ngữ nào cũng có đầy đủ các nghĩa này):

3 Tính bền vững (consistency) 7 Động vật >< bất động vật

1.1.2.3 Phổ quát về sự phân biệt giữa loại từ và từ chỉ đơn vị đo lường

Sự lựa chọn từ chỉ đơn vị đo lường được quyết định bởi 2 yếu tố:

+ Số lượng hay đơn vị đo lường của thực thể

+ Đặc điểm vật lý của thực thể (như là tính lâu dài, hay thường xuyên hay là chỉ trong một giai đoạn tạm thời)

1.1.2.4 Phổ quát về chức năng của loại từ

- Chức năng định lượng và chức năng cá thể hoá

- Chức năng phân loại và chức năng phân lớp của loại từ

1.1.2.5 Tính phổ quát về góc độ tri nhận của con người phản chiếu qua loại từ

Trang 8

Các tham số ngữ nghĩa của loại từ phản ánh cách tri nhận thế giới của các cộng đồng người trên thế giới

1.1.2.6 Phổ quát về nguồn gốc của loại từ

a Loại từ có nguồn gốc từ danh từ

b Loại từ có nguồn gốc từ động từ

c Sự thay đổi nghĩa khi danh từ, động từ chuyển thành loại từ

1.4 Sự phân bố loại từ số trong các ngôn ngữ trên thế giới

1.2 Loại từ trong các ngôn ngữ trên thế giới

1.2.1 Loại từ trong các ngôn ngữ Châu Âu

1.2.2 Loại từ trong các ngôn ngữ châu Phi, châu Mĩ

1.2.3 Loại từ trong các ngôn ngữ châu Á và Đông Nam Á

1.2.3.1 Sự tồn tại loại từ trong hầu hết các ngôn ngữ Châu Á

1.2.3.2 Đặc điểm hình thái của loại từ trong các ngôn ngữ Châu Á

1.2.3.3 Cấu trúc có chứa loại từ trong các ngôn ngữ Châu Á

1.2.3.4 Số lượng và nguồn gốc loại từ trong các ngôn ngữ Châu Á

1.3 Khái quát về loại từ tiếng Việt

1.3.1 Các quan niệm về loại từ trong tiếng Việt

Từ những sự phức tạp trên về khái niệm, về ý nghĩa cũng như là chức năng, đồng thời cũng có những ảnh hưởng nhất định từ phía Hán học, trên đại thể có thể nhận thấy hai khuynh hướng nghiên cứu loại từ tiếng Việt như sau:

1.3.1.1 Khuynh hướng tách loại từ ra khỏi phạm trù danh từ, xem loại từ như một

từ loại riêng

1.3.1.2 Khuynh hướng xem loại từ thuộc phạm trù từ loại danh từ, coi chúng là một nhóm từ khá đặc biệt trong từ loại danh từ

1.3.2 Quan niệm của luận án về loại từ trong tiếng Việt

Từ những nghiên cứu về loại từ trên thế giới, những phổ quát về đặc điểm của loại

từ, chiếu theo các đặc điểm trong tiếng Việt, chúng tôi khẳng định trong tiếng Việt có loại từ

Loại từ trong tiếng Việt là các hình vị độc lập, có vị trí cố định trong danh ngữ, có nội dung nghĩa phong phú

Tiểu kết:

- Từ ý kiến của các nhà ngôn ngữ học đi trước và những ngữ liệu mà luận án thu thập được, có thể kết luận rằng hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới đều có loại từ nhưng trong một số ngôn ngữ sự thể hiện của loại từ điển hình hơn một số ngôn ngữ khác Do vậy, các ngôn ngữ có loại từ điển hình hơn, phong phú hơn có thể gọi là các ngôn ngữ

có loại từ (classifier languages) đối lập với các ngôn ngữ không có loại từ (non- classifier languages)

- Loại từ trong các ngôn ngữ từ Châu Á đến Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ đều đã được phát hiện và nghiên cứu tương đối đầy đủ từ chức năng của loại từ cho đến các tham tố nghĩa Các nhà ngôn ngữ không chỉ nghiên cứu loại từ trong các ngôn ngữ riêng

lẻ mà các công trình nghiên cứu đối chiếu loại từ trong các ngôn ngữ xa lạ cũng đã được

Trang 9

tiến hành trên một diện rộng Từ đó các phổ quát của loại từ trên thế giới cũng đã được phát hiện Thậm chí, các nhà ngôn ngữ học đã tiến hành phân loại các ngôn ngữ trên thế giới ra thành các loại hình ngôn ngữ dựa trên cơ sở loại từ

- Trong tiếng Việt loại từ cũng đã được nghiên cứu khá kỹ Các nhà nghiên cứu Việt ngữ thường đặt ra hai vấn đề liên quan đến loại từ: thứ nhất là bản chất và đặc trưng của chúng; thứ hai là vai trò và công dụng của chúng Có hai khuynh hướng nghiên cứu loại từ trong tiếng Việt: 1-Khuynh hướng tách loại từ ra khỏi phạm trù danh

từ, xem loại từ như một từ loại riêng; 2- Khuynh hướng xem loại từ thuộc phạm trù từ loại danh từ

Chương II KHẢO SÁT LOẠI TỪ TIẾNG VIỆT

2.1 Nhận diện loại từ tiếng Việt

2.1.1 Tiêu chí nhận diện loại từ

1) Loại từ là các từ chỉ đơn vị tự nhiên (từng sự vật được tri nhận một cách tự nhiên do nhu cầu muốn đánh dấu sự vật mà không cần đo lường hay tính toán), có khả năng phân lập sự vật thành những đơn thể (đơn vị) có thể đếm được, không kết hợp được với “một loại”, “một hạng”

2) Là các đơn vị có khả năng đo lường sự vật một cách ước lượng, chỉ ra hình thức chia cắt sự vật theo quan điểm, cách hình dung của người bản ngữ

3) Trong danh ngữ loại từ luôn trực tiếp đứng sau số từ và đứng trước danh từ chỉ người, chỉ động thực vật, đồ đạc, hiện tượng tự nhiên và có thể đứng trước danh từ trừu tượng hoặc đứng trước động từ hành động, tính từ chỉ tính chất, trạng thái, cảm xúc, giữa chúng không thể chêm xen vào bất cứ từ nào, nếu giữa chúng có thể xen, chêm

một từ chỉ loại hoặc một từ nào khác (trừ yếu tố cái chỉ xuất, nhấn mạnh) thì đó không

phải là loại từ

4) Loại từ là các đơn vị có nghĩa hoặc có khả năng danh hóa vị từ mà nó kết hợp

- Trường hợp có nghĩa được chia ra làm 2 loại: a) Loại từ đã bị hư hóa về nghĩa, hoặc có nghĩa độc lập không liên quan đến danh từ gốc; b) Loại từ vẫn còn giữ lại một

số nghĩa của danh từ

5) Có khả năng đứng làm thành phần của mệnh đề, của câu nếu được chuẩn bị

trước ngữ cảnh

2.1.2 Danh sách loại từ tiếng Việt

Danh sách loại từ mà chúng tôi đưa ra ở đây là danh sách mở, chúng chưa phải là toàn bộ loại từ tiếng Việt, bởi lẽ trong quá trình khảo sát chúng tôi có thể bỏ sót một số đơn vị Danh sách này được lập trên cơ sở 5 tiêu chí mà chúng tôi đưa ra ở trên và được xét trên tinh thần lý thuyết điển mẫu Thực tế, để có được danh sách này chúng tôi đã tiến hành theo 2 bước:

Bước 1- Đưa tất cả các từ, hình vị thu thập được trong quá trình làm tư liệu có vị trí đứng trước danh từ và đứng sau số từ mà chúng tôi nghi ngờ đó là loại từ hoặc gần giống loại từ vào danh sách và lần lượt xét theo 5 tiêu chí

Trang 10

Bước 2: Các từ/ hình vị đáp ứng được từ 3 tiêu chí trở lên được chúng tôi giữ lại

và gọi chúng là loại từ, còn những đơn vị đáp ứng được 1, 2 tiêu chí chúng tôi đưa ra khỏi danh sách và không gọi chúng là loại từ

Qua các bước làm việc như vậy chúng tôi đã thu thập được một danh sách loại từ với 219 đơn vị

2.2 Đặc điểm loại từ tiếng Việt

2.2.1 Đặc điểm ngữ pháp

1 Loại từ không nhận được chức vụ thành phần câu một cách độc lập

2 Loại từ một mình không làm được thành phần câu Song, nếu được ngữ cảnh chuẩn

bị nó có thể thực hiện được cả 4 chức năng chính của danh từ

Về chức vụ cú pháp, chúng cũng có đầy đủ khả năng làm chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ …

Theo các nhà Việt ngữ học thì loại từ trong tiếng Việt được biểu hiện bằng các hình thức ngữ pháp sau:

1 Thường không độc lập làm danh ngữ

2 Có khả năng kết hợp với số từ

3 Có khả năng kết hợp với từ ngữ chỉ xuất

4 Có khả năng mang mọi loại định ngữ

5 Độ đặc loãng, thể chất 11 Biểu thị sắc thái tình cảm của người nói

2.3 Các kiểu loại từ trong tiếng Việt

Luận án chia loại từ tiếng Việt thành 4 kiểu (việc phân chia các kiểu loại từ ở đây

chỉ có tính chất tương đối, đôi khi một loại từ có thể nằm trong hai ba nhóm)

2.3.1 Loại từ chỉ người

Đối với nhóm loại từ chỉ người có thể có nhiều cách phân loại dựa vào đặc điểm ngữ nghĩa, chức năng của loại từ Dựa vào chức năng, có thể chia loại từ thành loại từ chuyên dụng và loại từ lâm thời Loại từ chỉ người chuyên dụng có thể kể đến các đơn vị

như: thằng, đứa, con, tên, kẻ, vị, đấng…, loại từ lâm thời chỉ người là các đơn vị có nguồn

gốc từ danh từ chỉ quan hệ họ hàng

Trang 11

Từ việc phõn tớch cặn kẽ nghĩa của từng loại từ chỳng tụi nhận thấy mỗi loại từ chỉ người thường mang trong mỡnh một hoặc một vài cỏc tham tố ngữ nghĩa sau đõy: cỏ thể/

tập hợp, tụn trọng/ coi thường, quan hệ than/ sơ, già/ trẻ, nam/ nữ, lịch sự/ khụng lịch sự

2.3.2 Loại từ chỉ động vật

Khụng tớnh đến loại từ chỉ người trong cỏc cõu chuyện cổ tớch, dõn gian được

nhõn cỏch húa để chỉ cỏc loài động vật như bỏc gấu, chị ong thỡ loại từ chỉ động vật trong tiếng Việt bao gồm cỏc từ như : con, bầy, đàn…và cú cỏc tham tố ngữ nghĩa sau:

cỏ thể/ tập hợp, khỏi quỏt/ cụ thể, động/ tĩnh

2.3.3 Loại từ chỉ thực vật

Nhúm loại từ này cho chỳng ta một ý niệm về cõy cối, thực vật Núi đến bụng là chỳng ta nghĩ ngay đến hoa; núi tới bụi là chỳng ta nghĩ ngay tới những cõy nhỏ mọc gần nhau; hay núi tới khúm, lượm là chỳng ta lại nghĩ tới hoa, lỳa…v.v Cú thể

núi rằng nhúm loại từ chỉ thực vật thường cú cỏc tham tố nghĩa sau: cỏ thể/ tập hợp, hỡnh dỏng, đơn vị đo lường ước lượng

2.3.4 Loại từ chỉ đồ vật, hiện tượng tự nhiờn

Nhúm loại từ này rất phong phỳ, đa dạng về nghĩa biểu hiện Cỏch sử dụng loại từ

ở đõy chủ yếu dựa vào cỏc cơ sở phõn chia ngữ nghĩa của loại từ Cỏc tham tố nghĩa thường thấy trong nhúm loại từ chỉ đồ vật, hiện tượng tự nhiờn đú là hỡnh dỏng, kớch thước, số lượng, chiều hay một vài đặc điểm nào đú của sự vật mà giỏc quan cú thể thu nhận được

Từ việc quan niệm loại từ cú nghĩa và loại từ quy định việc lựa chọn danh từ đứng sau nú, chỳng tụi đó dựa vào cỏc tham tố nghĩa của loại từ để chia loại từ chỉ

đồ vật, hiện tượng tự nhiờn ra thành 18 nhúm nhỏ như: nhúm loại từ chỉ cỏc hiện

tượng của thiờn nhiờn như: cơn, trận, luồng…, nhúm loại từ cú nghĩa, cứng, rắn, khú

vỡ như: viờn, cục, hũn, tảng…, nhúm loại từ biểu thị hỡnh thức tồn tại của cỏc thực thể

rắn cú hỡnh dỏng trũn hoặc lộp với độ dài nhất định: thanh, thỏi, nộn, sỳc…

- Một danh từ cú thể cú nhiều loại từ kết hợp được với nú, chẳng hạn như danh từ

nhà thỡ cú thể kết hợp với ngụi, căn, cỏi, tũa thành ngụi nhà, căn nhà, cỏi nhà, tũa nhà Và việc lựa chọn loại từ nào là dựa vào nghĩa, hay núi cỏch khỏc là dựa vào đặc tớnh nổi trội của vật thể (danh từ) đang được núi đến Do vậy, cú thể núi một danh từ có thể đ-ợc sử dụng với các loại từ khác nhau nh-ng có sự thay đổi nghĩa

- Việc một danh từ cú thể được sử dụng với một số loại từ khỏc nhau khụng chỉ

phụ thuộc vào nghĩa mà đụi khi cũn liờn quan đến phong cỏch văn bản, mục đớch của người viết

Trang 12

- Về mặt cấu trúc trong một danh ngữ chỉ có thể có một loại từ xuất hiện

- Danh sách loại từ ở đây cũng là một danh sách mở, bất cứ đơn vị nào đáp ứng được các tiêu chí của luận án đều được coi là loại từ

- Loại từ tiếng Việt luôn luôn có sự liên hệ với các đặc điểm hữu cố của danh từ

như chỉ động vật, thực vật, con người Loại từ tập trung vào các khía cạnh ngữ nghĩa

như hình thể, kích thước, cấu tạo, sắc thái tình cảm của danh từ Ngoài ra, loại từ tiếng Việt biểu thị sự phân biệt về giới

- Có 4 kiểu loại từ chính trong tiếng Việt: loại từ chỉ người, chỉ động vật, thực vật,

và loại từ chỉ đồ vật hiện tượng tự nhiên Mỗi kiểu loại từ lại được phân loại chi tiết hơn

Chương III CÁC ĐƠN VỊ TƯƠNG ỨNG VỚI LOẠI TỪ TIẾNG VIỆT TRONG TIẾNG INĐÔNÊXIA

3.1 Khái quát về loại từ trong tiếng Inđônêxia

3.1.1 Khái niệm loại từ trong tiếng Inđônêxia

3.1.1.1 Các quan niệm về loại từ tiếng Inđônêxia

Có nhiều quan niệm khác nhau về loại từ tiếng Inđônêxia nhưng tựu chung lại, loại

từ là các từ dùng để phân loại các thực thể trong thế giới hiện thực khách quan theo các đặc điểm về chức năng, các đặc điểm vật lý nổi trội hoặc theo các quan hệ xã hội Một trong những đặc điểm chính của loại từ là luôn luôn xuất hiện bên cạnh số từ (hoặc lượng từ) (Goddard, 2005)

3.1.1.2 Quan điểm của tác giả luận án

Loại từ tiếng Inđônêxia là một đơn vị từ độc lập

3.1.2 Nhận diện loại từ tiếng Inđônêxia

3.1.2.1 Tiêu chí nhận diện loại từ

Xác định đặc điểm từ loại tiếng Inđônêxia, chúng tôi cũng dựa vào những phương diện: ý nghĩa khái quát của từ, khả năng tổ hợp của từ, khả năng tham gia cấu tạo ngữ, khả năng của từ trong việc đứng làm thành phần của mệnh đề, của câu

Về mặt ý nghĩa, loại từ là tất cả những từ khi kết kết hợp với danh từ sau nó thì bổ

sung ý nghĩa cho danh từ, đó là một trong các nghĩa sau: động vật/ bất động vật, chỉ người, giới tính, tuổi tác, địa vị, cấp bậc xã hội, chất liệu, hình dáng, độ đặc loãng, thể chất, kích cỡ, công dụng, cá thể, số lượng, ước lượng, biểu thị sắc thái tình cảm của người nói

Về mặt kết hợp (khả năng tổ hợp từ, khả năng tham gia cấu tạo ngữ), loại từ là tất

cả các đơn vị, các từ đứng ở vị trí trước danh từ trung tâm và sau số từ (hoặc lượng từ) trong cấu trúc danh ngữ điển hình ST + LT + DT hoặc đứng sau danh từ trung tâm và trước số từ trong cấu trúc DT + ST + LT Nó có thể có các biến thể sau:

1- Vị trí 3 + loại từ: Semua ekor

2- Vị trí 2 + loại từ: dua ekor (hai con)

Trang 13

3- Vị trí 2 + Loại từ + trung tâm: dua ekor kudi (hai con ngựa)

4- Loại từ + vị trí 1’: ekor hitam (con đen)

5- Loại từ + vị trí 2’: ekor itu (con ấy)

6- Vị trí 3+ 2+ loại từ + trung tâm + 1’ + 2’: semua ekor kudi (yang)hitam itu (Tất

cả những con ngựa màu đen ấy.)

Về khả năng của từ trong việc đứng làm thành phần câu, mệnh đề, loại từ là những

đơn vị khi đã được chuẩn bị về ngữ cảnh thì đều có đủ các chức năng như một danh từ: làm chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, trạng ngữ…

3.1.2.2 Các kiểu loại từ trong tiếng Inđônêxia

Theo những thống kê và phân loại tư liệu mà chúng tôi có được, chúng tôi chia loại từ tiếng Inđônêxia thành 4 kiểu như sau:

1 Loại từ chung: orang (chỉ người), ekor (chỉ động vật), buah (sử dụng với các sự

vật hiện tượng không phải là người cũng không phải động vật)

2 Loại từ chỉ hình dáng: lembar, butir, batang, helai, utas…

2 Loại từ chỉ đồ chứa đựng: gelas, karung, botol, kaleng…

3 Loại từ ước lượng (ước lượng tập thể, ước lượng bộ phận): timbun: gugus, gumpal…

3.1.3 Phân biệt loại từ với các từ loại khác

3.1.3.1 Loại từ với từ chỉ đơn vị đo lường

3.1.3.2 Loại từ với danh từ

3.1.3.3 Loại từ với đại từ nhân xưng

3.2 Đặc điểm ngữ pháp của loại từ tiếng Inđônêxia

3.2.1 Đặc điểm hình thái

3.2.1.1 Về mặt hình thái

Loại từ trong tiếng Inđônêxia là các hình vị độc lập, không có kiểu loại từ phụ tố

và cũng không kết hợp với bất cứ phụ tố nào, ngoại trừ trường hợp kết hợp với se- (satu) (một) Trong trường hợp này loại từ giống như một hậu tố gắn kết với số từ

“một”

3.2.1.2 Về phương diện ngữ âm, có các trường hợp sau:

a) Loại từ một âm tiết, như pak (gói, bao), box (hộp, hòm)…

b) Loại từ hai âm tiết, đây là trường hợp chiếm đa số trong hệ thống loại từ tiếng

Inđônêxia, ví dụ như: bakul (rổ, thúng), botol (chai), genggam (nắm), piring (đĩa), sendok (thìa), truk (toa), bulir (bông, đoá)…

c) Loại từ ba âm tiết, trường hợp này không có nhiều trong tiếng Inđônêxia, keranjang

Trang 14

trước, trung tâm, và thành tố phụ sau Loại từ tiếng Inđônêxia là các đơn vị có vị trí xác định trong danh ngữ, nó có thể là đơn vị bắt buộc hay không bắt buộc trong khi nói, nhưng rõ ràng, nếu muốn sử dụng chúng, thì loại từ tiếng Inđônêxia luôn có vị trí đứng sau số từ và đứng trước danh từ (ST + LT + DT), hoặc vị trí sau danh từ và sau số từ (DT + ST + LT)

3.2.3 Chức vụ cú pháp trong câu

Về mặt chức năng, loại từ tiếng Inđônêxia có thể có nhiều chức năng cú pháp trong câu Khi kết hợp với danh từ, loại từ cùng với danh từ có thể có chức năng quan trọng nhất của danh từ là làm chủ ngữ, bổ ngữ và làm vị ngữ

3.3 Đặc điểm ngữ nghĩa của loại từ tiếng Inđônêxia:

Loại từ trong tiếng Inđônêxia là các đơn vị có nghĩa Phạm vi ngữ nghĩa của loại từ thường biểu thị ý nghĩa về động vật/ bất động vật, về hình dáng, kích thước, số lượng, đo lường, tính toán danh từ đi sau nó hoặc có sự phân biệt về giống, sự phân chia địa vị xã hội đối với người đang được nói đến

Các tham số ngữ nghĩa trong tiếng Inđônêxia: Giới tính, hình dáng, chiều và phương hướng, tính nội vật, kích cỡ, độ bền vững, thể chất hoặc trạng thái, chất liệu, định lượng

3.4 Tiểu kết:

Qua quá trình nghiên cứu chúng tôi khẳng định: tiếng Inđônêxia có tồn tại loại từ,

chúng được gọi là Klasifikator hoặc penolong bilanga

- Loại từ chỉ đơn vị đo lường khác với loại từ chỉ đơn vị tự nhiên về nghĩa Bởi lẽ việc lựa chọn loại từ đo lường là thường được xác định bởi trạng thái tạm thời của vật thể (số lượng hoặc sự sắp xếp), còn loại từ chỉ đơn vị tự nhiên thì dựa vào các đặc điểm hữu cố của bản thân sự vật Chúng tôi coi các từ chỉ đơn vị đo lường quy ước không thuộc vào nhóm loại từ, bởi lẽ về mặt nghĩa, chúng chỉ thuần túy là các đơn vị tính đếm

của sự vật, trong khi đó chúng tôi lại xếp các đơn vị đo lường ước lượng như bakul: rổ, thúng; botol: chai; genggam: nắm; timbun: chồng, đống… vào một tiểu loại nhỏ của

loại từ Sở dĩ mà chúng tôi có quan điểm như vậy vì hai lý do: 1- Về đặc điểm kết hợp

và chức vụ cú pháp loại từ và từ chỉ đơn vị này giống như nhau 2- Các đơn vị này là những đơn vị có nghĩa, và thậm chí chúng còn đầy nghĩa hơn những loại từ chân thực

(kiểu như: ekor, buah…) Những đơn vị này có hai kiểu nghĩa: a- Chỉ sự vật xuất hiện theo số lượng nhiều (ví dụ: dua keranjang kentang - hai rổ khoai, kawanan ternak - một

bầy gia súc); b- Bao hàm một trong các nghĩa mà loại từ thường có: hình dáng, kích cỡ,

… (ví dụ: khi nói sepiringan biskuit - một đĩa bánh – người nói và người nghe ngoài

việc hình dung ra danh từ đi sau tồn tại theo dạng số nhiều, còn biết được nghĩa phân

biệt nó với những sự vật không phải là chất lỏng (phân biệt với tetes: giọt), không phải

là những vật động, có thể di chuyển được (phân biệt với jenis: bầy, đàn)… Việc một

nhóm từ trong đơn vị từ loại nào đó khác nghĩa với các nhóm khác là điều đương nhiên Khi chúng ta có thể chấp nhận danh từ được chia ra làm nhiều loại: danh từ khối và danh từ đơn vị thì không có lý do gì mà không chấp nhận loại từ được chia ra thành 2 loại: loại từ chỉ cá thể (chỉ đơn vị tự nhiên) và loại từ chỉ đơn vị ước lượng

Trang 15

- Việc lựa chọn loại từ nào là tùy thuộc chủ yếu vào nghĩa của loại từ, vào vị trí xã hội và khả năng của người sử dụng

- Danh sách loại từ tiếng Inđônêxia ở đây của chúng tôi là một danh sách mở Chúng có thể thay đổi tùy thuộc vào nhà nghiên cứu cũng như người sử dụng

- Không phải mỗi danh từ có một loại từ giành riêng cho nó, mà có thể một danh

từ được dùng với nhiều loại từ hoặc ngược lại Và cũng có một số danh từ không thể kết hợp được với loại từ

- Chức năng của loại từ rất đa dạng, đôi khi loại từ được sử dụng với chức năng ngữ dụng, mang những hàm ý của người nói

- Số từ hoặc lượng từ là đơn vị bắt buộc phải có mặt nếu có loại từ xuất hiện

- Loại từ cũng có thể không bắt buộc (có thể bị lược bỏ) trong một số trường hợp,

nhưng sẽ không thể lược bỏ nếu số từ đi trước nó là một (se- hoặc satu) Tuy nhiên, sự

vắng mặt của biểu thức định lượng sẽ ảnh hưởng đến nghĩa

- Loại từ trong tiếng Inđônêxia là các hình vị độc lập, không có kiểu loại từ phụ tố

và cũng không kết hợp với bất cứ phụ tố nào, ngoại trừ trường hợp kết hợp với se- (satu) (một) Trong trường hợp này loại từ giống như một hậu tố gắn kết với số từ

“một”

Chương IV ĐỐI DỊCH LOẠI TỪ TIẾNG VIỆT SANG TIẾNG INĐÔNÊXIA

4.1 Tổng quan về dịch thuật

4.1.1 Khái niệm dịch, đối dịch, mối quan hệ giữa dịch thuật và ngôn ngữ đối chiếu

Khái niệm đối dịch được hiểu là đối chiếu và dịch thuật

Đối chiếu để tìm ra các nét tương đồng, khác biệt, trên cơ sở đó tiến hành dịch thuật Dịch trong luận án là dịch trên cơ sở đối chiếu nghiêm ngặt, sử dụng một cách triệt để kết quả nghiên cứu đối chiếu vào dịch loại từ trong hai ngôn ngữ

4.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc dịch

- Nhân tố từ vựng

- Nhân tố ngữ pháp

4.1.3 Các bình diện tương đương trong dịch thuật

Tương đương dịch thuật thường căn cứ trên bốn bình diện:

4.1.4 Các phương thức dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia

Theo lý thuyết dịch thì việc dịch từ ngữ nguồn sang ngữ đích ở góc độ từ thường xảy ra ba khả năng:

a) Tương đương hoàn toàn: A = B

Trang 16

b) Tương đương bộ phận: A x B, A < B, A > B

Với việc xác định đối tượng dịch của chúng tôi trong luận án là các đơn vị từ của một loại từ loại, chúng tôi sử dụng các thủ pháp: trực dịch, phân tích nghĩa tố, dùng từ đồng nghĩa, mở rộng hoặc thu hẹp nghĩa của từ, hay thế tương đương văn hóa

Việc xác định đơn vị tương đương giữa loại từ tiếng Việt và tiếng Inđônêxia được tiến hành theo hai bước: 1- Phân tích nghĩa của loại từ trong hai ngôn ngữ, tìm thấy những điểm tương đồng và khác biệt trong mỗi loại từ của cả hai ngôn ngữ 2- Tìm đơn

vị tương đương hoặc không tương đương

4.2 Những tương đồng và khác biệt giữa loại từ tiếng Việt và loại từ tiếng Inđônêxia

4.2.1 Đối chiếu loại từ tiếng Việt với tiếng Inđônêxia theo định hướng dịch thuật

Có thể nói, loại từ của tiếng Việt và tiếng Inđônêxia có những điểm khác nhau cơ bản, bởi lẽ, chúng thuộc về hai ngôn ngữ khác nhau về loại hình, về đặc điểm ngôn ngữ, nhưng, trên phương diện nhận thức về bản chất thế nào gọi là loại từ, chúng tôi thống nhất, loại từ là những đơn vị như sau (áp dụng cho cả hai ngôn ngữ):

- Loại từ là các đơn vị có nghĩa

- Loại từ trong tiếng Việt và tiếng Inđônêxia đều có cấu trúc điển hình là nằm trong danh ngữ, luôn có vị trí đứng sau số từ và đứng trước danh từ (ST + LT + DT), hoặc vị trí sau danh từ và sau số từ (DT + ST + LT)

- Về chức năng cú pháp trong câu, loại từ tiếng Việt và tiếng Inđônêxia có thể đứng làm chủ ngữ, bổ ngữ… trong các ngữ cảnh đã được chuẩn bị

- Có khả năng kết hợp với từ ngữ chỉ xuất

- Có khả năng mang mọi loại định ngữ

4.2.1.2 Tương đồng về chức năng cú pháp trong câu

Loại từ tiếng Việt và tiếng Inđônêxia đều không nhận được chức vụ thành phần câu một cách độc lập Nó chỉ có thể đảm nhiệm các chức năng giống như danh từ khi được chuẩn bị trước bởi ngữ cảnh Trong trường hợp này, loại từ sẽ làm được cả 4 chức năng chính của danh từ

Như vậy, có thể thấy một nguyên tắc tuyệt đối của loại từ với danh từ tiếng Việt và tiếng Inđônêxia, đó là giữa loại từ và danh từ không thể xen bất cứ một từ nào khác

4.2.1.3 Tương đồng về ngữ nghĩa

Một số nghĩa trong cả hai ngôn ngữ, đó là:

Trang 17

- Ý nghĩa chỉ loại của sự vật: phân loại sự vật hiện tượng theo tham tố nghĩa nào: phương hướng, kích cỡ hay hình dáng…

- Ý nghĩa chỉ đơn vị tự nhiên: đơn vị ở đây là có tính chất ước lượng

- Ý nghĩa chỉ sự đánh giá của người nói: liên quan đến phong cách và dụng ý của người nói; thể hiện thái độ (tôn trọng, coi thường, quý mến…)

4.2.2 Những khác biệt giữa loại từ tiếng Việt và tiếng Inđônêxia

4.2.2.1 Khác biệt về mặt hình thái

- Loại từ trong tiếng Việt không có kiểu loại từ có hơn 1 âm tiết

- Tiếng Inđônêxia, một ngôn ngữ đa tiết chắp dính, có số lượng loại từ có hơn 1

âm tiết rất nhiều, nhiều nhất là kiểu loại từ có hai âm tiết, thậm chí còn có loại từ có 3

âm tiết

4.2.2.2 Khác biệt về khả năng kết hợp

- Danh từ có thể đứng trước đại từ chỉ định ini (này), itu (kia, ấy, đó), trong khi đó,

danh từ trong tiếng Việt không thể kết hợp với đại từ chỉ định mà không có sự xuất hiện

của loại từ Hoặc nếu có kết hợp danh từ + đại từ chỉ định như dao này rất sắc thì lúc đó

ý của người nói không phải là chỉ một con dao cụ thể mà đang nói đến chủng loại dao

- Danh từ có thể trực tiếp đi sau số từ như satu (một), dua (hai), tiga (ba)… hoặc là một lượng từ semua (tất cả), banyak (nhiều) Điều này không có trong tiếng Việt

- Có thể có đại từ quan hệ yang đứng sau cụm số từ + loại từ (có thể coi như cái với chức năng nhấn mạnh trong tiếng Việt), tuy nhiên vị trí của yang đứng sau loại từ và trước danh từ chính, còn vị trí của cái trong tiếng Việt lại đứng trước loại từ

4.1.2.3 Khác biệt về chức vụ cú pháp trong câu

Loại từ tiếng Inđônêxia có thể bị lược bỏ trong câu nói mà không ảnh hưởng đến

cú pháp của câu, còn nghĩa của cả danh ngữ, nếu không có loại từ đi kèm các nghĩa nổi trội của danh từ sẽ mất đi, hay nói cách khác là nét nghĩa về hình dáng, kích thước… không còn tồn tại bổ sung cho danh từ mà người nói tri nhận thực thể khách quan với toàn bộ nghĩa mà danh từ biểu thị, không có nghĩa nào nổi trội hơn nghĩa nào

4.1.2.4 Khác biệt về ngữ nghĩa

- Loại từ chỉ người trong tiếng Inđônêxia ít hơn so với tiếng Việt

- Không hề có sự giống nhau 100% giữa các loại từ của hai ngôn ngữ với nhau Các tham tố nghĩa của loại từ trong hai ngôn ngữ là giống nhau, nhưng nội hàm nghĩa của mỗi loại từ lại khác nhau

4.3 Đối dịch loại từ tiếng Việt sang tiếng Inđônêxia

4.3.1 Dịch tương đương hoàn toàn (A=B)

Trường hợp loại từ tiếng Việt tương đương hoàn toàn với loại từ tiếng Inđônêxia

nhiều nhất là nằm ở nhóm loại từ chung trong tiếng Việt và tiếng Inđônêxia

4.3.2 Dịch tương đương bộ phận (A<B, A>B)

a) Nhóm loại từ chỉ đồ vật

b)Nhóm loại từ chỉ động thực vật

c) Nhóm loại từ chỉ hiện tượng tự nhiên

d) Nhóm loại từ chỉ người

Ngày đăng: 17/01/2014, 14:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w